Phan Thị Ngôn Ngữ – nhà thơ xuất thân từ trường Nữ Trung Học Nha Trang

Published / by Phạm Tín An Ninh / Leave a Comment

 

 

Phạm Tín An Ninh

(góp nhặt)

Từ bốn câu thơ trên trang bìa sau của Đặc San Hội Ngộ Liên Trường Võ Tánh & Nữ Trung Học Nha Trang năm 2004 tại San Jose, lần đầu tiên người viết được biết Phan Thị Ngôn Ngữ, một nhà thơ xuất thân từ trường Nữ Trung Học Nha Trang đang được rất nhiều độc giả khắp nơi ái mộ:

Mùa hạ ơi đừng đi vội
Để ta về góc sân xưa
Nhón chân hái nhành phượng đỏ
Giấu trong trang sách hẹn hò

Phan Thị Ngôn Ngữ làm rất nhiều thơ – và làm dễ dàng như đưa tay hái một cánh hoa dại bên đường hoặc cúi xuống nhặt một vỏ ốc, một hòn sỏi trên bờ biển cát – Với chị, thơ như là hơi thở. Đọc thơ chị, dù chỉ một vài câu, ta cũng đủ thấy lòng lâng lâng man mác, cảm giác rất gần gũi thân quen. Từng câu thơ như con đò êm đềm đưa ta trở về những bờ bến cũ, những hang động tuổi thơ, nơi đã cho ta biết bao kỷ niệm dễ thương của cả một thời ấu thơ, lớn lên, yêu đương… rồi giã biệt:


miền cố lý

Đâu Hòn Chồng sóng xô ghềnh đá trải
Một thủa hẹn hò rồi mãi chia xa
Lời nguyền xưa bên cạnh Tháp Bà,
Tan với sóng Cù Lao ra cửa biển
Nắng Đồng Đế chân ai còn thao diễn
Chiều Bãi Tiên núi xõa tóc đợi chờ

Đâu những con đường áo trăng nên thơ
Nữ trung Học – Thánh Tâm giờ tan lớp
Vang tiếng em cười sau vành nón rợp
Chao nắng sân trường Võ Tánh – Bá Ninh
Đời học sinh lãng đãng những bóng hình
Theo vết mực nhạt nhòa trên trang vở

Đâu Cầu Đá thuyền đi về bợ ngợ
Bến đâu rồi thuyền nhớ gió ngàn khơi
Thoảng chuông chùa Hải Đức nhẹ buông rơi
Trong sương sớm qua đỉnh đồi Trại Thủy
Chuông gọi hồn ai từ miền cố lý
Chuông giáo đường nhà thờ núi vang vang

Đâu mùa đông qua trên những cánh bàng
Chiếc lá đỏ như mắt người mong đợi
Hạ ngập ngừng bên những tàn sen rối
Tiếc mùa xuân biển gọi – lỡ con tàu
Mùa thu nào quên nỗi nhớ nhau

 

nha trang – bữa ta về

Bữa ta về – mấy con đường nắng rộ
Một tháp Hời xiêu đổ đứng nghe mưa
Dăm cột đèn ngơ ngác giữa phố xưa
Nghiêng bóng rọi từng mặt người xa lạ

Bữa ta về – sân ga chiều vội vã
Tiễn đưa ai bịn rịn những con tàu
Kẻ đến người đi chẳng biết về đâu
Giọt nước mắt trên môi cười lạc lõng

Bữa ta về – hiên chùa cao nắng đọng
Màu áo xưa đã phai nhạt theo mùa
Vẳng tiếng chuông buồn lần lữa sớm trưa
Lá trúc rụng quanh bậc thềm rêu phủ

Bữa ta về -nghiêng xiêu bờ giậu cũ
Trời Nha Trang ai khóc để sương mù
Biển vẫn thầm thì như một lời ru
Sao sóng vỗ trong lòng người trở lại

(more…)

trang bạn hữu – thơ phan thị ngôn ngữ

Published / by Phạm Tín An Ninh / Leave a Comment

 

Cõi Mẹ

Con về đứng lặng bên bờ giậu
Màu áo nâu non – bóng mẹ già
Đã bạc bao mùa mưa nắng trải
Lưng còng năm tháng mãi lo toan

Con về trăn trở trưa giấc vắng
Nghe tiếng gà tre gáy não lòng
Chợt thấy một thời thơ ấu cũ
Ngả dài theo bóng nắng đầu sân

Nhớ bàn chân chập chững đầu đời
Mẹ mừng vui xếp lại tao nôi
Cầm tay lần bước con theo mẹ
Vườn nắng – tàu cau ngửa mặt cười

Ngày ấy nhà khuya nhịp võng đưa
Ru hời mẹ hát mỗi đêm mưa
Câu ca dao nước phèn đất mặn
Nuôi lớn đời con khổ bao vừa…

Từ ấy con mang khắp nẻo đường
Lập lòe một đóm lửa quê hương
Thắp từ tim mẹ – từ tâm mẹ
Ấm mãi đời con cõi yêu thương

Phan Thị Ngôn Ngữ

 

 

 

 

Bá Hòa

Published / by Phạm Tín An Ninh / Leave a Comment

 

 (Riêng tặng Bá Hòa  NVX)
Phạm Tín An Ninh

     Trên chiến trường, hầu hết các cấp chỉ huy đều có một danh hiệu truyền tin riêng. Hoặc tự chọn hoặc do phòng (ban) Truyền Tin cung cấp. Tất nhiên ai cũng muốn danh hiệu của mình phải có một ý nghĩa đặc biệt nào đó. Có vị thích lấy tên một danh tướng trong lịch sử dân tộc: Ngô Quyền, Quang Trung, Lê Lợi…Có vị lấy tên địa danh nơi mình sinh ra:  Nam Định, Ý Yên, Cần Thơ, Ninh Kiều, Nha Trang, Đồ Sơn, Đà Lạt… Có vị lấy tên một con sông hay một ngọn núi hùng vĩ: Bạch Đằng, Hồng Hà, Hạ Long, Sầm Sơn,Yên Tử… Cũng có vị lại thích tên một cô ca sĩ (dù không chắc đã ái mộ): Thanh Nga, Thanh Tuyền, Thanh Lan, Thanh Thúy, Phương Dung… Và cũng có vị chọn một danh hiệu, trong đó có cái tên thật (hoặc gần giống) trong khai sanh, như Nguyễn Đình Bảo: “Bảo Ngọc”, Bùi Quyền : “Tố Quyên”, Lê Minh Ngọc “Ngọc Nga”, Bùi Văn Lộc: “Đại Lộc”, Lê Văn Mễ: “Mê Linh”, Võ Mộng Thúy: “Thủy Tiên”, Trương Văn Út: “ Út Bạch Lan”…

     Riêng ông anh của bọn tôi, không biết vì sao lại chọn cái danh hiệu “Bá Hòa”. Nghe hiền khô, không oai phong và cũng chẳng văn nghệ chút nào. Vậy mà cái tên Bá Hòa này lại nằm mãi trong tâm khảm của đám bọn tôi, từ quan tới lính, và cũng từng gây khốn đốn, tai họa cho đám giặc “sinh Bắc tử Nam” của các Sư đoàn Điện Biên (còn gọi là Sư đoàn Thép), Sao Vàng, và các đơn vị khác thuộc Mặt Trận B-3 (Tây Nguyên) trong suốt một thời “Mùa Hè Đỏ Lửa”
(more…)

trang bạn hữu – thơ Cung Vĩnh Viễn

Published / by Phạm Tín An Ninh / Leave a Comment

 

Gởi bạn phương xa

Mày vẫn làm thơ được đó sao?
sáng nay mở máy check e-mail
đã toan delete như thường lệ
chợt thấy tên mày vắng đã lâu

Tưởng mày đã rửa tay phong kiếm
gác bỏ ngoài tai chuyện thị phi
viết lách cũng như là khẩu nghiệp
giang hồ ân oán để làm chi

Đọc thơ mày thấy buồn tê tái
lòng già như suối cạn cằn khô
sỏi đá lấy đâu ra nước mắt
khóc đời hữu hạn trước hư vô

Như tiếng kêu thương cuối cuộc đời
mày đem san sẻ những buồn vui
lời thơ cảm lắm nhưng mà cũng
chua chát bao nhiêu những tiếng cười

Bức tranh vân cẩu muôn đời ấy
biếm họa thêm thì cũng thế thôi
chữ nghĩa có hồn và tạo nghiệp
cầm bằng theo gió cuốn mây trôi

Thơ mày cũng nhắc xuân rồi tết
hỏi rằng xứ lạnh có gì vui
cứ hỏi lòng mày thì cũng biết
đâu có cần tao phải trả lời.

Cung Vĩnh Viễn

Biệt Hải – những anh hùng bị lãng quên

Published / by Phạm Tín An Ninh / Leave a Comment

                                        (Huy hiệu lực lượng Biệt Hải QLVNCH)                                       

        Qua giới thiệu của người bạn tù, nguyên là một sĩ quan thâm niên thuộc Nha Kỷ Thuật, tôi biết được Biệt Hải Nguyễn Châu. Người từng được tuyển chọn là chiến sĩ xuất sắc của Sở Phòng Vệ Duyên Hải (trực thuộc Nha Kỷ Thuật BTTM). Chỉ nghe qua đôi điều về anh cũng đủ làm cho tôi ngưỡng mộ và tò mò muốn được gặp anh, để được nghe anh kể về quãng đời chiến đấu trong âm thầm, nhưng rất hào hùng của những chiến sĩ Biệt Hải. Một lực lượng ít người biết đến, mặc dù họ đã từng  bao lần vào sinh ra tử, mỗi lần ra đi đều không hẹn trở về. Họ chiến đấu can trường, dũng cảm không thua kém bất cứ một binh chủng thiện chiến nào của QLVNCH và kể cả trên thế giới, cho dù với những cấp bậc rất khiêm nhường.

(more…)

trang bạn hữu – Dương Kiền và các bạn Nguyễn Trãi Hà Nội

Published / by Phạm Tín An Ninh / Leave a Comment

 

 

Hoàng Huyên

Tôi hồi Tề vào cuối năm 1951 và đầu hè năm 1952 thì thi Tiểu Học. Đề thi Việt văn năm đó là bình luận câu ca dao: Ăn vóc học hay. Tôi đoán Vóc là một loại trái cây bổ não, định bụng kỳ này về là ăn vóc thay cơm để đền ơn Bố Mẹ sinh thành dưỡng dục. Sau Bố tôi cho biết nghĩa là: Ăn cho có sức vóc thì mới đủ sức học cho hay, nhưng không trách, vì Bố tôi đã dẫn gia đình đi theo”kháng chiến” vào an toàn khu tận làng Bàn Thạch, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Tôi mất 6 năm, chỉ được học “lớp Ba trường làng”. Mỗi khi có nhật thực, giáo làng lại bắt học trò lấy soong chảo ra gõ cho mặt trăng nhả mặt trời và dùng thau nước để quan sát theo dõi. Thầy như thế thì trò như vậy là đúng rồi. May mắn đề toán thuộc loại kinh điển “dễ như cơm sườn”: hai xe hơi khởi hành cùng một chỗ nhưng khác giờ và khác tốc độ, hỏi gặp nhau sau mấy giờ và cách bao xa chỗ khởi hành, thì tôi đã làm tốt. Có tên trên danh sách trúng tuyển, tôi chạy như bay về nhà, Bố tôi khuyên thi vào trường Nguyễn Trãi, nằm góc đường Lý Thường Kiệt và đường Hai Bà Trưng, lý do gần nhà.

(more…)

Trang bạn hữu – Tiễn biệt Dương Kiền

Published / by Phạm Tín An Ninh / Leave a Comment

nhà văn/luật sư Dương Kiền

(mất ngày 17.11.2015 tại Bergen- NaUy)

TIỄN DƯƠNG KIỀN

Chai rượu còn nguyên chờ ông đấy
như lời ông hẹn ở imail:
tháng sau có thể lên thăm cháu
ta lại cưa đôi giống thuở nào.

Tháng sau đợi mãi mà không thấy
hỏi ra ông đã ở nhà thương
có quái gì vui nơi chốn ấy
mà ông rách việc phí thời gian .

Ông ở nhà thương có ít ngày
mấy ông tu bíp trả về ngay
bệnh ông hết thuốc rồi ông ạ
Biển Thước Hoa Đà cũng bó tay.

Ông thản nhiên xách gói về nhà
nghe kinh,làm nốt một bài thơ
chao ơi cái Thú Đau Thương ấy
gần chết mà ông cũng chẳng chừa.

Chẳng biết là ông nghĩ ngợi chi
những giờ những phút sắp ra đi
đời ông trôi nổi bao dâu biển
những tiếng thị phi chẳng nghĩa gì.

Lãng đãng ông tiêu hết một đời
trải lòng ra với mọi người thôi
ông về cõi ấy an nhiên nhé
như bóng mây chiều êm ả trôi.

cungvĩnhviễn
24.11.2015

trang bạn hữu – thơ phan thị ngôn ngữ

Published / by Phạm Tín An Ninh / Leave a Comment

 

 

              Tuổi Thu Phai

 Thu lại về trên những lá thu phai
giọng chim hót trong vườn thưa thớt vắng
ngày vàng phai – rơi rớt vài giọt nắng
lòng chao nghiêng xô đổ những ân tình

Đưa tiễn người – ta chỉ biết lặng thinh
không gõ mạn thuyền ca bài tống biệt
không qua sông – nhưng hình như nước xiết
cuốn hồn đau dìm đến cõi khôn cùng

 Như thú lạc rừng – nỗi nhớ trên lưng
biết về đâu khi mùa tình đã hết
như côn trùng vẫy vùng giây phút chết
chẳng thể thoát ra được khỏi vũng lầy

 Thu lại về theo chút gió heo may
khan tiếng dế giữa vườn đêm tẻ nhạt
ta đứng mãi bên trời xưa đổ nát
vọng từ đời gió bạt tuổi thu phai

Phan Thị Ngôn Ngữ

 

sau cuộc biển dâu

Published / by Phạm Tín An Ninh / Leave a Comment

 

(câu chuyện từ một bộ quân phục)

Phạm Tín An Ninh

Tôi gặp và quen anh trong một trường hợp khá bất ngờ, có thể nói là hơi kỳ cục. Vợ chồng tôi đến thăm và ở lại nhà cô con gái út hai tuần. Cháu vừa mua được căn condo trong một khu nhà mới xây ở thành phố Anaheim, cách Khu Disneyland chỉ một con đường. Đêm nào, bọn tôi cũng ra balcon ngắm pháo hoa được liên tục bắn lên từ khu giải trí nổi danh này. Căn nhà nhỏ khá xinh và ở trong một khu an toàn, cô con gái út rất thích. Nhưng chỉ sau vài hôm, cứ đến một hai giờ khuya thì cả nhà phải thức giấc, bởi tiếng lục đục ở căn nhà tầng trên. Âm thanh của một vật cứng nào đó gõ xuống nền nhà. Không đều đặn, năm ba phút một lần, dù nhẹ nhưng cũng đủ làm buốt trong đầu.

Sáng hôm sau, cô con gái nhờ tôi lên nói chuyện với chủ nhà, yêu cầu chấm dứt các tiếng gõ khó chịu vào giữa khuya ấy, để chúng tôi không bị mất ngủ, đặc biệt cô con gái phải đi làm khá sớm.

Sau hai lần bấm chuông, một người đàn ông mở hé cửa, gật đầu chào. Rất may, lại là một đồng hương. Chưa nói chuyện với chủ nhà, nhưng tôi đã thoáng hiểu được nguyên nhân gây ra tiếng động. Ông ta chống hai cây nạng gỗ. Mọi bực tức trong tôi bỗng dưng biến mất, những lời “cảnh cáo” tôi dự định sẽ nghiêm mặt nói với ông cũng tan biến theo. Tôi lễ phép chào ông, bảo là tôi ở tầng dưới, muốn đến thăm và làm quen với người đồng hương láng giềng. Ông nở nụ cười, làm rạng rỡ phần nào khuôn mặt khắc khổ, đã có nhiều vết nhăn, một phần được che phủ bới mái tóc dài bạc trắng.  Ông mở rộng cửa mời tôi vào nhà. Tôi hơi khó chịu với mùi khói thuốc lá và cả mùi rượu.

      – Anh ở đây một mình? Câu đầu tiên tôi hỏi.

      – Vâng, thỉnh thoảng có cô con gái đến thăm.  Cháu ở trên Riverside, cách đây khoảng gần một giờ lái xe. (more…)

trang bạn hữu – thơ cung vĩnh viễn

Published / by Phạm Tín An Ninh / Leave a Comment

 

 

               CHÂN MÂY

 

 Với tay mà ngắt chùm mây xuống
hỏi rằng phiêu dạt có vui không
giấc mộng của ta thời trẻ dại
chắc đã làm rơi ở giữa đường ?

Nên ta đợi mãi mà không thấy
năm tháng vô tình lặng lẽ trôi
hôm qua soi bóng trong gương đấy
thấy hết hồn cho một kiếp người.

Hồn ta đã lạc từ hôm ấy
khi  gửi theo  mây ở cuối trời
áo em chẳng khác mây là mấy
chỉ tội đời  ta  lắm nổi trôi.

Mà trôi nổi tới phương nào nhỉ
đêm đêm nằm dõi ánh sao rơi
biển Bắc vọng âm con sóng vỗ
chỉ thấy lòng ta cũng rã rời.

Mong gì ở chốn xa xăm thế
những mộng hoang đường thuở thiếu niên
ngàn năm mây vẫn còn bay mãi
chẳng ai mà gặp chuyện thần tiên.

Cung Vĩnh Viễn.

người bạn học và ông thầy cũ

Published / by Phạm Tín An Ninh / Leave a Comment

Phạm Tín An Ninh

     Đơn vị tôi, dù đã tạo được những chiến thắng lẫy lừng trong suốt Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, để có một “Kontum Kiêu Hùng” và giữ vững được Tây Nguyên, nhưng có chiến thắng nào lại không phải trả giá bằng máu xương chiến sĩ. Để kịp thời đối phó với tình hình chiến tranh leo thang, ngày một khốc liệt, đơn vị cần được khẩn cấp bổ sung quân số, từ cấp đại đội trưởng cho đến khinh binh. Số lượng sĩ quan, hạ sĩ quan tốt nghiệp ở các quân trường không đủ, nên Bộ TTM phải ban hành kế hoạch “đôn quân”, đưa những quân nhân phục vụ lâu năm từ các tiểu khu, các quân trường, trung tâm huấn luyện, ra bổ sung cho các đơn vị tác chiến đang thiếu hụt quân số.

      Tháng 5-1973. Thời gian này tôi đang đảm trách một phần hành tại Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn. Trong lần đơn vị tiếp nhận một số khá đông sĩ quan và hạ sĩ quan, tôi bất ngờ nhận ra trong số những người đang xếp hàng trình diện ông Trung Đoàn Trưởng có một người bạn học khá thân và một vị giáo sư thời trung học ngày xưa. Thằng bạn mang cấp bậc đại úy – tôi đã biết từ trước, nhưng điều đặc biệt làm tôi ngạc nhiên là ông thầy chỉ mang cấp bậc trung sĩ nhất. Thoáng có một chút ngờ vực, tôi bước tới gần ông hơn để chắc chắn là trí nhớ của mình không tệ lắm. (more…)

trang bạn hữu – thơ phan thị ngôn ngữ

Published / by Phạm Tín An Ninh / Leave a Comment

 

 

          Trở Lại Nhà Xưa

Trái cau non đợi mưa tròn đôi lứa
Lá trầu không vàng nắng lửa cuối ngày
Nhà xưa giờ con đã trở lại đây
Cỏ hoang mọc xóa bàn chân thơ dại
Đâu giậu buồn phơi áo thời con gái
Đâu hiên trưa lằn than kẻ ô làng
Đâu bàn tay chuyền đánh khẻ khua vang
Đâu nhịp nhảy dây rộn ràng chái rạ
Trò cút bắt dấu giọng cười giòn dã
Lẫm lúa – mái – lu…mấy chỗ trốn tìm
Mảnh vườn sau ôm tuổi nhỏ chân chim
Vạch cỏ khô lượm trái xoài chín rụng
Chặt tàu lá chuối tơ làm tay súng
Chia hai phe lên đạn bắn tạch đùng
Đứa bị thương cõng đứa chết trên lưng
Tan trận chiến – lằn roi đau mẹ đánh
Những ngày mưa – vườn nhà trơn ướt lạnh
Từng ngọn cau đứng ủ rũ so hàng
Bếp tro tàn vùi vội củ khoai lang
Thấp thỏm đợi mẹ còn đang buổi chợ
Đôi thúng nhỏ mẹ gánh về cả phố
Cả thị thành quận huyện quê hương
Đêm nghe ễnh ương ì ộp quanh vườn
Hồn con đã mấy ngã đường rong ruổi
Trở lại nhà xưa chút buồn chút nuối
Có chút ngậm ngùi lẫn giữa thương yêu
Có chút gì nghe chừng đã liêu xiêu
Khi bóng mẹ sắp theo chiếu tắt nắng

 Phan Thị Ngôn Ngữ

Nhạc sĩ Dzũng Chinh – tác giả “Những Đồi Hoa Sim” chết trên đồi hoa sim

Published / by Phạm Tín An Ninh / 1 Comment on Nhạc sĩ Dzũng Chinh – tác giả “Những Đồi Hoa Sim” chết trên đồi hoa sim

(Đã có một vài bài viết nói về cái chết của Nhạc sĩ Dzũng Chinh, nhưng tiếc là  không chính xác.  Bài viết này nhằm mục đích làm rõ cái chết của ông, một nhạc sĩ trẻ được nhiều người biết đến qua nhạc phẩm “Những Đồi Hoa Sim”. Người viết bài này đã ở cùng một đơn vị với ông khi ông tử trận)

***

Nhạc sĩ Dzũng Chinh không có nhiều sáng tác, nhưng nhạc phẩm “Những Đồi Hoa Sim” đã làm nên tên tuổi ông. Bài hát được phổ biến trong những năm đầu thập niên 1960,  thời điểm chiến tranh Việt Nam bắt đầu khốc liệt, hàng hàng lớp lớp thanh niên miền Nam, hầu hết là những học sinh, sinh viên tạm gác bút nghiên, lên đường tòng quân bảo vệ giang sơn. Bài hát Những Đồi Hoa Sim (viết theo ý bài thơ Màu Tím Hoa Sim của Hữu Loan, một nhà thơ sống ở miền Bắc)  phổ biến rất rộng rãi và nhanh chóng được quần chúng đón nhận khá nồng nhiệt, đặc biệt trong hàng ngũ lính chiến miền Nam Việt Nam.

Nhạc sĩ Dzũng Chinh cũng là một người lính chiến thực thụ. Tên thật là Nguyễn Bá Chính, quê quán ở Bình Can -Võ Cạnh- Nha Trang (sinh ngày 18/12/1941). Trước khi theo học khóa sĩ quan đặc biệt ở Đồng Đế Nha Trang, anh là hạ sĩ quan phục vụ tại Tiểu Đoàn 2/14/ Sư Đoàn 9 Bộ Binh thuộc Vùng IV.  Cuối năm 1968, sau khi tốt nghiệp với cấp bậc Chuẩn Úy, anh chọn đơn vị Sư Đoàn 23 BB và xin được phuc vụ tại Trung Đoàn 44 (trú đóng tại Sông Mao, Phan Thiết). (more…)

trang bạn hữu – thơ cung vĩnh viễn

Published / by Phạm Tín An Ninh / Leave a Comment

 

Gửi theo  Tâm Thanh

Bạn già

Ở nơi chiếc quán bên đường ấy
bạn già hẹn ước đã từ lâu
mỗi năm cố gắng dăm ba bận
đến để mà khai bệnh với nhau.

Cũng chẳng bao giờ mà đủ mặt
người thì trông cháu kẻ đi xa
thời gian bonus đâu còn mấy
ngày qua lại tiếc một ngày qua.

Không đến nhưng mà vẫn báo tin
bệnh này thuốc nọ nói huyên thuyên
cho nên vẫn thấy như gần gũi
những kẻ ngồi chung một chiếc thuyền.

Thế mà lâu quá ông đâu mất
tin tức về ông thật chẳng vui
trong cuộc đấu tranh cùng bệnh hoạn
coi bộ như ông chỉ thụt lùi.

Tin cuối về ông đến sững sờ
ông không còn nữa buổi chiều qua
chiều qua trời nắng hay mưa nhỉ
nghĩ hoài mà chẳng thể nhớ ra.

Thôi thế từ nay không ngóng đợi
dù thấy đời như trống trải thêm
ông đi trước thế là khôn đấy
kẻ ở càng thêm chạnh nỗi niềm.

Cung Vĩnh Viễn

Tâm Thanh – thiên nga không còn giữa cõi người

Published / by Phạm Tín An Ninh / Leave a Comment

(Để tưởng nhớ Tâm Thanh, nhân giỗ 49 ngày của anh)

Phạm Tín An Ninh

Giữa tháng 7-2014, anh Nguyễn Đắc Điều, người bạn thân thiết của anh Tâm, từ San Diego, California sang Na Uy thăm anh. Có anh chị Phạm Kế Viêm -Trần Diệu Tâm tháp tùng từ Paris. Vợ chồng tôi nhận lãnh việc đưa đón khách đường xa, vì với chúng tôi, anh Điều cũng khá thân tình, xem chúng tôi như em út. Sau khi làm thủ tục nhận phòng trong khách sạn xong, tất cả chúng tôi đến thăm anh chị Tâm. Tình trạng ung thư của anh đã sang thời kỳ cuối. Mất sức qua các lần hóa trị và không ăn uống được, anh đã gầy đi nhiều, trông khá tiều tụy, mệt mỏi. Chí tình và cố gắng lắm anh mới tiếp chúng tôi, dù anh chỉ ngồi nhìn chúng tôi ăn, và nở những nụ cười. Đã khá lâu, từ ngày bệnh tình của anh trở nên trầm trọng, bạn bè rất hiếm khi được gặp hay nói chuyện với anh qua điện thoại. Ai cũng biết anh cần phải nghỉ ngơi, và tâm lý người ốm đau thường không muốn người khác, bạn bè phải nhìn mình với đôi mắt âu lo thương hại. Đặc biệt, anh Tâm lại là một người cẩn trọng, dễ xúc cảm và luôn sống chí tình với mọi người.

(more…)

trang bạn hữu – truyện Tâm Thanh

Published / by Phạm Tín An Ninh / Leave a Comment

 

 

Thiên Nga Giữa Cõi Người

Tâm Thanh

       Cặp thiên nga nổi bập bềnh như hai cụm mây trắng muốt vừa rớt từ nền trời xanh xuống mặt hồ Eidselva. Giống thiên nga này được xếp vào giống thiên nga đẹp nhất trên vùng sông hồ Telemark. Có lẽ vì bộ lông xồm trắng như tuyết, căng phồng lên như một nụ hoa sắp nở, con vật diễm lệ này được gọi là knoppsvane (thiên nga nụ, cũng có người nói gọi như thế vì mỏ nó có một cái khoen đen duyên dáng).
Nhưng tiếng kêu của nó lại bệ rạc hơn bất cứ loại vịt, ngỗng nào. Mùa hè khi chúng mon men lại gần bờ để chờ đợi những mẩu bánh mì của khách bãi tắm, tôi nghe từ cặp mỏ vàng óng ả phát ra những tiếng khò khè khàn đục, tôi có cảm tưởng ngỡ ngàng thất vọng y như thấy một mệnh phụ xinh đẹp mở miệng thốt ra lời thô lậu. Ðúng là một loài chim để nhìn ngắm xa xa. (more…)

cuộc trùng phùng bi thảm

Published / by Phạm Tín An Ninh / 1 Comment on cuộc trùng phùng bi thảm

Phạm Tín An Ninh

Theo đoàn quân tiếp thu Sài gòn mà lòng ông Hai Chi rối như tơ vò. Ông và hầu hết các đồng chí của ông ngơ ngác tưởng như chuyện mộng mị không thể nào xảy ra. Chính đơn vị của ông bị đánh tan tác gần như phải xóa sổ trong mùa hè 1972, đến nay vẫn chưa bổ sung xong, và đám bộ đội còn sống sót cũng chưa kịp hoàn hồn. Vậy mà Ban Mê Thuột mất, Tây Nguyên, Vùng 2, đến Vùng 1 có lệnh bỏ, để rồi cả miền Nam thất thủ chỉ trong vòng bốn mươi lăm ngày. Có lẽ những người ngồi trong Bộ Chính Trị ngoài Hà Nội cũng còn bất ngờ, huống hồ Hai Chi, chỉ mang quân hàm thiếu tá, làm sĩ quan hậu cần của một sư đoàn nằm tận vùng rừng núi Tây Nguyên heo hút..

Từ ngày vào bộ đội, ông Hai Chi luôn bị điều về những đơn vị chiến đấu. Nhờ phước đức mấy đời nên còn sống cho đến ngày tàn cuộc chiến. Không chết, nhưng trên người, và có thể cả trong lòng ông còn mang nhiều thương tích. Vết thương nặng nhất khi đơn vị ông bị B.52 dội bom trong trận Hạ Lào. Tiểu đoàn do ông làm thủ trưởng chỉ còn lại dưới 50 người. Nhờ thương tích ấy ông được điều về Sư Đoàn 320 làm cán bộ hậu cần. Mùa hè năm 1972, cả sư đoàn từng mang danh là Sư Đoàn Điện Biên hay Sư Đoàn Thép này gần như bị xóa sổ, khi tướng Hoàng Minh Thảo tung vào trận địa Kontum với ý đồ chiếm lấy Tây Nguyên, làm bàn đạp tiến xuống đồng bằng. Nhờ làm việc ở hậu cần nên ông Hai Chi sống sót để cuối tháng 4/75 có mặt trong đoàn quân ngơ ngác về tiếp thu Sài gòn.

(more…)

trang bạn hữu – truyện Trần Thị Diệu Tâm

Published / by Phạm Tín An Ninh / Leave a Comment

Bóng Cha

Trần Thị Diệu Tâm

      Từ lúc bắt đầu biết nói, hình như tôi không biết gọi tiếng ” Cha ơi” như các đứa trẻ khác . Tôi chỉ thấy và biết mỗi mình mẹ tôi, vì thế tôi từng cho rằng mình được sinh ra đời do chỉ một người là mẹ.
Lớn lên bất đầu đi học chữ, tôi nghe mẹ nói “Con cũng có một người cha”. Điều này làm tôi ngạc nhiên áy náy vô cùng, nó làm thay đổi thói quen suy nghĩ lâu nay. Tôi luôn hỏi “Cha là ai hở mẹ ?” Câu hỏi của một đứa con nít đơn sơ như vậy, nhưng sao mẹ không trả lời được, mẹ nói lấp lững :” Cha đi rồi “.
Tôi thấy càng khó hiểu thêm, cha đi rồi có nghĩa là đi mất là chết. Sau đó mẹ không hề nhắc nhở đến cha nữa. Nhưng bà nội thì hay kể về cha. Bà nói: “Cha mi là người hay chữ”.
Tôi vụt hỏi: “Cha ở đâu hở bà ?” Bà trả lời “Chắc cha mi còn sống ”
Câu trả lời của bà cũng như của mẹ làm tôi ấm ức, vì cả hai đều không trả lời rõ ràng về người đàn ông có tên gọi là Cha, hoặc là tôi chưa đủ thông minh để hiểu. Có mấy hôm liền, tối nào nằm ngủ đến nửa khuya, mẹ cứ hay thức dậy đi tiểu. Ngủ với mẹ quen hơi ấm, nên khi cảm thấy lạnh tôi biết mẹ không còn nằm bên nữa, tôi tỉnh ngủ. Căn nhà vẫn tối om, sao mẹ không thắp đèn cho sáng. Tôi nằm im tai lắng nghe tiếng động từ nhà bếp chen lẫn tiếng người nào đó đang nói chuyện . Tiếng chén bát lạch cạch rồi im lặng. Tôi nghe tiếng cửa bếp đóng lại, mẹ trở về giường ngủ, tôi thấy ấm lại. Những lần như thế tôi cố nhắm mắt thật kín tỏ cho biết là mình đang ngủ say không biết gì cả. (more…)

trang bạn hữu – thơ phan thị ngôn ngữ

Published / by Phạm Tín An Ninh / Leave a Comment

    Nha Trang bữa ta về

Bữa ta về – mấy con đường nắng rộ
Một tháp Hời xiêu đổ đứng nghe mưa
Dăm cột đèn ngơ ngác giữa phố xưa
Nghiêng bóng rọi từng mặt người xa lạ

Bữa ta về – sân ga chiều vội vã
Tiễn đưa ai bịn rịn những con tàu
Kẻ đến người đi chẳng biết về đâu
Giọt nước mắt trên môi cười lạc lõng

Bữa ta về – hiên chùa cao nắng đọng
Màu áo xưa đã phai nhạt theo mùa
Vẳng tiếng chuông buồn lần lữa sớm trưa
Lá trúc rụng quanh bậc thềm rêu phủ

Bữa ta về -nghiêng xiêu bờ giậu cũ
Trời Nha Trang ai khóc để sương mù
Biển vẫn thầm thì như một lời ru
Sao sóng vỗ trong lòng người trở lại

                        Phan Thị Ngôn  Ngữ

sắt son

Published / by Phạm Tín An Ninh / Leave a Comment

SẮT SON

Phạm Tín An Ninh

   Không ngờ tôi lại là người bưng tấm ảnh chị Ngà theo sau quan tài của chị. Và cũng chính tôi là người đào huyệt chôn chị. Đám ma của chị có lẽ là một đám ma buồn nhất mà tôi chứng kiến. Có cái chết nào lại không buồn. Những ngày ở trong trại “cải tạo”, tôi đã từng khiêng xác vài người bạn tù đi chôn ở ven triền núi hoang vắng đến lạnh lẽo, trong cảnh nhá nhem của buổi chiều đông trên khu núi rừng Việt Bắc. Nhưng đó là chuyện trong tù, còn hôm nay ngay trên làng quê mình, chị Ngà đến nơi an nghỉ cuối cùng mà không có một người ruột thịt tiễn đưa, ngay cả cái áo quan cũng do bà con láng giềng góp tiền mua cho chị.
Chị nằm bên cạnh cha mẹ cùng người em trai, trên một ngọn đồi đầy những cỏ may và cây hoa bộng giếng, nhìn xuống cái làng quê mà gần cả một đời chị sống quanh quẩn ở đây, cô đơn, lặng lẽ.
Chôn cất xong, mọi người ra về, tôi nán lại, dựng tấm bia bằng gỗ trước mộ chị. Khi ngồi một mình nắn nót viết cái tên của chị lên tấm gỗ, nước mắt tôi ràn rụa, mơ hồ như thấy mình đang trở về cái thời nào đó thật xa xăm. (more…)

trang bạn hữu – thơ cung vĩnh viễn

Published / by Phạm Tín An Ninh / Leave a Comment

 

 

uống rượu một mình

 (gởi HXT nhân một lần nói chuyện qua điện thoại)

Có chai rượu quý từ năm ấy
vẫn để dành riêng, hẹn với lòng
mai này mốt nọ bao giờ gặp
khui rượu cùng nhau xẻ nỗi mừng

Chai rượu để hoài trên nóc tủ
lâu ngày như cũng đã quên đi
cũng như lời hẹn xa xưa ấy
kẻ ở người đi chẳng nhớ gì

Bao nhiêu biến động trong đời sống
đẩy ta vào thế bỏ quê hương
ra đi chẳng có gì mang cả
bỗng nhớ còn chai rượu đã quên

Chai rượu theo ta đến xứ người
ở đây ngày tháng lạnh lùng trôi
rượu ngon không thiếu nên chai rượu
được giữ như là kỷ niệm thôi

Cho đến một chiều đông rét mướt
nghe chuông điện thoại bỗng reo vang
nhấc lên, giọng nói nghe là lạ:
– bạn cũ đây, có nhận ra không?

Chỉ nghe cái giọng làm sao nhận
bạn tác giờ đây lạc bốn trời
bạn kể thêm năm điều bảy chuyện
ta ngẩn người ra, cả tiếng cười

Bạn cũ, đâu ngờ liên lạc được
thôi thì trăm thứ để hàn huyên
nhưng rồi có lúc ta khựng lại
bạn cũ, biết còn như cũ không?

Nghe ta tâm sự điều lo ngại
bạn bỗng cười bung giọng thật vui
nghe ta kể khổ bạn an ủi
phân giải cùng ta nghĩa cuộc đời

Thì ra không giống điều ta tưởng
bạn cũ bây giờ tuy khác xưa
nhưng không trói buộc vòng danh lợi
xem cuộc trần ai tựa giấc mơ

Nghe xong mẩu chuyện về chai rượu
bạn cười: – thôi hãy uống dùm ta
bên này châm một bình trà mới
cũng là đối ẩm với tình xưa

Cầm chai rượu cũ, lòng thương tưởng
chẳng đành mà uống một mình ta
chiều đông ngoái lại con đường cũ
bến Giác bờ Mê mấy cách xa?

Cung Vĩnh Viễn

Sự ra đi của hai vị Tướng Tư Lệnh

Published / by Phạm Tín An Ninh / Leave a Comment

Ngày đầu tháng 3/2015, trong không khí ảm đạm của cơn mưa xuân, đông đảo những người lính già, đủ mọi quân binh chủng, có mặt tại nhà quàn nghĩa trang Peek Family trong thành phố Westminster (California), để chào tiễn biệt vị niên trưởng- vị chỉ huy trưởng – vị Tư Lệnh – ngày trước. Nổi lên giữa màu đen tang lễ, là những bộ quân phục trắng với bê rê đỏ của Thiếu Sinh Quân, worsted màu vàng trang trọng của những SVSQ Trường VBQGVN và những Kỵ Binh Thiết Giáp với mũ nồi đen.
Bên quan tài, cũng có lá cờ Tướng với một sao trắng trên nền đỏ, đứng hai bên không phải là những sĩ quan đồng cấp mà hầu hết là những niên đệ, đàn em, uy nghiêm trong thế thao diễn nghỉ. Một buổi lễ phủ kỳ khá trang trọng, dù không đủ lễ nghi quân cách, không có ban quân nhạc với tiếng kèn khai quân hiệu thuở nào, nhưng đủ để thể hiện được lòng kính trọng đối với một vị tướng đã có nhiều công trạng với đất nước.
Tang lễ của cựu Tướng Lý Tòng Bá, người đã chọn binh nghiệp từ thời niên thiếu ở trường Thiếu Sinh Quân, tốt nghiệp thủ khoa từ Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt, sau này trở thành Chỉ HuyTrưởng Thiết Giáp Binh và cuối cùng là Tư Lệnh Sư Đoàn Bộ Binh, mà có thời được nhiều người biết đến với danh hiệu “Người hùng Kontum” khi ông là Tư Lệnh Sư Đoàn 23BB, đánh thắng các sư đoàn nổi tiếng của Cộng quân, giữ vững thành phố Kontum, địa đầu Tây Nguyên trong suốt “Mùa Hè Đỏ Lửa”1972. (more…)

trang bạn hữu – nguyễn văn thà

Published / by Phạm Tín An Ninh / Leave a Comment

Bài Nói Chuyện về Những Tác Phẩm của Tâm Thanh

NGUYỄN VĂN THÀ

Nhà văn Tâm Thanh

 Trong Ngày Văn Hóa Việt Nam được tổ chức tại Oslo, Na Uy,  nhà văn Nguyễn Văn Thà có bài nói chuyện về những tác phẩm của nhà văn Tâm Thanh, một cây bút xuất sắc trong văn giới của người Việt hải ngoại. Nhà văn Tâm Thanh hiện lâm trọng bệnh tại Oslo, nơi ông cư ngụ mấy mươi năm qua từ khi rời quê hương đi tị nạn. Mời quý độc giả theo dõi sau đây “Bài Nói Chuyện về Những Tác Phẩm của Tâm Thanh” do nhà văn Nguyễn Văn Thà trình bày.

Kính thưa quý vị,

Tôi được Ban Tổ Chức giao cho nhiệm vụ nói về tác phẩm của Tâm Thanh. Nói về những tác phẩm văn chương của Tâm Thanh tôi chỉ giới hạn nói về những truyện ngắn của anh và về tác phẩm nửa như hồi ký, nửa như bút ký với tựa đề Lệnh Triệu Ban Rồi. Nhưng trước khi bàn về văn chương của Tâm Thanh, tôi xin nói qua một số điểm về nghệ thuật viết truyện, và sau đó dựa vào đó để đánh giá văn chương của anh.

(more…)

trang bạn hữu – thơ cung vĩnh viễn

Published / by Phạm Tín An Ninh / Leave a Comment

 

thơ viết cuối năm

Như một thói quen đã cũ mèm
cuối năm ngồi gạn đục khơi trong
nhưng trên mặt nước ao tù ấy
đóng váng xanh xao những nếp buồn

Các mối giao tình đâm luộm thuộm
tuổi già như những giọt cường toan
hư hao cơ thể mòn tâm trí
bắt bẻ nhau từ cái cỏn con

Ở trong thần thoại ngày xưa thấy
lão trượng râu dài tóc trắng phau
chống cây gậy trúc thong dong bước
chẳng bận tâm gì chuyện trước sau

Chuyện sau, chuyện trước, trò dâu bể
thì cũng bao nhiêu cảnh huống đời
chấp nê thì biết sao mà kể
thà là ngồi dõi bóng mây trôi

Ở trong trời đất bao la ấy
thấy cái đời ta có đáng chi
áo cơm một kiếp đời trôi nổi
bùi ngùi thân thế chẳng ra gì

Cuối năm. Rót một ly tao ngộ
bạn tác nào ai đến cụng ly
bấm vài con số trong điện thoại
mấy tiếng chuông kêu cũng bặt đi…

 

cung vĩnh viễn

để tưởng niệm một người anh –

Published / by Phạm Tín An Ninh / Leave a Comment

 

Phạm Tín An Ninh

Lần cuối cùng tôi gặp lại anh, khoảng tháng 7 năm 1978 tại Nghĩa Lộ. Trong những người tù ốm o đang vác những bó nứa, băng qua khu ruộng khô mà đám tù chúng tôi đang “lao động” , bất ngờ tôi nhận ra anh, khi anh hỏi xin bọn tôi một ngụm nước. Tôi ngỡ ngàng đứng nghiêm đưa tay lên chào:
–         Đại Tá!
Anh nhìn lên, nhận ra tôi và nở nụ cười:
–         Mi ở đây à? Chừ còn tá với tướng chi mi. Mi khỏe không?
Tôi đưa cho anh lon guigoz nước rồi nắm lấy tay anh. Anh gầy hơn xưa nhiều, chỉ có nụ cười vẫn vậy, không thay đổi. Chưa kịp hỏi anh ở trại nào và vợ con ra sao, thì tên vệ binh hét: “không được quan hệ linh tinh, khẩn trương về trại”. Tôi phụ đưa bó nứa lên vai anh. Bước đi, anh nói vọng lại một câu:
–         Mi nhớ giữ gìn sức khỏe hỉ!
Có một thời báo chí và nhiều người gọi anh là “Người hùng Ban Mê Thuột”. Điều đó rất xứng đáng. Khi chỉ có trong tay một tiểu đoàn và được tăng cường Đại Đội 23 Trinh Sát tinh nhuệ, nhờ hầm hố công sự vững chắc, anh cùng đơn vị đã phải chiến đấu đơn độc nhưng thật quyết liệt can trường trước nhiều đợt tấn công biển người của địch, giết hằng trăm địch quân và bắn cháy nhiều chiến xa T-54, giữ vững vị trí đến sau khi cả thành phố Ban Mê Thuột đã lọt vào tay giặc gần một tuần trước đó. Ngày 17.3.75, một lực lượng địch đông đảo có nhiều chiến xa kéo đến bao vây tấn công để bằng mọi giá phải nhổ cái gai làm chúng vô cùng căm tức. Với hàng ngàn quả pháo, chúng muốn san bằng cái cứ điểm cuối cùng mà đơn vị anh đang tử thủ, quyết sống chết trong căn cứ B50 bên cạnh phi trường Phụng Dực, cách thị xã Ban Mê Thuột 8 cây số về hướng Đông. Anh đã cùng đồng đội vẫn không nao núng, đánh thật đẹp một trận để đời.  Một số binh sĩ hết đạn, anh ra lệnh cho thu nhặt súng đạn của địch để đánh lại địch. Rất tiếc, phi vụ tiếp tế thả dù cuối cùng không may rơi ra ngoài vị trí, lương thực và đạn dược đã cạn kiệt. Anh khôn khéo lừa địch, cùng những thuộc cấp sống sót mở đường máu lúc nửa đêm, phân tán thành nhiều toán nhỏ, vài toán rút về hướng Lạc Thiện, vài toán đi về khu làng Thượng thuộc tỉnh Tuyên Đức, riêng anh cùng một toán trên 20 người đến được Phước An, hai ngày trước khi quân lỵ cuối cùng của tỉnh Darlac này rơi vào tay Cộng sản. Anh và đồng đội đã tạo thêm một huyền thoại trong cuộc chiến tranh Việt Nam.

(more…)

trang bạn hữu – thơ Quan Dương

Published / by Phạm Tín An Ninh / Leave a Comment


CÓ NHỮNG ĐIỀU ĐÁNG NHỚ RẤT DỄ QUÊN
 ( Xin tặng cho những ai còn nghĩ đến những  thương phế binh VNCH .
Cảm kích ngày Tri Ân Thương Phế Binh VNCH năm 2015 tại Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn )

Có những điều đáng nhớ rất dễ quên
Nếu không có những cơn gió vô tình nhắc nhở
Quê hương mình sau cuộc đổi đời tủi hổ
là bóng tối đêm đen
Khi ánh điện đường soi rọi kiếp phù vân
Không biết sẽ về đâu những con người mang đôi nạng gỗ
Một phần thịt xương
Bỏ lại nơi nào trên chiến trường quá khứ
Tổ quốc đâu rồi ? Ai còn nhớ đến ai ?

Có những điều đáng nhớ rất dễ quên
sẽ trôi qua . Trôi qua
âm thầm giữa lòng trang lịch sử
Những chiến tích hào hùng bất tử
Giờ đã đâu rồi . Có cũng như không

Về đâu ?
Sao lại quên điều đáng nhớ
Con chim xa rừng còn thương cây khóc tổ
Người có cội nguồn sao nỡ đành quên
Cuộc sống xứ người có vị đắng quê hương
Nếu tính lỗ lời sau nhiều năm mất nước

Những cơn gió đổi đời tủi nhục
Khắc cốt ghi lòng dù phải tha hương
Giờ tóc đã bạc màu giữa sự lãng quên
Nhưng không thể quên điều đáng nhớ

Các anh là những thương binh
với vết thương lòng nhức nhối
bị bỏ lại bên lề khi lịch sử sang trang
Một hạt muối chân tình
không làm mặn đưọc đại dương

Nhưng thà có còn hơn không có
Các anh đã làm điều dễ quên thành đáng nhớ

 Quan Dương

trang bạn hữu – cung vĩnh viễn

Published / by Phạm Tín An Ninh / 1 Comment on trang bạn hữu – cung vĩnh viễn

12C3 là chuyện một lớp học thời đổi đời xẩy đàn tan nghé từ 1979, thầy trò tứ tán khắp lục địa, từ Sàigòn tới San Jose, Bắc Úc rồi Bắc Âu.
 35 năm sau, thầy trò cụng ly tại Oslo, Na Uy. Ông thầy nay là nhà thơ Cung Vĩnh Viễn. Chàng học trò xưa nay là nhà văn linh mục Nguyễn Trung Tây.
***

Hữu Duyên Thiên Lý

Nguyễn Trung Tây

Vẫn là một điều không hiểu, bởi từ bao lâu nay có những người tôi đã gặp gỡ trên một khoảng đường đời, nhưng khuôn mặt, tính tình, và ngay cả tên tuổi xuất hiện trong tâm trí mờ nhạt. Nếu phải nói về họ, thông thường tôi ấp úng ngớ ngẩn, bởi không nhớ. Ngược lại, có những người tôi nhớ dáng đứng, lời nói; tên của họ tôi nhớ chính xác, đủ họ và tên.

Những người mờ nhạt, có một thời tôi nghĩ bởi mình không có nhiều kỷ niệm. Nhưng thấy cũng không đúng lắm, bởi có người tôi đã chia sẻ một đoạn đường năm năm chung trường, hay mười năm hàng xóm, rõ ràng một khoảng thời gian dài; nhưng quên vẫn quên! Riêng những người tôi nhớ, có người chỉ gặp khoảng ba năm thôi, nhưng nhớ, nhớ hoài, tôi muốn nói tới bạn học lớp 12C3 năm 1979 của Nguyễn Thượng Hiền; hoặc đặc biệt hơn chỉ vỏn vẹn một năm, nhưng sau hơn ba mươi năm không gặp mặt, mở miệng ra tôi vẫn đọc đúng họ và tên, tôi muốn nói tới Thầy Cung Vĩnh Viễn của 12C3 Nguyễn Thượng Hiền. (more…)

trang bạn hữu – thơ cung vĩnh viễn

Published / by Phạm Tín An Ninh / Leave a Comment

DI SẢN

Ờ nhỉ mai này ta chết đi
thử xem để lại được điều chi
dẫu sao cũng một đời bương chải
chẳng lẽ đi không chẳng có gì.

Để lại cho đời thêm một chỗ
bao năm ta đã chiếm khơi khơi
chẳng nên công trạng gì cho đáng
đất chật người đông đất chật rồi.

 Để lại cho em một nỗi niềm
cái thân góa phụ sẽ buồn thêm
cả đời em đã vì ta khổ
còn nặng trên đầu một cái tang.

Để lại cho thằng con đứa cháu
cái tính ương gàn cái nhát gan
chẳng hề dám mưu đồ đại sự
suốt đời quanh quẩn chuyện cầu an.

Để lại cho cả bọn chúng mày
những thằng bạn thiết của ta ơi
mấy bàì thơ dở chua như dấm
khi tiễn ta đi nhớ cả cười.

 cung vĩnh viễn

 

những vì sao của một thời tuổi thơ

Published / by Phạm Tín An Ninh / 10 Comments on những vì sao của một thời tuổi thơ

Phạm Tín An Ninh

Thời học trung học, tôi có người bạn thân, không những tướng tá mà cả cái tên cũng đẹp: Phan Ái Minh. Hai đứa học chung trường. Minh học Ban B và trước tôi một lớp, còn tôi dốt toán nên học Ban C. Vì vậy mà bạn còn là “ông thầy” kèm toán cho tôi. Nhà Minh ở trên Thành (Diên Khánh), cách thành phố Nha Trang, nơi có ngôi trường Võ Tánh của bọn tôi hơn mười cây số. Minh cùng người anh thuê căn nhà nhỏ trong một con hẻm ở gần đình Phương Sài để trọ học. Mỗi chiều Thứ Sáu, sau khi tan trường, hai anh em đạp xe về thăm nhà đến chiều Chủ Nhật lại ca bài đường trường xa trở lại Nha Trang, mang theo thức ăn cho một tuần sau đó. Tôi cũng từ một vùng quê khác vào Nha Trang học, ở nhà ông chú, một tiệm buôn giữa trung tâm thành phố. Để tránh ồn ào và khỏi bị sai vặt, tôi thường đạp xe lên nhà Minh vừa chơi vừa học. Có khi tôi ngủ lại hoặc cuối tuần theo anh em Minh về thăm quê bên kia Cổ Thành Diên Khánh.

Minh luôn hãnh diện khoe với bọn tôi về quê hương “Cổ Thành”. Anh thường gọi đó là “la Citadelle” và gần như thuộc lòng sử tích: “được Nguyễn Phúc Ánh xây từ thế kỷ 17 và lần lượt do các ông Nguyễn Văn Thành và Võ Tánh trấn thủ. Võ Tánh là một dũng tướng bất khuất, sau này đã tự thiêu tuẫn tiết trước khi thành Bình Định lọt vào tay tướng Trần Quang Diệu của Tây Sơn. Có lẽ vì vậy mà ngôi trường trung học lớn nhất miền duyên hải của chúng ta mang tên Võ Tánh, để nêu gương sĩ khí cho đám học trò.” Minh còn đọc đi đọc lại bài thơ của công chúa Ngọc Du khóc phu quân tướng công Võ Tánh, làm bọn tôi thuộc nằm lòng cho đến mãi bây giờ:

Những tưởng ra tay giúp nước nhà

Ai dè binh địa nổi phong ba.

Xót người vị quốc liều thân ngọc,

Khiến thiếp cô phòng ủ mặt hoa.

Gối mộng mơ màng duyên nợ cũ,

Đài mây xiêu lạc phách hồn xa.

Lửa trung đốt đỏ gương hào kiệt,

Nóng ruột thuyền quyên giọt lệ sa!

Có lẽ chính quê hương Cổ Thành và hình ảnh dũng tướng Võ Tánh in rất đậm trong trí óc và tâm hồn Minh từ thuở ấu thơ, đã hun đúc trong Minh một mẫu người lý tưởng sau này.

( trên) cổ thành Diên Khánh

(more…)

trang bạn hữu – thơ phan thị ngôn ngữ

Published / by Phạm Tín An Ninh / Leave a Comment



Cõi thăng trầm hưng phế

Con về – nhà ngoại xưa đổ nát
Cây sanh si đã cỗi táng già,
Cội bồ đề gốc nẻ đôi ba
Rễ chạy rong trên nền sân vỡ

Mái ngói âm dương nằm yên thở
Lắng nghe đời mưa gió trầm kha
Bao thăng trầm hưng phế đi qua
Rêu ở lại từng viên gạch cũ

Năm tháng ngoằn nghoèo lên sập gụ
Màu thời gian loang lổ tuổi đời
Những đoạn lìa ly tán đầy vơi
Ngoại đi xa chưa lần trở lại

Nắng tháng hai hanh khô vườn cải
Mưa tháng mười úng ngập bờ tre
Bàn cờ xưa tướng sĩ tượng xe
Giờ sót lại vài con tốt thí

Đêm đêm trong nếp nhà cũ kỹ
Gỗ mọt kêu xiên suốt canh dài
Tiêng thạch sùng chắt lưỡi gọi ai
Như ái ngại điều không thể nói

Những tấm trướng – hoành phi – liễn đối
Ôm cột kèo ngó sững buồn thiu
Khay tráp bút – nghiên mực giấy điều
Lủi thủi co mình trên nóc tủ

Dăm bộ tứ thư – pho đại tự
Cũng hẩm hiu côi cút lặng nằm
Bao năm rồi con trở về thăm
Nghe muối xát dầm chan lòng trẻ

Nhớ xưa – câu Đường thi bước khẽ
Quanh nhịp võng đưa – chỗ ngoại nằm
Nắng thập thò chải tóc hoa râm
Bóng hoàng hạc đậu tờ thơ cổ

Điệu Nam Ai chèo khua mái vỗ
Thuyền dô hò khoan họ hò khoan
Đường chinh phu quan tái dặm mòn
Lòng cô phụ theo dòng trăng chảy

Ngoại tấu Vân Tiên – ngâm Kiều lẩy
Gõ trống chầu hát bội đình xa
Những đêm trăng trải chiếu sân nhà,
Chén trà sen luận bàn thế sự

Đinh Lê Lý Trần…dày trang sử
Hai châu Ô Lý…rộng sơn hà,
Bao năm rồi ngoại bỏ đi xa
Cõi nhà xưa ba gian trống trải

Như hạc vàng đi không trở lại
Mặc non cao núi thẳm giang đầu
Mặc cuộc đời dâu biển biển dâu
Mặc thế sự thăng trầm hưng phế.

Phan Thị Ngôn Ngữ

đằng sau cuộc chiến

Published / by Phạm Tín An Ninh / 3 Comments on đằng sau cuộc chiến

Phạm Tín An Ninh

Cuộc chiến ba mươi năm kết thúc, nhưng chỉ làm cho đất nước điêu linh, dân tộc khốn cùng, kéo theo bao chia ly tan tác. Trước tháng 4/1975 hầu hết những người trai trẻ miền Nam là lính chiến. Nếu may mắn sống còn qua thời lửa đạn, cũng từng phải khốn cùng trong ngục tù cộng sản sau ngày bại trận oan khiên. Ra tù, tứ tán trôi dạt muôn phương, ngỡ không bao giờ còn gặp lại bạn bè đồng đội cũ. Vậy mà dường như đất trời thương xót, hồn thiêng sông núi chở che, run rủi bao cuộc trùng phùng bất ngờ, cảm động, như họ vừa cùng tái sinh ở một thế giới nào khác.

Tôi gặp lại Hà văn Kỳ trong tình huống ấy. Anh trung sĩ trẻ từng làm trung đội phó cho tôi khi vừa mới ra trường. Người Bắc di cư, nhỏ hơn tôi ba tuổi. Có lẽ nhờ lớn lên ở thành phố Đà Lạt sương mù thơ mộng và bên những vườn hoa, sản nghiệp của bố mẹ, nên Kỳ được hun đúc bao nét đẹp thánh thiện. Chân thật hiền lành, lễ phép, sống theo mẫu mực của một người Ki- tô hữu ngoan đạo. Học hành chăm chỉ nhưng chẳng may bị bệnh kéo dài, phải bỏ cả hai kỳ thi tú tài, nên bị động viên vào trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế. Ra đơn vị đã hơn một năm, nhưng đời sống quân ngũ và khói lửa chiến trường chưa làm thay đổi được tính nết quá mềm yếu, hiền lành. Đôi lúc tôi phải quát tháo, bởi Kỳ quá dễ dãi với lính, ngay cả những lúc cần phải cứng rắn, quyết liệt trước họng súng của kẻ thù. Nhưng rồi sau đó tôi lại thấy tội nghiệp, nên thường khuyên lơn, vỗ về an ủi. Kỳ cũng rất quí tôi, dành cho tôi không những tình đồng đội mà cả lòng yêu thương của tình huynh đệ. Kỳ làm đám cưới trước khi ra đơn vị. Bà xã là con gái một ông bà bạn vong niên của bố mẹ Kỳ từ ngày còn ngoài Bắc, cùng di cư vào Nam và chọn thành phố Đà Lạt làm quê hương mới. Biết vậy, nên thời gian nghỉ quân ở Di Linh, tôi thường lén cho Kỳ “dù” về Đà Lạt thăm vợ một vài hôm. Trước đó, tôi cũng thường khuyến khích và giúp đỡ Kỳ tiếp tục tự học thêm khi thời gian thuận tiện. Chịu khó và chăm chỉ. Gần đến kỳ thi, Kỳ nhờ tôi năn nỉ xin ông tiểu đoàn trưởng cho nghỉ phép đặc biệt một tháng để chuẩn bị bài vở. Trở lại đơn vị, với một tin mừng: đỗ tú tài hạng bình thứ. Kỳ làm đơn xin theo học khóa sĩ quan. Chưa nhận được lệnh gọi thì đã bị thương trong một cuộc hành quân. Khi đưa Kỳ ra một chiến thuyền của Hải Quân để tản thương, tôi nắm chặt tay Kỳ, lòng nhói đau, khi thấy Kỳ nhìn tôi với dòng nước mắt lăn trên gò má còn bám đầy bụi đất.

(more…)

trang bạn hữu – thơ Cung Vĩnh Viễn

Published / by Phạm Tín An Ninh / Leave a Comment

 

NHỮNG CHUYẾN  ĐI


Nghe nói mai này em lại đi
hình như em có hẹn hò chi
dòng sông khi uốn mình ra biển
đã chở bao nhiêu những ước thề.

Em thấy thiên nhiên đẹp thế nào
khung trời lấp lánh những vì sao
bao nhiêu những linh hồn vô nhiễm
đã lạc trần gian một kiếp sầu.

Rồi những hoàng hôn nhuộm sắc hồng
con tầu quay mũi hướng biển đông
những làn sóng bạc xô nhau tới
có giống vành hoa tang chế không?

Và những kinh thành ánh sáng kia
đêm đêm rực rỡ ánh đèn khuya
những giàn hòa tấu vang danh tiếng
nghĩa lý gì khúc Hậu đình hoa.

Em đã đi xa đã thấy nhiều
đã tìm ra nghĩa của tình yêu
đời bao nhiêu thứ tìm không thấy
cái thấy hình như tựa bóng chiều.

Ơi những chiều rơi xuống cuộc đời
chắc gì em nhớ nổi trò chơi
đi tìm đi trốn trong vườn nhỏ
anh cố tình cho bị bắt thôi.

Em đi đuổi bóng trong vườn mộng
tội quá vườn xưa bé cỏn con
vườn nhỏ nên ta còn gặp được
càng  mênh mông thế rộng cô đơn.

Chiều nay nếu có dừng chân lại
nhìn trời nhìn biển ngó hư không
phải chi thấy được em đang khóc
chắt xuống đời ta giọt não nùng.

Cung Vĩnh Viễn

Song Vũ và bút ký “Sau Cơn Binh Lửa”

Published / by Phạm Tín An Ninh / Leave a Comment

Phạm Tín An Ninh

Cuộc chiến đã chấm dứt gần bốn mươi năm. Thời gian đủ để chôn xóa tất cả mọi dấu tích bom đạn trên quê hương, nhưng vẫn chưa mờ nhạt trong ký ức và làm lành được vết thương trong lòng những ai từng tham dự hoặc chịu nhiều hệ lụy từ cuộc chiến ấy. Đặc biệt, những người lính miền Nam, một thời chiến đấu can trường, sẵn sàng hy sinh cho đất nước, để rồi bất ngờ phải nhận chịu thân phận kẻ bại trận trong đớn đau tức tưởi.

Từ nỗi oan khiên đó, trong suốt thời gian qua , đã có đông đảo những người lính trong mọi quân binh chủng viết về cuộc chiến, phân tích các nguyên nhân thắng bại hoặc kể lại những năm tháng hào hùng với biết bao chiến công hiển hách, ngỡ như không thể có ngày phải bàng hoàng buông súng. Đa số trong họ không phải là nhà văn, hoặc muốn trở thành nhà văn. Họ cầm bút chỉ để viết ra, giải tỏa những điều ẩn ức theo tháng năm đè nặng trong lòng. Viết để chia sẻ với những đồng đội cũ hầu cùng nhau tìm lại những kỷ niệm kiêu hùng của một thời trai trẻ, sẵn sàng chết cho quê hương. Viết để phân tích tìm hiểu những nguyên nhân nào đã đưa cuộc chiến đến một kết thúc đau lòng. Và cũng để cho con cháu – thế hệ ít nhiều bị hệ lụy từ cuộc chiến ấy – hiểu được tinh thần, khả năng chiến đấu của cha ông, và vì sao đã có một ngày 30 tháng 4 buồn thảm.

Trong số những cây bút ấy, thỉnh thoảng chúng ta đọc được một số bài viết của tác giả Song Vũ. Một cái tên còn khá xa lạ, nhưng có lẽ ai cũng rất thích thú và nhận ra những giá trị đặc biệt ở các bài viết của ông. Không phải chỉ ở cách hành văn, mà còn ở sự trung thực, sống động cùng những nhận định sâu sắc, độc đáo mà chúng ta không tìm được ở nhiều tác giả khác. Một trong những nguyên nhân dẫn tới thành công:  tác giả là người trong cuộc, luôn có mặt trong các trận chiến với những quyền hạn,  trách nhiệm trực tiếp. Vì vậy, ngoài tính trung thực được xác tín, tâm hồn tác giả cũng chan hòa theo từng dòng chữ, từng sự kiện, đã tạo cái hồn cho các bài viết.

Song Vũ là bút hiệu của cựu Trung Tá Ngô Văn Xuân, xuất thân Khóa 17 Võ Bị QGVN. Trong suốt 13 năm  binh nghiệp, ông đều ở các đơn vị tác chiến, và liên tục trải qua hầu hết các chức vu chỉ huy từ cấp trung đội, đại đội, tiểu đoàn đến trung đoàn, ngoại trừ những thời gian theo học các khóa tham mưu, dưỡng thương và gần một năm giữ chức vụ Trưởng Phòng 3 (Hành Quân) Sư Đoàn.  Trước tháng 4/1975,  ông là Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 44/ SĐ23BB, đơn vị ưu tú đã tạo nhiều chiến tích lẫy lừng, góp phần  giữ vững được Kontum -Tây Nguyên trong Mùa Hè Đỏ Lửa 1972. Ngoài khả năng lãnh đạo chỉ huy, đảm lược, ông còn nổi tiếng là một vị chỉ huy trẻ, đạo đức, thanh liêm, bình dị, luôn được tất cả mọi thuộc cấp thương yêu, kính phục.  Ông  sống chết cùng đơn vị cho tới giờ phút cuối cùng. Sau khi miền Nam thất thủ, bị giam cầm trong nhà tù CS trên 13 năm, ông sống còn qua nhiều cơn bệnh thập tử nhất sinh, nhờ vào tình thương yêu của bạn tù và ông tin có sự nhiệm mầu nào đó.

Qua tập bút ký dày 510 trang, người đọc sẽ nhìn thấy rõ hơn con người , tâm tư, cũng như lòng trắc ẩn của tác giả.

Mở đầu cuốn sách, tác giả đã mượn lời của Erich Maria Remarque, lời tựa trong tác phẩm All Quiet On The Western Front ( Mặt Trận Miền Tây Vẫn Yên Tĩnh) để nói lên suy nghĩ và mục đích khi khai sinh tác phẩm của minh:

“Cuốn sách này không phải là sự buộc tội, cũng không phải là sự thú tội, lại càng không phải là một cuộc phiêu lưu; bởi vì những ai đã từng đối mặt với cái chết thì chẳng ai phiêu lưu đi tìm nó cả. Cuốn sách chỉ đơn giản là nói về một thế hệ những con người, cho dù đã thoát ra khỏi lằn tên mũi đạn, cũng đã bị hủy diệt mất rồi.”

Và trong “Lời Thưa” thay cho lời tựa, tác giả cũng “thưa” thêm:

Tuổi đời chồng chất, sức khỏe và những hăng say của tuổi thanh xuân ngày càng nguội dần. Tôi thấy cuộc sống mình hụt hẫng hoang mang. Mỗi năm lại vắng thêm đồng đội và rồi một ngày nào đó, cũng sẽ tới lượt chính mình. Điều tự nhiên đó, thực chất chẳng phải là nỗi ưu tư bởi vì đó là quy luật. Nhưng điều làm tôi suy ngẫm là ý nghĩa về cuộc đời của chính mình, thế hệ của chúng tôi, qua những việc đã làm, những đau thương đã trải, thực sự là gì? Hoặc chẳng là gì hết ?

(more…)

trang bạn hữu – bút ký Song Vũ

Published / by Phạm Tín An Ninh / Leave a Comment

Đọc lại Remarque
nghĩ về một thời chinh chiến

Song Vũ

“This book is to be neither an accusation nor a confession, and at least of all an adventure, for death is not an adventure to those who stand face to face with it. It will try simply to tell of a generation of men who, even though they may have escaped (its) shells, were destroyed by the war.”

Erich Maria Remarque
(ALL QUIET ON THE WESTERN FRONT)*

Một

We are at rest five miles behind the front. Yesterday we were relieved, and now our bellies are full of beef and haricot beans. We are satisfied and at peace.”

Chúng tôi đang nghỉ dưỡng quân sau tuyến đầu 5 dặm. Ngày hôm qua chúng tôi đã được thay quân để rút về phía sau. Giờ đây chúng tôi đang no cành hông với món thịt bò bít tết và đậu hầm. Chúng tôi thật thoải mái và bình yên.

Remarque đã mở đầu cuốn chuyện với những dòng như vậy. Hiện tôi đang cầm cuốn sách trong tay cùng với một tâm trạng gần như thế. Chỉ có điều khác biệt, tôi đã ra hẳn cuộc chiến tranh tàn hại nhất trong lịch sử dân tộc tôi tính đến nay đã 38 năm. Nơi tôi ở không phải là 5 dặm phía sau tiền tuyến mà hàng cả chục ngàn dặm bên kia Thái Bình Dương quê hương tôi. Tôi cũng là một người lính chiến giống như nhân vật trong truyện đang thuật lại là Paul Bäumer. Tôi cũng có những bạn cùng lớp như Paul, nhưng thay vì Paul là người cuối cùng ra đi trong số 7 người bạn cùng lớp thì chúng tôi gồm 189 người cùng lớp, tính cho đến ngày 30 tháng tư năm 1975, đã mất đi vừa tròn 80, sau 12 năm lăn lộn trên khắp chiến trường của 4 vùng chiến thuật kể từ ngày tốt nghiệp Võ Bị.

Cuộc chiến ấy đã thật sự lấy đi của thế hệ chúng tôi ở cả hai phía chiến tuyến biết bao nhiêu tinh hoa, làm cạn kiệt không biết bao nhiêu tài nguyên thiên nhiên, và đau thương hơn tất cả đó là những người còn lại sau cuộc chiến này đều bị hủy hoại hoặc toàn bộ, hoặc hơn một nửa phẩm chất của một con người bình thường. Đúng như câu viết đầu tiên của cuốn sách.

Người ta thường nói đến hệ quả chiến tranh Việt Nam trong lòng dân tộc Hoa Kỳ mà người ta đã cố tình bỏ quên đi hệ quả chiến tranh Việt Nam ngay chính trong lòng dân tộc Việt.

Tôi đã từng đọc cuốn truyện này trong tựa đề “Mặt trận miền tây vẫn yên tĩnh” qua một bản Việt dịch mà tôi đã thực sự quên hết cả câu chuyện lẫn tên dịch giả. Tôi chỉ còn nhớ rất mù mờ về thời gian hình như những năm thuộc cuối thập niên 60, một số tác phẩm của Remarque được dịch qua tiếng Việt chẳng hạn như các cuốn “Mặt trận miền tây vẫn yên tĩnh”, “Một thời để yêu một thời để chết”, “Chiến hữu”…Đó là những năm tháng tôi theo chân đơn vị hành quân miệt mài. Những cuốn sách tôi mang theo trong balô đã mang đến những ưu tư không hằn thành nét, mung lung trong tôi.

“Bốn người bạn cùng lớp gồm: Albert Kropp, Müller, Leer, và người kể chuyện Paul Bäumer, kế đến là các bạn kết thân sau này khi đến đơn vị: Tjaden, Haie Westhus, Detering và Katczingsky.”

“No one had the vaguest idea what we were in for. The wisest was just the poor and simple people. They knew the war to be a misfortune, whereas those who were better off, and should have been able to see more clearly what the consequences would be, were beside themselves with joy.” (p.11)

Chẳng ai có một ý tưởng rõ nét nào về việc đi lính của chúng tôi. Những người thông thái nhất cũng giống như một người bình thường nghèo khổ, chẳng ai có một ý tưởng nào rõ ràng vế việc lính tráng của chúng tôi. Họ chỉ biết chiến tranh là bất hạnh, trong khi những tay giầu có và có thể thấy được hậu quả của chiến tranh thì lại vui sướng ra mặt.

“The idea of authority, which they represented, was associated in our minds with a greater insight and a more humane wisdom. But the first death we saw shattered this belief. We had to recognize that our generation was more to be trusted than theirs. They surpassed us only in phrases and in cleverness. The first bombardment showed us our mistakes, and under it the world as they had taught it to us broke in pieces.” (p.11)

“While they continued to write and talk, we saw the wounded and dying. While they taught that the duty to one’s country is the greatest thing, we already knew that death-throes are stronger.” (p..13)

Họ đại diện cho một ý tưởng quyền lực được gắn liền với ý nghiã cho rằng họ sáng suốt hơn và khôn ngoan hơn. Nhưng khi chúng tôi nhìn thấy cái chết đầu tiên xẩy đến thì niềm tin tưởng này tan vỡ. Chúng tôi nhận ra ngay rằng thế hệ chúng tôi đáng tin hơn thế hệ của họ. Họ chỉ hơn chúng tôi trong những câu nói và trong khôn khéo đối nhân xử thế. Cuộc oanh tạc đầu tiên chỉ cho chúng tôi những sai lầm của mình, và cái thế giới mà họ đã nói cho chúng tôi biết vỡ tan từng mảnh.

Trong khi họ vẫn tiếp tục viết và nói, chúng tôi cũng tiếp tục nhìn thấy những người bị thương và bị chết. Trong khi họ dậy chúng tôi rằng bổn phận đối với tổ quốc là điều cao cả thì chúng tôi lại thấy rằng nỗi đau buồn chết chóc lại to lớn hơn.

Khóa chúng tôi ra trường ngày 30 tháng 3 năm 1963. Mười một thiếu úy hiện dịch được phân bổ về trình diện Sư Đoàn 7 BB có bản doanh đóng tại tỉnh Mỹ Tho lúc ấy. Cả 11 đứa được chia đều cho 3 trung đoàn tác chiến. Tôi cùng 3 bạn cùng lớp được bổ sung quân số cho Trung đoàn 11. Nghê Hữu Cung và Trần Thừa Tự về Tiểu đoàn 1. Tôi và Nguyễn Tiến Mão về Tiểu đoàn 3. Trung đoàn 11 gồm 3 tiểu đoàn 1, 2, 3. Tiểu đoàn 3 lúc đó là tiểu đoàn hành quân lưu động. Lãnh thổ hành quân bao gồm các tỉnh Hậu Nghĩa, Long An, Định Tường, Kiến Tường, Gò Công, Kiến Phong, Vĩnh Long, Phong Dinh, Vĩnh Bình! Với vùng hành quân rộng như vậy, cho nên đôi khi trong cùng một ngày, chúng tôi có thể có mặt trên lãnh thổ của 2, hoặc 3 tỉnh. Sáng ở Mỹ Tho chiểu lang thang Long An, tối trở về Hậu Nghiã.

(more…)

Những hồi ức từ buổi họp mặt của một khóa Võ Bị lừng danh

Published / by Phạm Tín An Ninh / 1 Comment on Những hồi ức từ buổi họp mặt của một khóa Võ Bị lừng danh

Phạm Tín An Ninh

Tối Chủ Nhật 24/11, trước Thanksgiving, tôi được ông anh bà chị cho tháp tùng tham dự buổi họp mặt Cựu SVSQ Khóa 16 VBQGVN của anh, kỷ niệm 54 năm ngày khai giảng Khóa Võ Bị đặc biệt vang danh này.

Có lẽ hầu hết những ai đã trưởng thành tại miền Nam Việt Nam trong cuộc chiến chống Cộng đều biết hay nghe nói về Khóa 16 VB(Đà Lạt). Khóa đầu tiên cũng là khóa điển hình của quân trường mang danh “Võ Bị Quốc Gia Việt Nam”, hậu thân của trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt (École Militaire InterArmes de Dalat (EMIAD).  Một quân trường danh tiếng nhất Vùng Đông Nam Á, đào tạo những sĩ quan hiện dịch mẫu mực nhất. Với Đại tá Trần Ngọc Huyến, vị chỉ huy trưởng nhiều tài năng và huyền thoại,  một chương trình huấn luyện bốn năm mới mẽ, đặc biệt chú trọng đến kiến thức văn hóa, với châm ngôn được dùng như kim chỉ nam: “Tự Thắng Để Chỉ Huy”, những bài giảng về nghệ thuật lãnh đạo có sức lôi cuốn, cùng với bài truy điệu và những hình thức tưởng niệm đầy tính bi hùng của chính vị chỉ huy trưởng đặt ra, đã thổi vào tim óc học trò của ông, những SVSQ Khóa 16 VB, lòng say mê binh nghiệp, niềm kiêu hãnh của một người lính sẵn sàng hy sinh cho tổ quốc, để sau này trở thành những vị chỉ huy tài ba, thao lược, văn võ song toàn, làm rạng danh cho Quân Lực VNCH.

Hôm nay, những cánh “đại bàng” còn sống sót từ một thời lẫy lừng trên khắp chiến trường ngày ấy, dù trên thân xác và trong tâm hồn còn mang nhiều thương tích, và tuổi đời đã đến lúc không còn nhiều cơ hội để hẹn một lần sau, nhưng đã cố qui tụ về đây để cùng gặp gỡ những đồng môn năm xưa, khi tất cả còn là những SVSQ trai trẻ, đứng trên đỉnh Lâm Viên với hào khí ngút trời, cùng một lời nguyền :” Chúng tôi không cầu an lạc dễ dàng, mà chỉ khát khao gió mưa cùng nguy hiểm”. Nhìn những mái đầu bạc, những bước chân khập khiểng, những đôi mắt mơ hồ như đang hồi tưởng về quá khứ lẫm liệt một thời, có ai không khỏi chạnh lòng?

(more…)

nhà thơ đi lính

Published / by Phạm Tín An Ninh / 4 Comments on nhà thơ đi lính

(Để tưởng nhớ Y-Broc Niê và Lại Trọng Hà)

Phạm Tín An Ninh

Tôi không biết làm thơ. Chính xác hơn là tôi dốt đặc về thơ. Nhưng có điều tôi rất mê thơ. Thời mới vào trung học, tôi đã từng nắn nót chép những bài thơ của mấy ông Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Lưu Trọng Lư, Đinh Hùng, Thâm Tâm… vào những tập giấy pelure đủ màu xanh đỏ, đóng bìa cứng với cái tựa mạ vàng. Tôi còn thuộc lòng hết mấy bài thơ tình của TTKH. Biết ai làm thơ hay, có đôi bài đăng trên Tiểu Thuyết Thứ Năm, Phổ Thông, Phụ Nữ Diễn Đàn hay Văn Nghệ Tiền Phong là tôi xem như thần tượng, gởi thư cho tòa soạn xin địa chỉ viết vài dòng làm quen, dù rất hiếm khi nhận được hồi âm. Lớn lên, vào lính, ngoài hành trang ba lô súng đạn, tôi luôn mang theo hồn thơ lai láng. Khi ấy tôi cũng vừa khám phá ra điều thú vị: người lính, đời lính và tình yêu của lính chính là đề tài lớn nhất cho các nhà thơ, nhạc sĩ sáng tác. Những chiều dừng quân, nghe tiếng gió rừng hòa tiếng suối reo, hay những lúc băng qua cánh rừng đầy hoa sim tím, tôi lại buột miệng thì thầm vài câu thơ quen thuộc. Nàng thơ lúc nào cũng ngự trị trong tôi, theo tôi đến mọi chân trời góc biển.

Đơn vị tôi là một tiểu đoàn tác chiến lưu động, có mặt trên hầu hết các địa danh Vùng 2 Chiến Thuật. Rày đây mai đó. Có khi buổi tối còn đóng quân trong núi rừng Quảng Đức, Lâm Đồng, chiều hôm sau lại có mặt ở bờ biển Tuy Hòa, Phan Thiết. Tôi nhận trung đội với chỉ 25 người lính, Thượng nhiều hơn Kinh. Trong đó có một anh trung sĩ, tên Y- Broc Niê, có học hành, tư cách và kỷ luật. Đặc biệt anh có đôi mắt đẹp, mơ màng. Không biết gia đình giàu có thế nào, nhưng nghe nói anh được học trường Tây, nói tiếng Pháp còn giỏi hơn tiếng Việt. Trong ba lô của anh lúc nào cũng có cuốn Le Petit Larousse rất cũ kỹ và vài cuốn truyện tiếng Pháp. Anh được tất cả lính Thượng trong đơn vị kính nể, bảo điều gì cũng nghe răm rắp. Ngược lại anh cũng luôn quan tâm lo lắng đến đời sống và tranh đấu cho quyền lợi của họ. Xin cho được đi phép và cam kết họ sẽ trở lại đơn vị (vì thời ấy đa số lính Thượng khi về buôn bản, họ không muốn ra đi, bỏ lại nương rẫy vợ con nữa). Rất may là anh ta rất quí mến tôi. Hai thằng trở thành bạn thân khi tôi biết anh cũng rất thích thơ và biết làm thơ. Những ngày đóng quân trong rừng, anh thường ngồi đọc cho tôi nghe mấy bài thơ tình lãng mạn của các ông Jacques Brévert, Lamartine. Anh còn cho tôi nghe những bài thơ được anh dịch ra tiếng Thượng, và dạy cho tôi nói một vài tiếng Ê-đê. Anh hãnh diện khoe với tôi, anh là cháu ruột của nhân sĩ trí thức Y-Yut, người đã tìm hiểu mẫu tự La tinh và vần Ê-đê để đặt ra bộ chữ viết Ê-đê ngày nay. Đôi lúc tôi thắc mắc và thầm tiếc là tại sao một người sắc tôc có trình độ như anh mà chỉ làm trung sĩ tiểu đội trưởng tác chiến, tại sao chính phủ không xử dụng anh ở những vai trò khác hữu ích hơn, Nhưng rồi lại thấy nhờ may mắn có anh mà đời lính của tôi vui và thi vị hơn.

(more…)

Tiễn biệt ký giã Cao Sơn Nguyễn Văn Tấn

Published / by Phạm Tín An Ninh / Leave a Comment

(người sinh viên khí khái trong “Hàng Ngũ Sinh Viên Quốc Gia Chống Cộng”
giữa thập niên 1960 tại Sài gòn.)

Liên tục trong hai ngày cuối năm, 29 và 30.12.2013, đại diện hầu hết các hội đoàn tại Bắc Cali và đông đảo đồng nghiệp, thân hữu , bạn bè từ khắp nơi đã đến Oak Hill Funeral Home&Memorial tại thành phố San Jose để nhìn mặt lần cuối, nói lời từ biệt và tiễn đưa Cao Sơn Nguyễn Văn Tấn trở về với cát bụi, hư vô.

Rất nhiều người lên nói lời chia tay. Ngoài những bạn bè một thời thân thiết, từng cùng sống chết, thăng trầm, cùng chén thù chén tạc bên nhau, còn có cả những vị đã từng đụng chạm, ngộ nhận, tiếng bấc tiếng chì, bởi bản tính bộc trực, sôi nổi của Cao Sơn. Tất cả đã dành cho Cao Sơn lời ngợi ca, niềm cảm thông, thương tiếc.

Tình cảm ấy chắc chắn đã làm ấm lòng người ra đi, dù xác thân anh và cả đất trời San Jose đang trong những ngày giá lạnh.

Người nói lời tiễn biệt ngắn nhất, nhưng cảm động nhất hôm ấy, có lẽ là người bạn chí thân của Cao Sơn, từ thuở còn là sinh viên cho đến bây giờ, gần như lúc nào cũng có bên nhau: Nhà văn Thư Sinh. Anh không nói bằng lời mà bằng sự xúc động đến nghẹn ngào, sụt sùi với những dòng nước mắt. Thư Sinh Phạm Tài Tấn là người đã cùng hoạt động với Cao Sơn trong hàng ngũ sinh viên chống Cộng, từng chứng kiến nhiều hành động can đảm, khí khái của Cao Sơn. Thuở ấy họ đều là những sinh viên trẻ yêu nước bằng trọn trái tim đầy nhiệt huyết

(more…)

trang bạn hữu – thơ Phan Thị Ngôn Ngữ

Published / by Phạm Tín An Ninh / Leave a Comment

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nhặt nắng sân trường

 

Cổng trường xưa đã đóng tự bao giờ
sao sáng nay hồn tôi hồi chuông đổ
có nhịp guốc khua đi về đâu đó
đôi tà áo bay trắng nẻo đường chiều

Em về đâu – chiếc bóng nhỏ liêu xiêu
chân thấp cao qua thời tay bồng bế
chắc hẳn đang ngồi đếm đời dâu bể
quên giờ ra chơi nhặt nắng sân trường

quên ly cà phế đắng đậm mùi hương
những đêm mùa thi tập tành uống vội
chắc quên chiếc lá thuộc bài vô tội
nằm chết khô giữa trang sách vô tình

Em về đâu – đang cập bến hay lênh đênh
chắc cũng chẳng còn bao điều để nhớ
thuở học trò – giờ trả bài nín thở
hàm số – thập phân …con toán rối bời

phấn trắng bảng đen…mưa ướt sân chơi
ướt trang sử đã bao đời chìm nổi
đường Chiêm quốc bụi mù xa vời vợi
bước Huyền Trân rong ruổi mấy dặm ngàn

con chim nào nhớ bạn đứng hót khan
kẻng chưa đánh hồn lang thang biển gọi
quyển lưu bút chuyền tay nhau viết vội
sợ tiếng ve kêu rụng nhánh phượng hồng

sợ mốt mai dăm bảy đứa lấy chồng
bỏ trường lớp – bỏ một thời thơ dại
bỏ phố phường – những con đường trầm ngãi
tan học về chân lận đận theo chân

nắn nót bài thơ lỗi luật sai vần
nửa muốn trao nửa ngại ngần cất giữ
nửa hẹn lòng nửa đắn đo do dự
vành nón nghiêng con mắt giả lơ nhìn

Em về đâu – đầu sóng hay cuối ghềnh
cổng trường cũ hẳn vẫn muôn lần đợi
hãy nói với nhau bao điều chưa nói
giữ kín làm gì chỉ tội lòng đau

giữ kín làm gì thêm tội đời sau
mai với mốt – tháng năm rồi sẽ hết
mai với mốt – tháng năm đời mỏi mệt
tuổi học trò như gió thoảng mây bay

Phan Thị Ngôn Ngữ


chim bay về biển

Published / by Phạm Tín An Ninh / 1 Comment on chim bay về biển

Một mai chim bỏ bay về biển

Ta đứng một mình ngó nhánh sông

Ta khóc nhìn theo giòng nước chảy

Nghe trăm ngọn sóng vỗ trong lòng

(Sương Mai)

Một cánh chim vừa bay ra biển, nhỏ dần rồi mất hút giữa mênh mông. Tôi mơ hồ như hình ảnh của chính mình đang tìm về quê cũ. Hình dung đến thành phố Nha trang xưa, nơi mà nếu không có biển sẽ không còn lãng mạn để người ta nhắc nhớ, đắm say, cũng có thể làm nhẹ đi ít nhiều tiếc nuối của nhưng người Nha trang xa xứ.  Bờ biển cát từng chôn giấu những hang động tuổi thơ và ôm ấp dấu tích của bao cuộc tình thơ mộng, nước biển đã cuốn trôi đi, nhưng không thể xóa mất trong ký ức của nhiều cặp tình nhân mà bây giờ tóc ai cũng bạc. Âm thanh những ngọn sóng rì rào đã dệt nên những bài thơ, những bản tình ca từng làm khuấy động bao trái tim người, mà dư âm dường như vẫn còn vang vọng mãi.

Nha trang đẹp đẽ, hiền hòa và thơ mộng đó bây giờ đã không còn nữa. Đã trở thành một Nha trang xa lạ, như thuộc về ai đó chứ không phải của mình. Đó là cảm nhận xót xa của đám bạn bè tôi, không chỉ người đã rời xa mà cả những người vẫn còn ở lại với Nhatrang, sống với Nhatrang gần trọn một đời.

(more…)

vẫn còn vương tơ

Published / by Phạm Tín An Ninh / Leave a Comment

Lời Thưa

Thầy Võ Doãn Nhẫn là giáo sư dạy môn Triết khi tôi đang học lớp Đệ Nhất C  trường trung học Võ Tánh – Nha Trang. Khi ấy Thầy còn rất trẻ, có lẽ cũng vừa tốt nghiệp sư phạm từ Viện Đại Học Đà Lạt. Còn tôi là một đứa học trò không có gì đặc biệt. Học lực trung bình, kể cả môn Triết của Thầy, và cũng không nghịch ngợm phá phách lắm. Vì vậy mà sau này Thầy không còn nhớ đến tôi.

Rời trường một vài năm, tôi vào lính. Cuộc chiến càng lúc càng khốc liệt, cuốn tôi theo như cơn lốc xoáy. Năm tháng chỉ còn biết có súng đạn và mục tiêu trước mặt. Bạn cũ trường xưa là một quá khứ rất dễ thương, nhưng cũng đành mờ nhạt phía sau lưng.

Chiến tranh kết thúc, tôi bất ngờ thành người bại trận. Tù đày nghiệt ngã. Cả miền Nam cũng khốn cùng. Chia ly tan tác. Thầy trò, đồng đội tứ tán lưu lạc muôn phương.

Năm 2008, từ Bắc Âu sang Cali ra mắt tập truyện Ở Cuối Hai Con Đường, tôi bất ngờ gặp một cô bạn học cũ, và được biết tin Thầy đang sống ở thành phố San Diego. Tôi gởi biếu Thầy tập truyện với lòng biết ơn của một đứa học trò xưa, mà những bài viết hôm nay ít nhiều đã được thừa hưởng từ sự chỉ dạy của Thầy.

Tôi nhận được lá thư với nét chữ run run, không thẳng hàng, lời lẽ thật cảm động với sự ngợi khen và khích lệ của Thầy. Thầy cho biết trước đó, cũng đã có đọc qua một số truyện ngắn của tôi, nhưng không biết tác giả là học trò của mình ngày trước.

Điều làm tôi cảm động hơn khi biết sức khỏe của Thầy không mấy tốt. Thầy bị tai biến mạch máu não cách đây gần mười năm. Bây giờ liệt nửa người, chỉ quanh quẩn trong nhà với chiếc xe lăn. Bao dự tính, ước mơ có lẽ vĩnh viễn không còn thực hiện được.

Chúng tôi, một nhóm bạn cùng lớp rủ nhau xuống thăm Thầy. Một buổi trưa hè cháy nắng, Thầy ra ngồi trước hiên nhà hơn một tiếng đồng hồ để đợi đón đám học trò xưa. Lòng tôi thật cảm động. Sau đó, tôi còn biết thêm cô Cúc, người vợ chung tình hết lòng chăm sóc cho Thầy, lại là bà chị một người bạn học của tôi, rất thân thiết lúc hai đứa còn học bên trường Văn Hóa. Anh ta cũng đã tử trận tại Pleiku cuối năm 1973.

Nói năng hơi khó khăn, nhưng Thấy rất thích bàn luận về triết học, văn chương.  Những lúc như thế, tôi thấy đôi mắt của Thầy sáng lên rồi bỗng dưng trở nên u uẩn. Tôi nghĩ là Thầy đang tiếc nuối những chữ nghĩa, những tình tự văn chương còn lãng đãng ở đâu đó trong ký ức của Thầy. Thầy đang sống những tháng ngày buồn bã. Trường lớp, đồng nghiệp, học trò cùng phấn trắng bảng đen đã là một quá khứ mịt mờ xa – một quá khứ mơ hồ như thuộc về ai đó chứ không phải của Thầy.

Tôi năn nỉ xin Thầy viết lại. Dù Thầy chỉ còn một bàn tay hoạt động được, và tất nhiên trí óc Thầy cũng khá nặng nề, mệt mỏi, nhưng tôi tin là ký ức của Thầy sẽ trỗi dậy mãnh liệt, và trái tim của Thầy sẽ rung động hơn khi Thầy viết ra những gì đang còn đè nặng trong lòng Thầy. Và dù Thầy có viết được như ngày xưa, khi Thầy còn mạnh khỏe hay không, tôi hình dung những lúc Thầy ngồi trước máy vi tính, chậm chạp gõ từng mẫu tự trên bàn phím sẽ là những giây phút hạnh phúc nhất của Thầy.

Để có người đồng hành trên con đường có nhiều bông hoa nhưng cũng khá gập ghềnh ấy, tôi xin hứa sẽ cùng đi theo Thầy, viết với Thầy, và in chung thành một một tác phẩm kỷ niệm.

Và đó là lý do để tập truyện này ra đời, mang ý nghĩa  Vẫn Còn Vương Tơ, như cái tựa mà chính Thầy đã chọn.

tháng 8/2013
Phạm Tín An Ninh

chim bay về núi

Published / by Phạm Tín An Ninh / 2 Comments on chim bay về núi

(thay vòng hoa tiễn biệt Hải-Âu Phan Công Minh)

Buổi chiều, mùa hè Bắc Âu thường có những ngày mưa, ảm đạm. Tôi nhận được tin từ Nationwide Viet Radio (NVR) Hoa Thịnh Đốn, báo tin  Phan Công Minh vừa mới ra đi, trước đó chừng một tiếng đồng hồ. Lòng tôi chùng xuống, điều mất mát lớn lao ấy đã cho tôi cái cảm giác trống rỗng, mọi thứ chung quanh bỗng dưng đều trở thành vô nghĩa. Ngoài trời dường như gió đã ngưng thổi, một cơn mưa hạ vừa đổ xuống những hàng thông đứng lặng yên như chịu tang. Cơn mưa rào, đến ào ào nhưng dứt sớm. Đứng trên bao lơn nhìn ra phía trước. Cả một vùng không gian tĩnh lặng. Trước mắt tôi chỉ còn một điểm cử động duy nhất: cánh chim. Cánh hải âu lẻ loi, thư thả, nhịp đôi cánh bay về hướng núi rừng mờ xa phía trước, rồi từ từ mất hút giữa không trung. Bất chợt, tôi hình dùng đến Phan Công Minh, một cánh chim Hải Âu (*) vừa bay ngược v ề núi rừng thay vì ra biển.

(more…)

Đôi điều về một vị thầy khả kính

Published / by Phạm Tín An Ninh / Leave a Comment

Giáo sư Lưu Trung Khảo

Thời còn đi học, tôi không được may mắn học với giáo sư Lưu Trung Khảo. Thầy dạy ở Sài gòn và một vài trường ở các tỉnh miền Nam, tôi chỉ học ở Nha trang. Lúc vào lính tôi cũng chưa hề được gặp thầy, khi thầy có một thời gian trong quân ngũ. Thầy phục vụ ở Tổng Cục CTCT và Tòa Đô Chánh, còn tôi thì ở một đơn vị chiến đấu tại Vùng 2.

Sau 1975, Thầy định cư ở Mỹ, còn tôi ở mãi tận Bắc Âu, nên không biết những hoạt động của thầy. Sau này thỉnh thoảng đọc được một số bài viết của thầy, về chính trị, văn hóa và một số lãnh vực khác, tôi ngưỡng mộ một người hiểu biết rộng, rất nặng tấm lòng với quê hương dân tộc, và đặc biệt với các thế hệ hậu sinh. Thấy trước cái tên thật đẹp của thầy thường có kèm theo hai chữ giáo sư, tôi đi hỏi mấy anh bạn tốt nghiệp sư phạm, hy vọng đã từng là đồng nghiệp của thầy, cũng chỉ được biết có thời thầy dạy ở Nguyễn Trãi sau này là Chu Văn An, và cuối cùng về Bộ Quốc Gia Giáo Dục. Ngoài ra tôi cũng được biết thêm về các hoạt động rất đa diện và tích cực của thầy từ khi thầy đến  định cư ở Hoa Kỳ.

Năm 2007, nhân dịp sang Cali thăm con và mấy người bạn cùng đơn vị cũ, tôi bất ngờ được nghe vài chương trình Phật Giáo Hải Triều Âm trên Little Saigon Radio, có giới thiệu một số truyện ngắn của tôi: Người Bán Sách Trên Bãi Biển Nha Trang, Thằng Bé Đánh Giày Người Nghĩa Lộ, Tiểu Thơ, Đà Lạt Trời Mưa, Những Điều Mơ Ước… Người giới thiệu chính là giáo sư Lưu Trung Khảo. Tôi vui và hạnh phúc lắm, vì nghĩ mình chỉ mới tập tành viết lách, vậy mà được một vị giáo sư tiếng tăm giới thiệu và dành nhiều mỹ cảm cho các bài viết. Dù vậy, tôi cũng chỉ mới được nghe qua giọng nói từ tốn, mạch lạc và có sức lôi cuốn của thầy, nhưng chưa biết mặt thầy.

Đầu năm 2008, Tiến sĩ Trần Huy Bích, môt người tôi cũng chưa được hân hạnh quen biết, đọc ở đâu đó một số bài viết của tôi, đồng cảm và dành cho tác giả một cảm tình đặc biệt. Giáo sư Bích đã liên lạc với tôi qua email, hướng dẫn và khuyến khích tôi nên tập trung các bài viết để in thành sách, và ông sẽ giúp tổ chức một buổi ra mắt sách tại miền Nam Cali. Tôi khá bất ngờ, vì đó là điều tôi chưa hề dám nghĩ tới. Hơn nữa lúc ấy tôi còn khá lạ lẫm với Little Saigon, và ngại ngùng trước bao chuyện bon chen. Nhưng qua chữ nghĩa và lời nói, tôi biết đây là một vị thầy mực thước, khiêm cung, có tấm lòng nhân hậu đáng kính. Tôi vâng lời thầy dù trong lòng chưa hết băn khoăn. Lâu nay, tôi nghĩ viết lách chỉ là một hình thức giải tỏa phần nào những ẩn ức còn đè nặng trong lòng, và cũng chỉ để chia sẻ với một số đồng đội cũ, những bạn bè có tên trong các câu chuyện kể hay cùng hoàn cảnh thăng trầm, thế thôi. Tôi chưa hề có ý nghĩ phổ biến rộng rãi những bài viết, huống hồ chuyện in thành sách và ra mắt tác phẩm.

Giáo sư Trần Huy Bích liên tục khuyến khích, giới thiệu tôi đến một số bạn bè khác của thầy, những nhà văn, nhà giáo lão thành có tiếng tăm, trong số đó có giáo sư Nguyễn Thanh Liêm và giáo sư Lưu Trung Khảo. Lần đầu tiên nhận đựợc thư của thầy Lưu Trung Khảo, tôi vui và hãnh diện lắm. Không ngờ có một ngày được thầy gọi đến tên mình. Chưa gặp thầy, nhưng tôi cứ tưởng tượng và ái ngại, nghĩ mình từng là một đứa học trò dở, học hành nhếch nhác, liệu có xứng đáng được một vị thầy có tiếng tăm thương yêu, giúp đỡ.

Nhờ sự khuyến khích của giáo sư Bích rồi đến thầy Khảo, tôi mạnh dạn in tập truyện đầu tay “Ở Cuối Hai Con Đường” và xin chỉ xuất bản với mục đích góp vào quỹ Cứu trợ Thương Phế Binh VNCH. Điều mà tôi hằng ước ao, như để được trả phần nào món nợ máu xương quá lớn mà mình sẽ không bao giờ trả hết được.

Tháng 6/ 2008 tôi đến Mỹ. Giáo sư Trần Huy Bích tận tình giúp đỡ, đưa tôi đến gặp một số các cơ quan truyền thông: Little Saigon Radio, Radio Bolsa, Nhật báo Người Việt, Việt Báo, Viễn Đông, và đặc biệt gặp giáo sư Nguyễn Thanh Liêm và Lưu Trung Khảo. Hai thầy đã đồng ý giới thiệu tác giả và tác phẩm, không những trên một số đài phát thanh mà còn trong buổi ra mắt sách tại hội trường Nhật báo Viễn Đông.

Lần đầu tiên tôi được gặp thầy Lưu Trung Khảo tại văn phòng Hội Quán Tả Quân Lê Văn Duyệt của thầy Nguyễn Thanh Liêm. Hai thầy đã hỏi tôi nhiều điều về gia đình, cuộc sống, đặc biệt chia sẻ những đau đớn mất mát mà tôi đã phải trải qua trong và sau cuộc chiến. Thầy Khảo cho biết đã đọc qua tập truyện “Ở Cuối Hai Con Đường” và dành cho tôi nhiều khích lệ. Hôm ấy, tôi cùng đi với một người bạn. Anh là một sĩ quan cùng đơn vị, rất hiền lành. Sau 75, khi anh vào tù chưa tròn một năm thì cô vợ đã bỏ anh để lấy một cán bộ Cộng sản. Điều đau lòng hơn là ngay sau khi vừa mới ra tù, anh bị cô vợ bất nhân bất nghĩa này nghe lời xúi giục của gã chồng mới, đưa anh ra tòa với lý do là thời gian ở tù 7 năm chưa đủ “đền tội ác” để xin tòa bắt anh vào tù trở lại. Đã vậy còn đầu độc và xúi hai đứa con đến chửi bới hổn láo và định đánh cả cha ruột của mình. Kể xong câu chuyện, tôi nhìn thầy Khảo. Đôi mắt của Thầy đỏ hoe và vài giọi lệ còn đọng trên khóe mắt. Ngoài các đức tính khác, bây giờ tôi còn biết Giáo sư Lưu Trung Khảo là một người dễ động lòng trước nghịch cảnh, trái tim thầy luôn đầy ắp yêu thương, cảm xúc.

Buổi ra mắt tập truyện hôm ấy rất thành công. Phần lớn là nhờ sự giúp đỡ tận tình của Giáo sư Trần Huy Bích, và đặc biệt là sự thương yêu, cổ võ và những lời giới thiệu rất chí tình, cảm động của thầy Lưu Trung Khảo.

Tôi tự biết và cũng không bao giờ dám nhận mình là một nhà văn.  Về khả năng viết lách, tôi thấy mình vẫn mãi chỉ là một đứa học trò. Nhưng điều làm tôi vinh dự và hạnh phúc là được làm học trò của thầy Bích, thầy Liêm và thầy Lưu Trung Khảo.

Một người từng trải, khiêm cung như thầy, chắc chắn không thích người khác ca ngợi, nói tốt về mình. Kính mong thầy thứ lỗi. Viết những dòng này chỉ muốn nhắc lại vài kỷ niệm ít oi mà tôi may mắn đã có với thầy. Có thể, đối với thầy chỉ là nhỏ nhoi, nhưng với tôi là  rất đáng trân quý. Và cũng để mừng thầy trong ngày thượng thọ 80, khi tôi không có mặt chúc thọ thầy, để được nói với thầy một lời cám ơn, dù rất muộn màng.

Bắc Âu, tháng 6-2013

Phạm Tín An Ninh

trang bạn hữu – thơ Cung Vĩnh Viễn

Published / by Phạm Tín An Ninh / Leave a Comment

TIỄN NGƯỜI ĐI

Buổi chiều hôm ấy mưa tầm tã
cũng chẳng cầm em nán lại lâu
«vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách»
câu nói người xưa chẳng đúng đâu.

Em đi mưa gió không ngăn nổi
để lại đằng sau dĩ vãng sầu
bạn bè gặp gỡ đều như thể
né tránh dùm ta một nỗi đau.

Giữ thì giữ được tâm người ở
làm sao giữ nổi kẻ ra đi
ngóng hoài ở cuối chân mây vắng
thấp thỏm lòng ta được nỗi gì.

Em đi biển đã vang lời gọi
bến lạ bờ xa những dấu chân
lớp sóng thủy triều bôi xóa hết
em có tìm ra chính tự thân?

Sống trọn đời mình không phải dễ
để mà không phải thấy ăn năn
trong cuộc kiếm tìm vô vọng ấy
cái bóng nhiều khi lẫn cái hình.

Đã đổi thay rồi mỗi sát na
trời thì thăm thẳm đất bao la
chợt có hôm nào dừng chân lại
có xót cùng ta một nỗi nhà?

Đường vẫn xa hay đã thấy gần
hiểu thêm một chút nghĩa phù vân
quên đi câu vẫn thường ngâm ngợi
«sắc bất ba đào dị nịch nhân».

cung vĩnh viễn

Một thoáng Pleiku

Published / by Phạm Tín An Ninh / 5 Comments on Một thoáng Pleiku

Phạm Tín An Ninh

Thật lòng, tôi không có nhiều gắn bó với Pleiku. Và dường như cái phố núi buồn hiu ấy đã cho tôi nhiều nỗi buồn hơn là niềm vui. Vậy mà khi đã xa -thực sự vĩnh viễn xa- Pleiku rồi, tôi lại thấy da diết nhớ,  trăn trở với cái cảm giác mình có tội với Pleiku, và mãi mãi sẽ còn nợ phố núi này một lời xin lỗi.

Tôi chưa (và có thể không) có dịp về thăm lại Pleiku, nên cái xa cách ấy lại càng thấy mịt mùng. Cái phố núi vốn đã bé nhỏ, như một ông nhà thơ đã ví von “đi dăm phút trở về chốn cũ” ấy,  giờ với tôi dường như chỉ còn là chút sương khói trong lòng. Điều kỳ lạ là chút khói sương mờ ảo ấy cứ luôn lãng đãng trong ký ức và trái tim già cỗi của tôi, như những mảng mù sương từng bao phủ, giăng mắc trên phố núi Pleiku ngày trước.

Nếu không có cuộc chiến Kontum, có lẽ sẽ không có dấu chân nào của tôi trên bùn lầy đất đỏ Pleiku. Dẫu là dấu chân của người lính chiến. Chợt đến chợt đi, hay có khi nằm lại vĩnh viễn trên núi rừng heo hút vô danh. Thống thuộc một đại đơn vị có bản doanh tại Ban Mê Thuột, nhưng đơn vị tôi có hậu cứ tại Sông Mao (Phan Thiêt) và  đảm trách một vùng hành quân khá rộng lớn dọc theo miền duyên hải. Đúng ngày cuối năm âm lịch 1972, khi cả đơn vị đang chuẩn bị cho quân sĩ ăn Tết tại doanh trại Lý Thường Kiệt – Sông Mao, chúng tôi nhận lệnh di chuyển khẩn cấp lên An Khê, thay thế cho một đơn vị của Sư Đoàn 101 Không Kỵ Hoa Kỳ rút quân về nước, và tăng cường cho mặt trận Bình Định, khi một số đơn vị của Sư Đoàn 22BB hoạt động ở đây, vừa di chuyển lên mặt trận Dakto, Tân Cảnh.

Loanh quanh ở An Khê chưa được hai tháng, cùng với Thiết Đoàn 3 Kỵ Binh tăng phái, đánh vài trận, giải tỏa một số căn cứ của Sư Đoàn Mãnh Hổ Đại Hàn nằm dọc trên đèo An Khê bị Cộng quân tạo nhiều vòng đai vây hãm, đơn vị chúng tôi được lệnh di chuyển khẩn cấp lên phi trường Pleiku để được không vận lên Kontum.  Bộ Tư Lênh HQ Sư Đoàn 22BB vừa bị tràn ngập tại căn cứ Tân Cảnh và vị Tư Lệnh đã ở lại để vùi thây nơi chiến địa cùng với quân sĩ dưới quyền. Địch quân đang trên đà tràn xuống trong ý đồ chiếm lấy Kontum.

Tôi đến Pleiku như vậy đó. Thời gian chưa đủ nhìn một dãy phố và núi đồi chạy dọc theo con đường dẫn ra phi trường Cù Hanh. Tôi có cảm giác chưa đến thì đã rời khỏi Pleiku. Hơn tám tháng sống chết với chiến trường và giữ vững Kontum, chúng tôi được kéo về Pleiku dưỡng quân và bổ sung quân số. Đây là phần thưởng đặc biệt cho một đơn vị tạo nên kỳ tích trong trận chiến đẩm máu để có một “Kontum Kiêu Hùng”.  Một tháng đóng quân trên Đồi Đức Mẹ. Lại là một tháng “gió lạnh mưa mùa”. Cả núi đồi và thành phố Pleiku mờ mịt và lầy lội trong mưa. Hình ảnh của bao nhiêu bạn bè đồng đội vừa mới hy sinh trên chiến trường Kontum lúc nào cũng hiện ra trước mặt, đau đớn tựa hồ như những nhát chém còn rỉ máu trong lòng. Muốn tạm quên chốc lác đã là một điều không dễ. Bọn tôi cần được say. Mỗi ngày chỉ ra phố để uống rượu. Thỉnh thoảng đi nhận đám lính bị Quân Cảnh của ông đại úy Hiển bắt. Khi đó tôi đâu có biết ông đồn trưởng Quân Cảnh này là nhà thơ Hoàng Khởi Phong, cũng chịu chơi, nhậu nhẹt, lãng mạn (và vi phạm quân phong quân kỷ?)  như ai.

Pleiku có nhiều quán cà phê và nhiều khuôn mặt mỹ nhân, nhưng chúng tôi chỉ chọn các quán rượu. Dường như cà phê không đủ ấm, không đủ để quên, và cái say của rượu cũng chóng phôi pha hơn cái say đàn bà, con gái. Hơn nữa chỉ được có một tháng, mà trước mặt là những trận chiến đẫm máu đang chờ. Chẳng ai muốn vương vấn nợ tình.

Riêng tôi còn có một anh bạn, Liên Đoàn Trưởng BĐQ trú đóng ở Biển Hồ. Vợ và hai đứa con chết thảm tại Quảng Đức vì xe bị VC giật mìn, nên bây giờ anh chỉ làm người tình với rượu. Tôi bị anh kéo theo cái vòng “tục lụy” này.

Lúc trước anh là một cấp chỉ huy nổi tiếng trong BĐQ, thời gian binh chủng này mới thành lập. Nhưng sau đó do ảnh hưởng từ các phe nhóm chính trị, anh đã bị bắt đi tù một thời gian, ngưng thăng cấp và sau đó chuyển đến đơn vị tôi, với cái lệnh “không được giữ chức vụ chỉ huy nào.” Biết anh là một niên trưởng và từng dạn dày lửa đạn, tôi tận tình giúp đỡ an ủi anh. Thời gian sau anh bỗng dưng được “vô tội”, trở lại binh chủng, thăng cấp và chỉ huy một Liên Đoàn BĐQ tại QK2.

Do cái ân tình đó, nên những ngày không hành quân, anh đến kéo tôi ra quán rượu. Tôi chỉ nhìn Pleiku qua những cơn say. Vì vậy Pleiku với tôi càng nhỏ hẹp hơn, chỉ là không gian của một quán rượu trong khu Chợ Mới.  Một tháng, tôi chưa hề biết tên một con đường, thì làm sao biết được tên của một mỹ nhân , để “may mà có em đời con dễ thương !”

Tôi rời khỏi Pleiku một ngày sau khi thành phố Ban Mê Thuột vừa lọt vào tay giặc. Sáng ngày 13.3.75, theo những toán quân đầu tiên của đơn vị được trực thăng vận từ Hàm Rồng đổ xuống Phước An, quận lỵ duy nhất còn lại của tỉnh Darlac, nằm cách BMT khoảng 30 cây số trên QL 21 về hướng Nha Trang. Khi một nửa đơn vị vừa xuống Phước An, thì Pleiku có lệnh di tản. Một nửa quân số còn lại phải di chuyển theo đoàn quân trên Tỉnh Lộ 7B. Một cuộc triệt thoái sai lầm, tệ hại và bi thảm nhất trong chiến tranh.  Nửa đơn vị của tôi gần như bị xóa sổ. Hai người bạn thân của tôi đều là tiểu đoàn trưởng đã tự sát, nhiều đồng đội đã chết trong đớn đau tức tưởi.

Hình ảnh cuối cùng của Pleiku trong mắt tôi là dãy núi Hàm Rồng, nhưng trong trí óc tôi chỉ còn đọng lại những cái chết bi tráng của đám bạn bè đồng đội cùng với những người Pleiku mà tôi chưa kịp biết mặt, làm quen. Và trong lòng tôi, dường như Pleiku chỉ có thế. Không phải là những con đường, góc phố, là rạp ciné Diệp Kính, Thanh Bình, hội quán Phượng Hoàng, quán cà phê Dinh Điền, cà phê Văn, cà phê Lính, Bắc Hương, Thiên Lý, và lại càng xa lạ với những ngôi trường mang tên Pleime, Pleiku, Phạm Hồng Thái, Minh Đức, Bồ Đề..mà những cô học trò ngày ấy bây giờ đang mang theo cái hồn Phố Núi đi khắp muôn phương. (Giờ nghĩ lại, tôi thấy mình khờ khạo biết bao nhiêu!)

Ngày ấy, tôi là thằng lính bộ binh, một thứ lính “hạng bét”, chỉ có khốn khổ gian truân và chết chóc. Tháng năm lặn lội trong núi rừng, chỉ còn biết có súng đạn và mục tiêu trước mặt. Được chút thời gian không đủ cho một cơn say, thì đâu còn biết gì tới thơ với thẩn (mặc dù tôi vốn mê thơ – nhưng rất dốt về thơ). Ngoài bài hát nổi danh được phổ từ thơ Vũ Hữu Định, tôi chưa hề được đọc thơ các thi nhân nổi tiếng một thời của Pleiku hay viết về Pleiku. Sau này đọc Nguyễn Bắc Sơn, Nguyễn Mạnh Trinh, Kim Tuấn, Nguyễn Xuân Thiệp, Võ Ý, Cao Thoại Châu, Hoàng Khời Phong…, tôi thấy hối tiếc quá chừng. Pleiku đẹp quá, dễ thương, thơ mộng quá.

Nguyễn Bắc Sơn, nhà thơ một thời hành quân đánh giặc ở Mật khu Lê Hồng Phong, Sông Mao, nơi đơn vị tôi trú đóng, từng viết những câu thơ hào sảng ;

Ngày mai đánh giặc may còn sống
Về ghé Sông Mao phá phách chơi,
Uống rượu tiêu sầu cùng gái điếm
Đốt tiền mua vội một ngày vui

….

cũng từng bị “đày” lên Phố Núi, nhưng giờ thì đắm say ánh mắt của một nàng thiếu nữ Pleiku:

Ðứng trên núi thấy hàng đèn thị trấn
Là thấy mình buốt lạnh mấy nghìn năm
Vì đêm nay trời đất lạnh căm căm
Nên chợt nhớ chút lửa hồng bếp cũ
Nên phải nhớ mắt một người thiếu nữ
Ðã nhìn mình rất ấm một ngày xưa
Dù mai sau ngày nắng tiếp ngày mưa
Nhưng vĩnh cửu chút mơ màng thuở đó

….

Vậy mà hơn một tháng ở Pleiku tôi đã ngu ngơ, lãng phí. Không nhìn ngắm, mơ mộng với Pleiku mà chỉ biết say với rượu. “Ta say, trời đất cũng say.” Tôi đã bắt Pleiku say với tôi, mà đáng lý ra tôi phải say đắm với Pleiku mới phải. Đôi khi tôi cũng tự gạt để an ủi mình “Có thể chính mấy ông nhà thơ này đã làm cho Phố Núi đẹp hơn, thơ mộng và lãng mạn hơn những gì nó có?” Nhưng có lẽ tôi đã nhầm, sau này được dịp làm quen với những người Phố Núi, tôi chợt nhận ra rằng Pleiku đâu chỉ có những ông thi sĩ tài danh ấy, mà dường như  cứ mỗi người Pleiku đã là một nhà thơ, hay ít nhất cũng là một bài thơ chưa được viết thành lời.  Dẫu gì, tôi cũng có tội với Pleiku.

(more…)

nha trang – chuyện cũ

Published / by Phạm Tín An Ninh / 5 Comments on nha trang – chuyện cũ

Xa quê nhà đã lâu. Mỗi lần đi đến một địa danh xa lạ nào đó, nhất là những dịp lái xe chạy dọc theo một bờ biển đẹp, lòng tôi lại nôn nao cái cảm giác như đang trên đường ngược về quê cũ – Nha Trang. Thành phố đã chôn giấu giùm tôi bao hang động tuổi thơ, dấu tích của những mối tình học trò một thời vụng dại, mà sau cơn sóng tháng tư năm nào bất ngờ ập xuống, ngỡ tất cả đã biến mất, có còn chăng cũng chỉ là chút sương khói mơ hồ trong lòng một người lưu lạc.

Ngày xưa, khi còn là cậu bé học trò, tôi từng nghĩ trên thế gian này có lẽ không nơi nào thơ mộng, hiền hòa và dễ thương bằng Nha Trang của tôi. Với tôi, nơi ấy còn là xứ thần tiên nữa. Bởi khi buồn, chỉ cần đạp xe dọc theo con đường Duy Tân lộng gió, nhìn biển trời mênh mông, nghe tiếng sóng rì rào, là cảm thấy lòng mình như vừa được vuốt ve, âu yếm. Ngôi trường Võ Tánh trên đường Bá Đa Lộc cũng nằm gần biển, nên cả một thời đi học, nhờ mỗi ngày được vỗ về bằng âm thanh rạt rào của biển và tình mến yêu của thầy, của bạn, mà tôi đã quên đi nỗi buồn tuổi thơ bất hạnh, ngước mặt hăm hở nhìn bầu trời xanh bao la với bao khát khao, ước vọng. (more…)

trang bạn hữu – truyện Tâm Thanh

Published / by Phạm Tín An Ninh / 2 Comments on trang bạn hữu – truyện Tâm Thanh

Trích Tiên

Tâm Thanh

Căn cứ không quân Banak trong một ngày hè uể oải. Dưới nắng chói chang, đường bay trải dài loang loáng như có ai khéo tạt một vũng nước vuông vức ra tận vịnh Porsangen. Ba dãy trại sơn trắng, ghép thành hình chữ U nằm buồn như chợ chiều. Cái hăng-ga khổng lồ đóng cửa im ỉm. Tôi ngồi “gác kiểng” trên đài quan sát, mường tượng cảnh những chiếc máy bay F-16, F-5 tấp nập lên xuống hồi Nato còn đóng ở đây. Bây giờ chỉ còn đàn hải âu lười biếng lượn trên bầu trời trong. Giá tôi có thể thả cho đời trôi như thế. Tiếng chuông điện thoại reo. Tôi hấp tấp bắt máy:

– Ðài quan sát, phi trường Banak, tôi nghe đây ạ.

– Thân đấy hả? Nghe đây: Có một người Việt Nam, đang ở phòng cảnh sát Tana, không biết một chữ Na-uy. Họ cần người dịch. Cậu có muốn giúp họ không?

Tôi nói như trẻ con xí đồ chơi:

– Dạ, muốn chứ, thiếu tá.

– “Muốn chứ”- ông thiếu tá có tật nhái lời, lúc mới nhập trại tôi cứ tưởng ông kỳ thị, rồi tiếp -Nửa giờ nữa có người lên gác thế, anh xuống văn phòng gặp tôi. Có trực thăng tới đón. (more…)

Tuy Hòa – thương ghét

Published / by Phạm Tín An Ninh / 2 Comments on Tuy Hòa – thương ghét

Tuy Hòa – Thương Ghét

Phạm Tín An Ninh

 

T ôi không phải là người Phú Yên, cũng chẳng có mối tình nào gởi lại Tuy Hòa, nhưng dường như cái xứ có núi Nhạn sông Đà thơ mộng ấy đã mãi vương vấn tâm hồn tôi, in đậm trong ký ức tôi những mối tình đẹp, thật dễ thương của đám bạn bè, đồng đội, cùng bao kỷ niệm vui buồn một thời trận mạc. Khi ấy bọn tôi còn rất trẻ, đa số vừa mới rời khỏi học đường vài ba năm để bước chân vào nơi gió cát.

Ngày mang “sự vụ lệnh” về trình diện đơn vị tại Ban Mê Thuột, tôi và bốn thằng bạn cùng khóa cứ ngỡ cuộc đời mình sẽ dính liền với rừng núi của xứ “bụi mù trời” và “buồn muôn thuở”, chỉ còn biết nằm nghe tiếng chim kêu vượn hú. Ai ngờ sau hai tuần lang thang quanh quẩn trong con phố buồn hiu, ngắm mấy cô gái Thượng mang gùi đi xuống đi lên trên con đường A Ma Trang Long bám đầy đất đỏ, bọn tôi được ông Trưởng phòng 1 lái xe đi tìm chở về Câu Lạc Bộ Sĩ Quan, vội vàng lấy balô quân trang, rồi đưa thẳng ra phi trường Phụng Dực, tháp tùng phi cơ của ông tư lệnh, đại tá Lữ Lan, bay xuống đơn vị đang hành quân tại Khánh Hòa, ngay vùng biển quê hương tôi. (more…)

trang bạn hữu – thơ Khánh Hà

Published / by Phạm Tín An Ninh / 1 Comment on trang bạn hữu – thơ Khánh Hà

 

 

Cổ Thành

(tặng Phạm Tín An Ninh)

Giữ hộ em một góc Cổ Thành
bên bờ biển xanh rạt rào sóng vỗ
rặng thùy dương vi vu trong gió
bản tình ca bất tận
thuở mới vào đời

Giữ hộ em
tiếng chuông chùa đồng vọng trên đồi cao
tiếng chuông nhà thờ ngân nga khi chiều xuống
những hàng phượng xanh mùa hè đỏ thắm
những cây muồng rực rỡ hoa vàng

Giữ hộ em
hàng dừa nghiêng nghiêng trong nắng
rặng phi lao uốn mình trong gió
và những con đường tĩnh mịch
hai hàng cây chụm đầu tình tự
những góc đường, hè phố ngóng trông nhau
một đêm trăng nào
dấu chân ta in trên bờ cát trắng

Năm tháng trôi qua
đôi ta đã già
tất cả đã tàn phai
Ở hai nơi nào đó trên trái đất
đêm ngày khác nhau
qua những bến bờ lưu lạc
vẫn còn trong em và trong anh
sừng sững một Cổ Thành

Cổ Thành của riêng ta
Ta sẽ về
thắp lại vầng trăng thơ ấu
trổi lên khúc nhạc muôn đời của biển
đánh thức những rặng thùy dương
để nghe lại bản tình ca bất tận
thuở mới vào đời.

Khánh Hà

Lá Thư Úc Châu

Published / by Phạm Tín An Ninh / Leave a Comment

( trên báo VNTP, Trang Nhà ĐHSP, QGHC..)

Tập truyện “Rừng khóc giữa mùa xuân”
của Phạm Tín An Ninh phát hành tại Úc châu

NXVan

Trong khoảng thời gian 6 năm trở lại đây, tại hải ngoại, chúng ta thấy có sự xuất hiện của một nhà văn gốc lính là anh Phạm Tín An Ninh (PTAN) mà một số tác phẩm của anh hầu hết được các báo chí Việt ngữ khắp nơi đăng tải vì có liên quan đến thời chinh chiến trước 75 với tình chiến hữu, tình đồng đội, tình đồng bào ruột thịt, nói chung là Tình Người đã nằm bàng bạc hầu hết trong các câu chuyện rất bi tráng của anh ở cả hai miền Nam Bắc kể cả những mảnh đời tan vỡ sau 75.

Lần trước, anh đến Úc châu với hành trang là tập truyện ở Cuối Hai Con Đường, Ls NV Thuần là Trưởng ban Tổ chức các buổi Ra Mắt Sách tại Úc châu. Lần này cũng vậy, nhưng vì lý do phải điều trị mổ mắt ở Na uy, anh đã không thể đến Úc được nên Ls Thuần đã tiếp tục gánh vác vì nghĩa cả. Nhờ sự hổ trợ tích cực của Cộng đồng NV tại Úc cũng như quý đồng hương khắp nơi, Ls Thuần đã hăng hái tổ chức các buổi ra mắt sách rất thành công tại 4 thành phố lớn ở Úc là Sydney, Brisbane, Adelaide và Melbourne.

Chúng ta đã từng say mê đọc các truyện của anh PTAN. Cái đẹp của các tác phẩm của anh không chỉ thể hiện cái tình người qua những giòng chữ, những trang sách, mà cao quý hơn nữa, anh đã đến Úc châu mang theo cả trái tim nhân hậu. Điều này ít nhà văn nào làm được. Lần trước, anh đã tặng hiến tất cả số tiền thu được trong các buổi RMS tại Úc ước lượng có trên $30 ngàn Đô Úc (AUD) đến quý TPB/VNCH hiện còn đang sống lấy lất ở quê nhà. Anh PTAN là người đã sinh ra đứa con tinh thần là tập truyện, Ls Thuần lại là người thực hiện hoài bão của anh PTAN tại Úc châu. Trong chuyến đi lần trước, anh PTAN đã tự bỏ tiền túi cho tất cả các chuyến bay đến Úc cũng như di chuyển trong nội địa cho cả anh lẫn chị và cháu gái mà không nhận lại một đồng nào! Lần này cũng thế, chỉ có điều khác biệt là không có tác giả PTAN. Nhưng với nhu cầu đặc biệt của Cộng đồng NV ở Úc, Anh PTAN cũng như Ls Thuần đã hoan hỉ Ra mắt sách nơi đây là để tiếp tục góp phần nhỏ vào việc giúp đỡ các TPB/VNCH ở quê nhà, phần khác gây quỹ Xây Dựng Đài Tưởng Niệm Thuyền Nhân tại thành phố Brisbane mà Cộng đồng hằng đeo đuổi bấy lâu nay.

Nhà văn PTAN (người chưa bao giờ chịu nhận mình là nhà văn) sinh năm Quí Mùi (1943). Quê quán Làng Phú Hội, Huyện Vạn Ninh, Tỉnh Khánh Hòa. Mẹ anh mất lúc anh mới lên 3 tuổi. Cha bị chết trong tù cải tạo tháng 6/1976. Lúc nhỏ học ở trường Văn Hóa rồi được tuyển sang Trường Võ Tánh, Nha Trang. Đi lính Khóa 18 SQTB Thủ Đức. Mười năm phục vụ tại SĐ 23 BB (chuyên về tác chiến và tham mưu). Bị tù cải tạo 8 năm. Vượt biên và định cư tại vương Quốc Na uy cùng gia đình năm 1985. Làm việc tại Ngân hàng Bưu Điện Na uy và về hưu đầu năm 2008.

Trong tập truyện Rừng Khóc Giữa Mùa Xuân (RKGMX) lần này, anh PTAN có nhắc đến những khung trời, những địa danh, những con người mà người viết khá quen thuộc một phần trong đó. Điều đó cũng dễ hiểu vì ở quê nhà, người viết ở rất gần nhà anh, hai anh em ở cách nhau chỉ chừng 3 cây số. Chúng tôi không muốn, và cũng không thể đi sâu vào các tình tiết éo le của các câu chuyện kể vì trang báo có hạn. Điều này xin dành cho sự tò mò, ngưỡng mộ và khám phá của quý độc giả. Tuy nhiên người viết xin đóng góp vài ý nghĩ trong vài câu chuyện sau đây:

(more…)

trang bạn hữu- truyện Tâm Thanh

Published / by Phạm Tín An Ninh / 1 Comment on trang bạn hữu- truyện Tâm Thanh

Cổ Thành

(tặng Phạm Tín An Ninh)

Tôi ngạc nhiên vô cùng khi nhận được một phong thư lạ, giấy Việt Nam, tem và nhật ấn Ba-lan. Thư không đề ngày tháng, không ký tên. Nhưng khi tôi bắt đầu đọc thì từng chữ, từng giòng sáng ngời kỷ niệm. Và tôi bàng hoàng chất ngất khi đọc tới giòng cuối cùng “Tái bút: J’habite la Citadelle” (em đang ở Cổ Thành).

Thuở đó, Nha Trang. Từ mùa hè, tôi thấy tâm hồn và thân thể tôi có nhiều thay đổi… bạo. Tôi bắt đầu thấy rạo rực bâng khuâng và thích nhìn trộm các nữ sinh cùng lớp. Ngày tựu trường (tôi học trường Văn Hóa) thấy một số học chung đệ ngũ như Bạch Yến, Ánh Mai, Bích Tùng v.v. đã vào cùng lớp, tôi thấy ‘yên bụng’. Nhưng tôi vẫn cảm thấy thiếu một người, mà không rõ rệt là ai, tất nhiên không phải mấy thằng khỉ khọt Bổn, Cường, Ngạn, Trương. Cho tới khi thầy giám thị đưa một đứa con gái tóc bom-bê vào, thì tôi biết đứa con gái tôi cảm thấy thiêu thiếu cả tuần nay chính là con này- Phương Thi. Tôi cũng thấy mới qua ba tháng hè mà nó đã thay đổi nhiều, có cái gì khác … con trai. Dáng đi sao đâm ra yểu điệu thế kia? Áo của nó giặt thuốc gì mà sạch thế? Và làn da kia, ba tháng hè nắng nôi mà cứ trắng như trứng gà bóc! Và ôi, đôi mắt khi nó thoáng nhìn tôi… tôi thấy lòng bay bổng lên! Những dấu hiệu đó, hồi học lớp đệ ngũ, tôi đâu có thấy. Ngay cái hôm chia tay đi nghỉ hè, nó bao tôi ăn chè trước cổng trường và tôi quẹt mồm hẹn “năm tới mình sẽ học chung?” nó nói “ai biết được sang năm?” nó vẫn chỉ là một “thằng” bạn xinh xắn, dịu dàng, cùng tôi ganh đua học giỏi.

Thầy giám thị hội ý với thầy Ph., rồi bảo tôi ngồi xích vô (tôi ngồi đầu bàn đầu) và nói với Phương Thi:

– Ngồi tạm chỗ này.

Phương Thi rón rén ngồi xuống. Tôi nghe mát rượi bên cạnh, mà lòng thì nóng ran. Cái thời tiết bên nắng bên mưa kỳ lạ này làm tôi rùng mình, và tôi nghe một mùi hương ngọt ngào, nhưng nồng nàn át cả mùi phấn bảng, mùi gỗ ẩm từ bàn ghế, và mùi khét nắng của bọn con trai. Đó không phải là mùi nước hoa của các cô giáo. Đó là mùi thơm tự nhiên của lúa non, mùi nước dừa. Tôi “chịu trận” với mùi hương đó, và vài tiếng cười khọt khẹt của mấy thằng cốt đột đằng sau cho tới hết giờ học, không một chữ vào đầu. Chuông ra chơi reo, tôi mới dám quay sang mỉm cười với Phương Thi. Phương Thi mỉm cười lại. Nụ cười tươi sáng, dịu dàng, nhưng khi soi vào đáy đôi mắt ân cần đó, tôi đoán ngay là nụ cười của tôi chắc rất méo mó, khó coi. Phương Thi nói khẽ:

– Ph…ú…!

Giọng của nó cũng khác, trong hơn, mềm hơn, nhiều gió hơn trong âm ‘ph’. Và chính cái giọng này vừa gọi tên tôi đấy! Từ đó tôi không bao giờ gọi Phương Thi là ‘nó’ hay ‘con’ nữa, dù giữa mấy đứa con trai ngổ ngáo hay… trong đầu. Trong đầu tôi, Phương Thi trở thành ‘nàng’, ‘nàng Thơ’, gọi tắt là Thi. Cũng chả có gì là lạ, ngay từ đệ ngũ hai chúng tôi đã thi nhau viết văn, sưu tập thơ.

(more…)

Đọc “Rừng Khóc Giữa Mùa Xuân” – Quỳnh Đào

Published / by Phạm Tín An Ninh / Leave a Comment

Quỳnh Đào

Là một cựu chiến binh quân lực VNCH, như đa số những đồng đội của anh, nhà văn Phạm Tín An Ninh đã phải trải qua nhiều năm trường gian khổ trong trại tù cải tạo. Anh viết nhiều về thân phận những người hùng ngã ngựa, mà theo nhà thơ Quan Dương, những người lính VNCH chỉ cần giở sách anh ra là hầu hết sẽ thấy chính mình trong đó. Trong cả hai tác phẩm của mình, gồm tác phẩm đầu tay “Ở Cuối Hai Con Đường” và tác phẩm thứ hai với tựa đề “Rừng Khóc Giữa Mùa Xuân” được giới thiệu đến độc giả ngày hôm nay, tác giả đều có những dòng vinh tặng trang trọng dành cho thân phụ của anh đã không may qua đời trong traị tù cải tạo cùng với đồng đội, bạn bè của anh đã chết trong chiến tranh hay ngục tù cộng sản.

Trong những cuộc phỏng vấn, Phạm Tín An Ninh nói rằng anh không hề muốn là một nhà văn, mà chỉ muốn viết để vơi bớt những đớn đau dằn vặt trong lòng mình, đặc biệt là để chia sẻ những nỗi đau thương mất mát với đồng đội của mình. Thế nhưng anh đã đạt được những thành công vượt ra ngoài dự tính trong những buổi ra mắt sách tại Hoa Kỳ cũng như tại Úc Châu. Các truyện ngắn của anh đã tạo nên tiếng vang tại nhiều nơi trên thế giới, và được sự đón nhận và cảm thông đến từ mọi thành phần độc giả, kể cả thế hệ trẻ, bao gồm thế hệ một rưỡi ở nước ngoài như cá nhân người soạn bài viết này, và ngay cả nhiều độc giả rất trẻ ở trong nước. Điều này cho thấy ngòi bút của Phạm Tín An Ninh có sức rung động vượt ra khỏi giới hạn của những hồi tưởng dành riêng cho những người lính, vì nó đã phản ảnh được những gì rộng lớn hơn, đó là số phận bi thảm của cả một đất nước và một dân tộc từ sau ngày miền Nam thất thủ, và những long đong của thân phận con người.

Trong “Rừng Khóc Giữa Mùa Xuân”, cũng như trong “Ở Cuối Hai Con Đường”, hình ảnh những người lính VNCH trước và sau tháng 4/1975 cũng như tình cảnh của những người thân thương của họ, là những hình ảnh nổi bật nhất, bi tráng nhất. Đây là những người trai trẻ sanh ra lầm thời đại, lầm thế kỷ. Chúng ta gặp những người bạn cùng làng, cùng lớp, hoặc cùng khoá huấn luyện, cùng đơn vị với tác giả, những thanh niên yêu đời, yêu người, với những ước mơ hiền hòa, những vui đùa vô tư như biết bao nhiêu thanh niên khác, nhưng họ chỉ được hưởng một thời gian hạnh phúc quá ngắn ngủi, để rồi phải vào lính xông pha ngòai trận địa.

Nhiều người trong số họ đã vĩnh viễn ra đi, những sự ra đi quá sớm, quá đột ngột, như nhân vật Phan trong truyện ngắn ‘Những đám mây trên đỉnh núi Phổ Đà’. Người học trò hiền hòa tốt bụng, đa sầu đa cảm tên Phan chỉ vừa biết yêu, nhưng tốt nghiệp khoá huấn luyện Thủ Đức không bao lâu thì tử trận. Phạm Tín An Ninh viết về những mất mát về sinh mạng hết sức to lớn của cả một thế hệ thanh niên trong cuộc chiến tranh phi nghĩa do Cộng Sản Bắc Việt gây ra, và` buộc miền Nam tự do phải chống trả lại để tự vệ. Trong thời gian giữa tháng 3/ 75, sau khi thành phố Ban Mê Thuột mất vào tay giặc, đơn vị của anh từ Pleiku sau đó phải triệt thoái theo con đường tử lộ 7B, khi về đến Tuy Hòa chỉ còn gần một phần tư quân số. Anh viết, ‘Rất nhiều đồng đội, bạn bè của tôi đã chết hay mất tích. Hai thằng bạn thân đều là tiểu đòan trưởng đã tự sát trước khi vào tay giặc’.

Những người sống sót qua cuộc binh đao, qua những năm tháng đoạ đày trong trong ngục tù cộng sản, khi được thả về lại phải đối diện với nhiều oan khiên trong cuộc sống. Bản thân tác giả, sau 8 năm tù tội, trở về làng cũ gặp người bạn cùng làng đã được thả về trước tác giả một năm. Cả hai bây giờ phải sống lang thang bên lề xã hội. Nhân vật Hồ Ngọc, người bạn tác giả, người quân nhân VNCH cao lớn đẹp trai tài hoa với biệt tài thổi sáo ngày xưa, bây giờ kiếm sống qua ngày bằng việc làm vườn trồng rau và sửa chữa xe đạp. Trong thời gian anh ở tù, người vợ xinh đẹp của anh bị một tên công an hãm hại và sau đó chị buộc lòng phải lấy hắn ta và có với hắn ta một đứa con gái. Còn những oan trái khác trong đời Hồ Ngọc buộc lòng anh không thể trở lại với người con gái anh đã từng yêu tha thiết, thế nhưng khi Hồ Ngọc tình cờ gặp lại tác giả hai mươi năm sau, nơi xứ lạ quê người, sau khi tâm sự cùng nhau, Hồ Ngọc không hề có thái độ oán trách về những bất hạnh mà mình đã gánh chịu mà chỉ có những lời từ tốn bao dung: …’Cả dân tộc đều tan tác bi thương qua cuộc thăng trầm quá lớn ấy, nỗi đau của mỗi một chúng ta đâu còn có nghĩa gì. Tất cả chỉ đáng thương hơn là đáng trách!’.

Thái độ bao dung nhân ái của nhân vật Hồ Ngọc cũng chính là thái độ của nhà văn Phạm Tín An Ninh về con người, về cuộc sống. Thật vậy. Nhà văn trải lòng mình rất rộng. Tình yêu thương anh dành cho quê hương, cho con người trên dải đất tang thương đó dàn trải mênh mang, sâu thẳm, thiết tha. Trong hầu hết các mẫu chuyện, khói lửa chiến tranh những ngày trước tháng 4 năm 75, và rồi thế giới đảo điên, đầy tăm tối và hận thù sau ngày tháng định mệnh đó chỉ là những dàn cảnh ở phía sau, và tình huynh đệ chi binh giữa những người chiến binh sống chết với nhau, hy sinh thân mình để bảo vệ đồng đội, đồng bào, những nghĩa tình, những nghĩa cử, những tấm lòng nghĩa hiệp giữa người và người khi sự ác bao trùm lên cuộc sống, đây mới chính là những điều nổi bật nhất gây xúc động và ấn tượng sâu xa trong lòng người đọc.

Trong những hòan cảnh não lòng tưởng chừng như vô vọng, ngòi bút và trái tim đầy thương cảm của Phạm Tín An Ninh thường chọn cho những nhân vật của mình những kết thúc tốt đẹp. Điển hình là truyện ngắn với tựa đề đã được chọn làm tựa đề cho tòan tuyển tập, đó là ‘Rừng Khóc Giữa Mùa Xuân’. Tác giả viết về cuộc đời lao đao của những người vợ lính, những người lỡ yêu những chàng trai khoác áo chiến binh, những cuộc tình thờì ly loạn ‘Anh vê` với em rồi mai lại đi’ ma` Trần Thiện Thanh, người nhạc sĩ của lính đã đưa vào bất tử. Tác giả viết vê` Pleiku, thành phố lính, nơi mà ‘Những người vợ lính sống ở đây dường như chỉ để chơ` chồng trở vê` sau những cuộc hành quân, hoặc để chăm sóc chồng những ngày nằm trong quân y viện…Trong số ấy đã có biết bao nhiêu người trở thành goá phụ!’ Người vợ lính trong câu chuyện này mất chồng lạc con trong cuộc triệt thoái khỏi cao nguyên vào tháng 3/75. Chị vượt biên sau ngày mất nước. Hai mươi năm sau từ đất nước Na-Uy xa xăm, chị trở về vùng núi đồi cao nguyên để tìm xác chồng, người lính Biệt Động anh dũng năm nào, và cũng để tìm tông tích đứa con trai đầu lòng. Mặc cho khoảng cách thờì gian và không gian sau hai mươi năm đã có quá nhiều thay đổi, thế mà do một sự dun rủi tình cờ, chị đã gặp lại con trai mình và đã thắp được nén hương cho trọn nghĩa tình trước mộ chồng.

Những dun rủi, những tình cờ, những trùng hợp ngẫu nhiên cho phép những kẻ phải xa nhau trong hòan cảnh oan trái được gặp lại nhau để giải bầy tâm sự, để những người còn sống được bày tỏ tình nghĩa của họ đối với những người đã phải ra đi một cách oan khuất, để những hiểu lầm được giải toả, những lầm lỗi được tha thứ, để tình yêu va` tình thương có dịp hàn gắn lại những đau thương quá lớn – đây là những diễn biến thường xảy ra trong các câu chuyện của nha` văn Phạm Tín An Ninh.

Theo tác giả, một số tình huống này là tình huống có thật. Nhưng có lẽ nhà văn cũng muốn mượn các sáng tác của anh để bày tỏ nỗi khát khao của chính mình và đồng đội anh trong đời sống thật, những người chiến binh anh dũng thuở nào giờ đây đầu đã hai thứ tóc nhưng trong lòng vẫn còn những vết thương chưa liền da.

Anh đã viết ‘Tuổi sắp già, mà tôi còn mang nhiều món nợ, biết làm sao trả cho xong. Nợ núi sông, nợ máu xương bè bạn. Mà khổ thay, tôi cứ mãi là thằng lính hèn mọn, bạc tình.’ Tâm sự của anh là tâm sự của một người có lương tâm và tinh thần trách nhiệm cao, đã hy sinh và cống hiến rất nhiều cho quê hương đất nước, là một trong những người đã gánh chịu nhiều nhất và thiệt thòi nhiều nhất sau ngày mất nước, nhưng vẫn cảm thấy sự hy sinh của mình là chưa đủ.

Phú Hội, Ninh Hòa, Nha Trang, Pleiku… Quê hương thơ mộng hiền hòa của anh thưở nào, những địa danh mà anh và đơn vị của anh đã đi qua, những chiến địa nơi anh và đồng đội của anh đã hiên ngang chiến đấu, tất cả đều được anh mô tả lại một cách linh hoạt và sống động. Cho dù đã ổn định đời sống nơi xứ người nhưng trong tâm tưởng của các nhân vật trong tác phẩm vẫn là một niềm hoài niệm xót xa về tất cả những gì toàn thể nhân dân miền Nam đã bị cướp đi từ khi đất nước rơi vào tay cộng sản: một quê hương tươi đẹp, một xã hội tự do nhân bản đầy tình người.

Đã gần 40 năm qua kể từ 30 tháng 4/ 75. Đó là ngày tăm tối nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam nhưng đó cũng là ngày thế giới bắt đầu được khai sáng về hiểm hoạ cộng sản. Hàng triệu người Việt Nam liều chết vượt biển ra đi tìm tự do đã là một bản cáo trạng hùng hồn về một chế độ phi nhân.

Từ  ngày ấy đến ngày hôm nay, ý thức hệ CS đã bị đào thải. Những hiểu biết sai lầm về chiến tranh VN đã được giải toả. Thế giới tự do hiện nay đều đồng thanh lên án chế độ độc tài tại Việt Nam. Chính nghĩa đấu tranh để bảo vệ miền Nam tự do của quân lực VNCH đã được sáng tỏ, và danh dự của những chiến sĩ của quân lực VNCH đã được phục hồi.

‘Rừng Khóc Giữa Mùa Xuân’ đã ra đời trong bối cảnh ấy, đã vẽ lại cho độc giả trong và ngoài nước chân dung thật của người lính VNCH mà tuyên truyền cộng sản đã tìm cách xuyên tạc và bóp méo. Đó là hình ảnh của những chiến sĩ kiên cường, những con người có trái tim, tâm hồn và nhân cách.

Chúng ta đọc ‘Rừng Khóc Giữa Mùa Xuân’ để thấy thương cho đời lính gian nan, để nghiêng mình tri ân và ghi nhớ rằng trong suốt hai mươi năm từ 1954 đến 1975, tuy rằng đất nước ở trong hòan cảnh chiến tranh, nhưng người dân miền Nam Việt Nam đã được sống trong tự do và no ấm, đó là nhờ sự hy sinh lớn lao của các chiến sĩ quân lực Việt Nam Cộng Hòa.

Trong lịch sử của quê hương Việt Nam tự do, trong trái tim của những người Việt Nam yêu chuộng tự do và dân chủ, các chiến sĩ quân lực Việt Nam Cộng Hòa  là những anh hùng.

Quỳnh Đào

(Melbourne – Úc Châu)

trang bạn hữu

Published / by Phạm Tín An Ninh / Leave a Comment

thơ – cung vĩnh viễn

Ba mươi năm ở Na uy

Như thế là ta ở xứ người
ba mươi năm chẵn. Khổ thân tôi
thời gian đằng đẵng thiên thu ấy
ta lại còn đi ngược hướng đời

Ta gẫm thân ta mấy đoạn đường
chín năm ở Bắc chốn quê hương
cái thời niên thiếu trôi êm ả
kỷ niệm mơ màng trong khói sương

Vô Nam. Miền đất phì nhiêu ấy
nuôi dưỡng đời ta những ngọt bùi
những mộng thanh xuân tròn tuổi mộng
đợi dốc lòng ra tạ nghĩa đời

Thế mà tan tác trời tao loạn
nhốn nháo dân tình cuộc hỗn mang
bao nhiêu mất mát trong oan trái
nghẹn ngào lịch sử lật sang trang

Đất mẹ điêu tàn niềm bi phẫn
quê cha tơi tả nỗi đau thương
thôi đành bỏ xứ mà đi vậy
đi. Dẫu là đi cũng đoạn trường

Thế giới mở vòng tay chào đón
ta được định cư ở xứ này
đất lạnh nhưng tình người ấm áp
bát cơm Phiếu mẫu nặng ơn dầy

Con cái giờ đây đã trưởng thành
tuổi già thanh thản chẳng lo toan
nhưng sao trong nỗi bình an ấy
vẫn thiếu điều chi rất lạnh lùng

Ở trong những đêm trường trăn trở
thấy mờ bóng mẹ nhạt hình cha
thì ra mới hiểu là ta đã
ba chục năm qua sót nỗi nhà

Cung Vĩnh Viễn

hạnh phúc xót xa

Published / by Phạm Tín An Ninh / 1 Comment on hạnh phúc xót xa

T ôi vô cùng ngạc nhiên, khi nhận được một thiệp mời đám cưới gởi qua đường bưu điện, danh tánh nhà trai, nhà gái và cả cô dâu chú rể đều xa lạ. Gần nửa giờ ngồi “điểm danh” tất cả bà con, bè bạn xa gần, vợ chồng tôi và mấy đứa con cũng chẳng tìm ra “tông tích” họ là ai. Nghe bạn bè kể lại, một số không ít người Việt mình thích có nhiều thực khách tham dự tiệc cưới của con cháu. Khách càng đông càng chứng tỏ được thế giá của gia đình. Vì vậy có người chỉ gặp ai ở đâu đó một lần thoáng qua, cũng có thể trở thành “quan viên hai họ”. Hơn nữa, ở cái vương quốc nhỏ bé và hiền lành này, muốn tìm ai cứ việc mở cuốn điện thoại niên giám hoặc vào guleside gõ cái tên là có ngay số phone và địa chỉ. Cũng có thể là do một ông bà khách nào đó được mời nhưng hồi báo không thể tham dự được nên vợ chồng tôi được chọn để “điền vào chỗ trống cho có đầy đủ ý nghĩa”?

(more…)

điểm sách

Published / by Phạm Tín An Ninh / Leave a Comment

Đọc Phạm Tín An Ninh

Truyện của Phạm Tín An Ninh đi thẳng vào lòng người, thực ra không cần mưỡu đầu hay bạt đuôi. Nếu phải có, thì người viết, ngoài thế giá văn chương, nên là một người phần nào đã trải qua như anh – từng xông pha trận mạc, từng đi tù cộng sản, từng vui tuổi thơ hoa mộng, từng một thời đào hoa bay bướm, rất chiu chắt tình bạn, và bây giờ được bình tâm ôn chuyện xưa… Người như thế không hiếm trong số các bạn hữu đông đảo của anh. Nhưng anh Ninh lại thích dành danh dự cho một người hoàn toàn không đạt được một tiêu chuẩn nào trong các tiêu chuẩn trên – một độc giả thầm lặng trong số hàng vạn độc giả của anh.

Độc giả này chỉ có mỗi một ưu thế là cư ngụ chung với tác giả trên một vương quốc nhỏ bé yên bình miền Bắc cực. Và vì là đồng cư của anh, trong thời gian gần đây, hầu như mỗi tuần độc giả này lại nhận được một điện thư hỏi “Bạn ở Na-uy có biết Phạm Tín An Ninh không, sao viết cảm động thế?” Câu trả lời rất đơn giản: Phạm Tin An Ninh là một người sống thiết tha, và viết chân thành. Văn anh trở thành một dòng chảy hồn nhiên bắt nguồn từ đời sống và song song với đời sống. Anh kể về đời tù cải tạo ở Nghĩa Lộ với cùng một giọng đôn hậu như khi kể về tuồi thơ ở Vạn Giã, Nha Trang.

Anh Ninh sống thế nào viết thế nấy. Nhờ đó, mỗi câu chuyện, dù rất lạ lùng, ẩn hiện bóng dáng quen thuộc của chính người đọc. Nhiều hình ảnh đẹp khó tìm thấy trên đời (như quản giáo Nguyễn Văn Thà trong truyện ruột Ở Cuối Hai Con Đường), không cần tác giả cam đoan có thật, ta vẫn muốn tin là có thật, để đời đáng sống hơn. Đọc Phạm Tín An Ninh ta có cảm tưởng như những mảnh đời phiêu bạt tha thiết gọi nhau, xum họp trong lòng mình. Chuyện vinh nhục đời lính, chuyện đắng cay tù cải tạo, chuyện HO ở tuổi tri thiên mệnh… từ trên 30 năm nay đã hàng ngàn người kể, đến nỗi sắp thành nhàm chán, bỗng Phạm Tín An Ninh xuất hiện, khai quật những di tích mới.

Làm mới chuyện cũ, biến chuyện cũ thành gần như cổ tích thời đại, là đóng góp đặc sắc nhất của anh trong văn đàn hải ngoại. Khác với cổ tích thần tiên, truyện của anh chứa nhiều nghịch cảnh, đọc dễ chảy nước mắt, nhưng chúng ta có thể yên tâm mà đọc, vì trong mọi nghịch cảnh, kể cả thảm cảnh thù hận và tình yêu tan vỡ, Phạm Tin An Ninh không bao giờ dập tắt ngọn nến cuối cùng – niềm tin. Trên con đường thành công quá bất ngờ, anh thường tâm sự mình không phải là nhà văn. Nhưng anh đã cầm bút như bất cứ nhà văn lớn nhỏ nào – khai thác đời sống. Anh tìm người. Anh săm soi tìm người, và anh may mắn hơn Diogènes – không cần thắp đuốc lang thang, anh vẫn thấy bóng người ở mọi ngả đường. Dù đôi khi dáng người mờ nhạt sau dáng thú – như nơi nhân vật Hồng Hương trong truyện Chiếc Nhẫn – anh vẫn phù chú ‘bắt’  đương sự cởi bỏ lốt thú. Hoặc giả trong những tình huống hoàn toàn bế tắc – như trong truyện Ba Dòng Nước Mắt, một phiên bản mới của Lưu Bình Dương Lễ  – anh lại khai thông, cho tất cả chảy về hồ thủy chung, cái chung thủy không chỉ cần thiết cho tình vợ chồng. Thủy chung với nhau và thủy chung với căn tính con người hình như là đặc tính của cả văn lẫn người Phạm Tín An Ninh.

Nhờ sống và nhìn đời bằng phong thái ấy mà anh cho chúng ta thấy ở cuối mọi ngả đường luôn hiện ra một điểm hội tụ sáng ngời nhân tính.

Tâm Thanh

vệt nắng cuối chiều

Published / by Phạm Tín An Ninh / 1 Comment on vệt nắng cuối chiều

(Quí mến tặng vợ chồng em Trần H – Florida)

T háng 7/75, khi mọi người vẫn còn đang ngơ ngác, chưa kịp hoàn hồn trước bao thù hận, mất mát chia lìa, thì ở khu làng biển nghèo Bá Hà, một cậu bé 15 tuổi lại ngỡ ngàng trước một tin vui – có mẹ. Khi bà ngoại dắt Hưng vào nhà và chỉ một người đàn bà xa lạ, bảo đó là mẹ mình. Hưng bất ngờ đến sững sờ, cứ ngỡ như bà mẹ này vừa mới từ trên trời rơi xuống.

Từ khi sinh ra, rồi cả một thời tuổi thơ Hưng chỉ sống với bà ngoại. Ngoại nghèo khổ, một thân một mình vất vả làm thuê, gánh mướn, chắt chiu nuôi đứa cháu duy nhất của mình. Hưng lớn lên bằng tấm lòng bao la của ngoại và sóng gió của biển khơi mênh mông. Trò chơi chỉ là rượt theo các chú dã tràng trên bờ biển vắng hoặc nhặt những chiếc vỏ ốc, vỏ sò sau mỗi lần thủy triều lên xuống. Càng lớn Hưng càng khôi ngô, khỏe mạnh. Có lẽ nhờ tiếng hát ru hời của ngoại cùng âm thanh rạt rào của biển luôn an ủi vỗ về mà Hưng gần như quên hẳn nỗi bất hạnh mồ côi và hun đúc Hưng thành một đứa bé khôn ngoan, thánh thiện, sớm biết nhìn bầu trời xanh bao la mà khát khao bao điều ước vọng.

Năm mới lên tám tuổi, vừa hết lớp ba, dù rất say mê học hành nhưng không đành nhìn ngoại ngày một còng lưng, Hưng phải xin nghỉ học để đi làm phụ ngoại. Theo ghe lưới cá của mấy người hàng xóm. Thời gian nghỉ ngơi, ở nhà tự học, đọc sách vở mà Hưng mượn được hoặc mua lại từ những bạn bè hay các anh chị học sinh lớn tuổi trong làng. Hưng ít khi hỏi ngoại về cha mẹ mình, vì Hưng không hề biết mặt họ, và trong ký ức non nớt cũng như trong cả những giấc mơ của Hưng cũng không bao giờ có hình ảnh cha mẹ. Chỉ nghe bà ngoại kể là cả hai người đều bị bạo bệnh qua đời lúc Hưng mới sinh ra. Có lẽ thấy tội nghiệp đứa cháu côi cút của mình, bà không muốn Hưng phải suy nghĩ hay nhớ đến chuyện buồn này, nên chỉ kể vội một đôi lần, lúc Hưng mới lớn lên và bắt đầu nhận hiểu đôi điều ở quanh mình. Rồi không bao giờ bà nhắc lại nữa.

(more…)

chuyện người lính trinh sát

Published / by Phạm Tín An Ninh / 1 Comment on chuyện người lính trinh sát

Tiểu Đoàn đang hành quân ở Ngân Sơn thì có lệnh kéo ra quốc lộ để di chuyển khẩn cấp. Đám lính tráng buồn thiu. Vì vùng này rất nổi tiếng có nhiều cô gái quê làn da nõn nà xinh đẹp, mà mỗi lần đơn vị ghé lại đây, thế nào cũng có vài chàng lính trẻ chấm dứt cuộc đời độc thân vui tính. Lần này đơn vị đi xa, nên trên các chiếc xe GMC thấp thoáng bóng vài cô con gái mặc áo lính. Thông cảm cho các đôi vợ chồng mới, ông Tiểu Đoàn Trưởng bảo các sĩ quan lơ đi, để cho các cô dâu được đi theo. Khi đến bờ biển Tuy Hòa, Tiểu Đoàn tiếp nhận một Chi Đoàn Thiết Quân Vận M-113 tăng phái, rồi tất cả xuống tàu Hải Quân ra biển. Sau hai ngày đêm hải hành lênh đênh, chúng tôi được lệnh đổ bộ lên bờ biển Phan Thiết, ngay phía trước một Phật đài đang xây dang dở, nằm không xa phía dưới phi trường và Quân Y Viện Đoàn Mạnh Hoạch.

Tiểu Đoàn chúng tôi, một đơn vị lưu động, đặt dưới sự điều động trực tiếp của Quân Đoàn, có nhiệm vụ khai thông Quốc Lộ số 1 từ Bình Thuận ra đến Khánh Hòa, đặc biệt quãng đường dài hơn 50 cây số chạy dọc theo mật khu Lê Hồng Phong, địch quân đang kiểm soát. Đồng thời truy diệt mọi lực lượng địch trong vùng, giúp các Tiểu Khu bình định lãnh thổ. (more…)

cuối trời thênh thang

Published / by Phạm Tín An Ninh / Leave a Comment

(Thay vòng hoa tiếc thương Phạm Vương Thục)

“những sớm mai lửa đạn
những máu xương chập chùng

xin cho một người vừa nằm xuống

thấy bóng Thiên đường cuối trời thênh thang”
TCS

Đã lâu lắm, kể từ buổi trưa u buồn ngày 30/4/75, khi nghe Trịnh Công Sơn hát bài Nối Vòng Tay Lớn trên đài phát thanh Sài gòn, đón mừng những người CS vừa cưỡng chiếm miền Nam, tôi không còn hứng thú để hát nhạc của ông, dù có nhiều bản tình ca tôi từng một thời ưa thích, bỗng dưng chiều nay buột miệng hát lên mấy câu trong bài hát khá xa xưa mà tôi đã quên mất vài lời, khi nghe Bác sĩ Ngô Thế Khanh và cô bạn Phạm Thu Đào báo tin Phạm Vương Thục vừa mới ra đi. Dù đã biết trước điều đau đớn này rồi sẽ xảy ra, tôi vẫn bàng hoàng, có cảm giác cả bầu trời trước mặt và ngay chính trong lòng mình như chỉ còn là một khoảng trống bao la. Tôi hình dung người lead gun phương phi của Phi Đoàn Song Chùy 213 hào hùng ngày nào trên bầu trời khói lửa Vùng I, Hạ Lào, giờ thực sự đang lặng lẽ bay về cuối trời thênh thang. Tôi mơ hồ như văng vẳng đâu đây dư âm của cánh quạt trực thăng vần vũ và tiếng đạn minigun, rocket từng tràng phóng xuống, thét gào, cuồng nộ. Rồi tất cả bỗng lặng yên, tĩnh mịch.

(more…)

phố ảo

Published / by Phạm Tín An Ninh / Leave a Comment

Phạm Tín An Ninh

Tôi bước vào Phố Ảo với lời giới thiệu của một người dẫn đường khả kính, nhà văn Tâm Thanh:

Con chim sắp chết hót tiếng bi thương,
Con người sắp chết nói lời tâm huyết”

Cụ Phan Bội Châu viết lời trên trong Lưu Cầu Huyết Lệ Tân Thư năm 1903. Ba mươi bảy năm sau (1940) Cụ mới qua đời tại Bến Ngự trong cảnh giam lỏng.

Người con gái Sông Hương vừa bị định mệnh lên án treo. Cô có được ân xá và diên trì sự sống một thời gian dài như Cụ Phan không? Trong viễn ảnh Phật giáo mà cô là một tín đồ, tiếng gọi về ngay hay lệnh hoãn không nhất thiết là tốt hay xấu, chỉ là duyên nghiệp trong luật tử sinh chung. Dưới nhãn quan đạo Chúa mà phu quân là tín đồ, việc ở hay đi nào có gì quan trọng, nếu người ta sống xứng đáng và yêu thương tới giờ phút cuối cùng. Tôi tin cô đã quan niệm và đang sống như chí hướng của cả hai tôn giáo ấy. Sư tin tưởng của tôi đã được xác chứng khi đọc thơ của cô.

Cô muốn đã đến lúc người thân yêu và bằng hữu nghe tiếng lòng mình – qua thơ. Đó là lý do sự hiện diện của tập thơ muộn màng này.

. . .

Với những lời giới thiệu của người dẫn đường từng trải ấy, tôi đã bước vào Phố Ảo với thái độ cẩn trọng cùng một tâm hồn mang đầy cảm xúc. Lo sợ một tiếng động nhỏ, chỉ tiếng sột soạt của trang giấy mở ra, cũng có thể làm tan vỡ cái bóng thời gian mong manh và những hình ảnh lung linh, huyền hoặc. Tôi cũng đã mất đi ý định ban đầu, lúc vừa mở ra Phố Ảo – không phải tìm đọc chữ nghĩa, vần điệu trong thơ – mà đi tìm giá trị tình yêu, những thao thức và lòng trắc ẩn trước sự phù du, vô thường của kiếp nhân sinh – rất thực. Điều tưởng chừng đơn giản ấy, bao lần ngỡ mình đã ngộ ra, nhưng sao vẫn cứ trừu tượng mơ hồ, như những lần nghe kinh bằng tiếng Phạn, cảm nhận được cái âm điệu từ bi mà nào có thấu hiểu gì đâu trong những triết lý cao siêu của đạo Phật.

(more…)

Rừng Khóc Giữa Mùa Xuân – tập truyện mới của Phạm Tín An Ninh

Published / by Phạm Tín An Ninh / Leave a Comment

Đ ối với người lính chiến miền Nam Việt Nam, chỉ cần nhắc tên một ngọn núi, như Núi Tà Dôm hay Chu Pao, một con đường, như Quốc Lộ 14, Tỉnh Lộ 7 B;  một đồ vật như đôi giầy “xô”, cái nón sắt… là có thể tâm hồn òa vỡ. Vết thương lính có thể lành nhưng ký ức không bao giờ phai nhạt. Nó bừng lên nếu có ai bật nút. Phạm Tín An Ninh là một trong số người bật nút tài tình vào bậc nhất hiện nay. Năm ngàn (5. 000) cuốn Ở Cuối Hai Con Đường được bán sạch trong vòng một năm chứng tỏ sau 35 năm kết thúc cuộc chiến, truyện lính vẫn hấp dẫn, không riêng đối với lính mà với mọi người ít nhiều có liên hệ tới cuộc chiến. Nếu đặt Ở Cuối Hai Con Đường trong hoàn cảnh thị trường sách và tình hình đọc ở hải ngoại ngày nay, thì tập truyện này là một hiện tượng. Tôi là người ngán đến mang tai truyện chiến tranh (dù hay như Platoon hay buồn nôn như Deer hunter, thấy trên TV là tôi bật đài khác liền, bởi vì trong những phim ấy tôi chỉ thấy Mỹ và Việt Cộng, không có “Ta” trong đó, “Ta” đã bị loại ra khỏi vòng chiến ngay từ đầu; (nếu có “Ta” là đi đôi với những tướng tá lệ thuộc, ươn hèn). Nhưng tôi thích truyện PTAN. Bạn bè tôi cũng thích và chúng tôi hỏi nhau tại sao chán phim chiến tranh mà độc giả – cả lính lẫn dân –  lại thích truyện PTAN?  Câu trả lời đơn giản là vì PTAN không kể chuyện chiến tranh (thản hoặc chỉ lấy chiến tranh là m bối cảnh). Anh kể chuyện lính, tức là kể về những con người, trong đó “đánh đấm” chỉ là một khía cạnh. Và không phải người lính đơn độc, mà người lính gắn liền với người dân, với một mối tình. Người lính không chỉ có kiêu hùng mà còn lãng mạn, nhân bản, vị tha. Hình ảnh người lính của PTAN không phải đẹp với bộ quân phục mà đẹp trong suy nghĩ, trong tâm hồn.

Độc giả sẽ thấy những nét đặc thù đó nổi bật hơn nữa trong tập truyện Rừng Khóc Giữa Mùa Xuân.

Hai anh lính trẻ nhận được hai tấm khăn thêu và hai lá thư ‘sao y chánh bản’ tới tận trường tìm cô em gái hậu phương, để sau đó một người thành người tình bạc mệnh, một người thành nhà sư canh mộ cho bạn mình (Gói quà đầu năm). Anh lính Biệt Động Quân gùi đứa con trai bốn tuổi sau lưng, mở đường máu cho đồng đội, để cuối cùng bỏ xác, bỏ con trên rừng thẳm (Rừng khóc giữa mùa xuân). Cô gái cán bộ lâm trường người Hà Giang yêu anh lính tù cải tạo, giúp anh bản đồ, địa bàn và lương khô để vượt ngục; cuộc đào thoát thất bại, cô tưởng anh đã chết, sáu năm mới đi lấy chồng, nhưng anh vẫn còn sống và trở thành một vị thầy tu.. (Nghỉ hè ở Mallorca). Những anh lính trẻ hành quân tại Ngân Sơn không bao lâu, ngày lên đường, trên đoàn xe  GMC của tiểu đoàn, thấp thoáng những cô dâu mới trong bộ đồ lính trận (Người lính trinh sát). Sau cuộc chiến, dù là người bại trận, họ vẫn luôn dang hai tay ôm lấy cái tình huynh đệ, cố giữ hào khí, tư cách của ngày xưa ( Những cánh đại bàng sau cơn bão lửa). Nhiều năm khốn khổ trong lao tù, trở về với một gia đình tan nát, người lính vẫn chịu đưng bao dung, bao nhiêu nỗi oan khiên gởi theo hồn tiếng sáo (Tiếng Sáo).Về già, ngồi “điểm danh”, nhớ thương từng đồng đội cũ, tiếc nuối bao kinh nghiệm chiến trường giờ không biết còn truyền lại cho ai (Lá rụng không về cội)…
Đó là những hình ảnh tưởng chỉ có trong phim về chiến tranh Nam-Bắc Mỹ hoặc Chiến tranh và Hòa bình tại Nga. Nhưng đó là những hình ảnh con người trong chiến tranh Việt Nam. PTAN thu được những hình ảnh đó nhờ anh là lính chiến; anh kể lại chi tiết từng địa danh, năm tháng, không hẳn vì nhờ có trí nhớ tuyệt vời, mà chính vì anh không thể nào quên. Nhưng yếu tố quan trọng không kém khiến cho truyện PTAN có giá trị đặc biệt, là anh có một triết lý riêng để lý giải tất cả mọi việc trên đời – thái độ trước định mệnh.

Cuộc đời trong thế giới PTAN đầy oan trái, và đầy tính định mệnh. Nhưng các nhân vật không thúc thủ trước định mệnh. PTAN tin”xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều”. Truyện PTAN thường cực kỳ éo le, chằng chịt khúc mắc, dàn dựng khác với phép dựng kịch (dramaturgy) của truyện ngắn cổ điển (vả lại, có bao nhiêu nhà văn Việt Nam viết truyện ngắn theo sách vở?). PTAN dàn dựng truyện như thế này:

tình cờ – hạnh ngộ – chia ly – đi tìm – thấy – xử trí theo tình nghĩa.

Các truyện trong Rừng Khóc Giữa Mùa Xuân, vì thế, phần nhiều là bi kịch, nhưng luôn luôn có hậu, khuynh hướng mà đa số độc giả trông đợi. Nhờ thế, đọc truyện Phạm Tín An Ninh, dù chảy nước mắt nhưng ai cũng phải hài lòng

Tâm Thanh




vài ý nghĩ về tác phẩm Rừng Khóc Giữa Mùa Xuân của Phạm Tín An Ninh

Published / by Phạm Tín An Ninh / Leave a Comment

* HUY PHƯƠNG

Chiến tranh đã chấm dứt hơn ba mươi lăm năm nay, nhưng nỗi buồn của chiến tranh, không những còn để lại những nghĩa trang và những nấm mồ thất lạc, những dấu vết trên da thịt con người mà vẫn ám ảnh trong lòng chúng ta, dù đã sống trong cuộc chiến để chịu nỗi oan khiên hay ở bên lề cuộc chiến.

Phạm Tín An Ninh là người đi tìm những nhân vật sau cuộc chiến, hay do một sự tình cờ, qua sự sắp xếp của định mệnh, đã gặp lại được những con người sau ba mươi lăm năm khi tiếng súng đã ngưng. Từ đó, tác giả mở ra cho chúng ta đi vào những câu chuyện có thật, lúc nào cũng đầy tình người để lại cho chúng ta những nỗi xúc động, bùi ngùi. Trong “Ở Cuối Hai Con Đường” xuất bản cách đây ba năm, tác giả đã kể lại câu chuyện một cán binh CSBV được cảm hóa bởi tính khoan dung nhân bản của những người lính VNCH, khi anh ta bị thương và bị bắt làm tù binh tại chiến trường Tây Nguyên năm 1972, nhận ra sự dối trá và tàn độc của chủ nghĩa mà anh ta đã bắt buộc phải phục vụ, trở về với bản tính lương thiện của con người. Động lòng trắc ẩn, thầm cảm phục tính nhân bản, độ lượng của những người lính VNCH, nên anh ta có dịp đền ơn đáp nghĩa sau 1975, khi trở thành quản giáo của một trại tù cải tạo mà tù nhân chính là những người lính VNCH nhân ái năm xưa, để rồi sau đó chính anh ta bị kỷ luật, sa thải khỏi quân đội và cả gia đình phải sống trong khốn khó. Cuối cùng anh ta và con cái lại được những người tù xưa giúp đỡ, khi họ đã vượt biên sống ở nước ngoài. Một câu chuyện thấm đẫm tình người.

“Rừng Khóc Giữa Mùa Xuân” hôm nay là câu chuyện vợ một người lính BĐQ trở lại chiến trường xưa, đi tìm lại dấu vết của chồng và đứa con trai mất tích trên đường chạy loạn 7B từ Phú Bổn về duyên hải, đã gặp người thanh niên Ksor Tlang bán gà giữa chợ. Nhờ một vết sẹo đặc biệt trên tay người thanh niên miền Thượng này, bà đã nhận ra đứa con trai thất lạc của mình và nhờ đó, tìm lại được ngôi mộ của chồng. Nhưng kết cuộc vẫn là chia lìa, xót xa  vì nghịch cảnh và những trớ trêu của chiến tranh.

Trong “Gói Quà Đầu Năm” người sống là vị sư trụ trì và người chết nằm sau vườn chùa là đôi bạn trận mạc ngày xưa, và thiếu phụ viếng chùa hôm nay là cô nữ sinh thêu khăn tay gửi cho chiến sĩ ngày trước. Người chết, người sống cùng ngậm ngùi trước những ngày tháng cũ và một mối tình thời chiến không trọn vẹn.

Trong “Tiếng Sáo”, về California gặp lại bạn bè xưa, tác giả tình cờ gặp Hồ Ngọc, người thổi sáo trên sân khấu trong buổi diễn hôm nay lại là một người bạn cũ, nhân vật chính của một cuộc tình ngang trái. Ngay cả ở một nơi xa xôi, trong chuyện “Nghỉ Hè Ở Mallorca”, Tây Ban Nha, cũng xuất hiện Hà Giang, một cán bộ lâm trường trong thời tác giả bị tù tập trung ở Bắc Việt, và trang hồi ức cũng được mở ra với mối tình của một bạn tù “cải tạo” và cô cán bộ này. Kết cuộc cũng chỉ là những đổ vỡ, kẻ mất người còn.

“Những Đám Mây Trên Núi Phổ Đà” lại gần như một tự truyện của tác giả, kể lại đoạn đời ấu thơ từ lúc mất mẹ, lớn lên vào trận mạc và kết thúc bằng nỗi u hoài về những người đã mất, gói ghém cả một đoạn đời hơn 60 năm vào trong bối cảnh của cuộc chiến, trong đó, cha mẹ, bạn bè, chiến hữu đều đã trở thành những cánh chim xa “mất hút ở cuối chân trời.”

Người đọc Phạm Tín An Ninh thường cho rằng, truyện của ông có quá nhiều những cuộc gặp gỡ của  định mệnh, tình cờ. Ông đưa một nhân vật ra dưới ánh đèn sân khấu, để nhân vật tự kể chuyện đời mình, hay qua đó, tác giả dẫn chuyện, đưa chúng ta trở lại câu chuyện của hai, ba mươi năm về trước. Tôi không nghĩ rằng những nhân vật của Phạm Tín An Ninh là những nhân vật hư cấu, không có thật như trong phần lớn tác phẩm của các nhà văn khác. Qua những vùng đất quê hương, nơi đơn vị anh đã từng chiến đấu, qua những địa danh người tù binh miền Nam đã từng bị giam giữ, với những con người thật, còn sống hay đã chết, những thảm cảnh hay bi kịch trong tác phẩm của Phạm Tín An Ninh đều gần gũi với chúng ta, những người vừa qua khỏi cuộc chiến tranh, vừa là nhân chứng, vừa là nạn nhân đã chịu nhiều khổ đau mất mát. Cũng như những truyện ngắn khác của Phạm Tín An Ninh, tập truyện “Rừng Khóc Giữa Mùa Xuân”, đầy những đổi đời xót xa, qua ba mươi năm chiến tranh, nhưng luôn luôn đậm thắm tình người.

Phạm Tín An Ninh, thường không nhận mình là một nhà văn. Theo tôi, ông là một người lính trận, sau chiến tranh, tù đày, trở về đứng trên đống hoang tàn đổ nát của quê hương, đi tìm lại những hình bóng của một thời, đó là những người thân yêu đã khuất, những bạn bè đã nằm xuống cùng với những kỷ niệm đã mù xa.

Cali đầu năm 2011

Huy Phương

nguồn cội xót xa

Published / by Phạm Tín An Ninh / 1 Comment on nguồn cội xót xa


Đêm sẻ chia cùng những xót xa
vết nhăn trên trán tuổi đang già

cơn đau nhắc nhở rằng ta sẽ
có ngày lạc nẻo giữa bao la

Cung Vĩnh Viễn

Tôi quen Long từ lúc còn trong quân trường. Hai thằng có nhiều thứ khác nhau. Cái tên Nguyễn Vĩnh Long của nó cũng đủ làm cho tôi cảm thấy cách xa nó đến cả… vài trăm cây số. Nó cao lêu ngêu, tôi thuộc loại chỉ đủ thước tấc đi lính. Mỗi lần xếp hàng diễn hành hát bài Đường Trường Xa, nó cầm cờ đi hàng đầu, còn tôi ách ê hàng áp chót. Tôi ăn nói vụng về nên thường thầm lặng còn nó thì giỏi lý sự nên nói hơi nhiều. Cái giọng nam bộ của nó thường mở đầu bằng mấy tiếng chửi thề, nên tôi ngại nói chuyện với nó. Dường như hai thằng chỉ có một điều giống nhau duy nhất : Con nhà nghèo, gia đình lại ở quá xa, cho nên những ngày cuối tuần, hai thằng đều mồ côi tại chỗ. Không ngờ chính cái điều giống nhau duy nhất ấy mà sau này hai thằng trở thành bạn chí thân
Quả thật là nó có nhiều thứ khác tôi, nói cho đúng là có nhiều cái hơn tôi. Ra trường nó đỗ cao, được chọn về quân trường Đồng Đế, ngay tại quê tôi, làm huấn luyện viên, còn tôi thuộc loại “lè phè” nên phải ra làm trung đội trưởng ở một sư đoàn tận trên cao nguyên xa tít mịt mùng. (more…)

nghỉ hè ở Mallorca

Published / by Phạm Tín An Ninh / 1 Comment on nghỉ hè ở Mallorca

Mallorca, một hòn đảo du lịch nổi tiếng của Tây Ban Nha, nằm trong quần đảo Balearic. Trước khi đến đây, vì nghĩ là đảo, nên tưởng chỉ có rừng núi và biển cùng một vài làng mạc hay khu phố nhỏ, nhưng tôi rất ngạc nhiên khi phi cơ đáp xuống phi trường Palma rộng lớn, kiến trúc tân kỳ, sang trọng còn hơn nhiều phi trường quốc tế khác mà tôi đã từng đi qua. Palma là thủ phủ tráng lệ của Mallorca, nằm trên một dãy đồi cao nhìn xuống biển xanh. Đặc biệt khu nhà thờ Cathedral nằm bên cạnh giáo đường Mussulman, gồm những kiến trúc độc đáo, nổi tiếng theo kiểu Mediterranean Gothic từ thế kỷ thứ 13.

Chiếc xe bus của công ty du lịch đưa chúng tôi đi qua vài thành phố cảng, sang trọng và sầm uất, nằm dọc theo bờ biển, để đến Alcudia, khu nghỉ mát nằm phía đông bắc Palma chừng ba giờ xe. Chúng tôi chọn nơi này, vì bờ biển đẹp, một cái vịnh nhỏ, nằm khuất sau dãy núi Victoria, nên không có sóng và khá an toàn cho trẻ em. Những em bé năm, sáu tuổi có thể lội ra cách bờ 50-60 mét. (more…)

đứa cháu nội

Published / by Phạm Tín An Ninh / 2 Comments on đứa cháu nội

(thương mến tặng Vi-Na)

Khi sắp sinh đứa con đầu lòng, và được bác sĩ cho biết là con gái, vợ chồng cậu con trai lớn dành cho chúng tôi cái vinh dự: đặt tên cho đứa cháu nội đầu tiên.

Đã hơn mười năm sống (tạm) trên xứ Bắc Âu, một tiểu vương quốc nhưng có nền dân chủ vào bậc nhất hoàn cầu nên chúng tôi cũng đua đòi tập tành chơi trò dân chủ: triệu tập tất cả nhà lại để làm một cuộc “trưng cầu dân ý”. Thế là một đại hội tiểu Diên Hồng được triệu tập, trong không khí “hồ hởi phấn khởi” của ông bà nội và các cô, chú tương lai. Vợ chồng cậu con trai lớn, chuẩn bị làm bố mẹ, được ngồi dự thính. Để thực thi dân chủ, tôi chỉ định cô con gái lớn điều khiển buổi họp. Mỗi người chỉ đề nghị một hoặc hai cái tên, phân tích ý nghĩa và cuối cùng biểu quyết chọn cái tên nào có đa số phiếu. Bà cô chủ tọa cũng muốn “tiếp nối truyền thống dân chủ”, chỉ định cô út phát biểu ý kiến trước, rồi lần lượt từ nhỏ đến lớn. Ông nội bị xếp vào vị trí cuối cùng, sau bà nội. (more…)

những cánh én giữa mùa đông

Published / by Phạm Tín An Ninh / Leave a Comment

Tôi gặp anh trong buổi tiệc họp mặt mừng xuân của Hội Biệt Động Quân Nam Cali. Khi nghe  giới thiệu, anh đến tìm tôi. Anh cầm tay hỏi lại tên tôi rồi nức nở với hai hàng nước mắt. Tôi ngạc nhiên, đứng dậy, im lặng xúc động nhìn anh khóc. Anh mặc bộ đồ bay màu đen, cao lớn, bô trai. Hàm râu mép vừa tăng vẻ cương nghị oai phong vừa đượm nét hào hoa lẫn một chút phong trần của những người đã từng một thời đi mấy về gió. Tôi vội vã cố lục lọi trong ký ức, nhưng không thể nhớ anh là ai, và đã từng gặp nhau chưa. Có thể là ngày xưa chúng tôi đã cùng tham dự một cuộc hành quân phối họp nào đó. Lúc ấy tôi là lính bộ binh, tham gia nhiều cuộc hành quân trực thăng vận, hoặc được L-19 bao vùng, Hỏa Long soi sáng hay được cận yểm bởi các oanh tạc cơ, mà chúng tôi xem như những chàng dũng sĩ, cứu tinh trong giờ phút lâm nguy. Tôi có dịp quen biết một số phi công, nhiều nhất là ở các Phi Đoàn trực thăng, nhưng không nhận ra chàng pilot vẫn còn đầy phong độ, đang đứng trước mặt mình.

Khi bớt xúc động, anh đưa tay lau nước mắt và tự giới thiệu:

–  Xin lỗi anh, gặp anh tôi xúc động quá, vì nghĩ tới anh tôi. Tôi là em của anh Phạm văn Thặng.

Bây giờ tôi mới hiểu ra. Đúng là tôi chưa gặp anh bao giờ. Sở dĩ anh biết tôi, vì mới đây trong một ký sự về chiến trường xưa, tôi có nhắc lại những trận đánh tại Kontum, và trong đó có kể lại cái chết can trường của người phi công anh hùng Phạm văn Thặng, khi anh đang bay một phi vụ yểm trợ cho chính đơn vị của tôi. (more…)

những đám mây trên đỉnh núi Phổ-Đà

Published / by Phạm Tín An Ninh / 2 Comments on những đám mây trên đỉnh núi Phổ-Đà

Dường như ở cái tuổi ấu thơ, tôi biết buồn hơi sớm. Mẹ qua đời khi tôi vừa mới lên ba, cha tôi lại phải đi dạy học xa, cả tháng chỉ về một lần, nên tôi lớn lên ở nhà ông bà nội. Được cô Út chăm sóc và ông bà nội cưng chiều hết mực, nên tôi không biết mình mồ côi mẹ. Đến năm, sáu tuổi, khi được đi học và chơi chung với bọn trẻ trong họ, nghe chúng nó gọi mẹ, tôi mới nhận ra là mình không có mẹ. Nhưng tôi không nhớ bà, bởi trong ký ức non nớt của tôi hoàn toàn không có bóng dáng và nhất là khuôn mặt của bà.

Ba tôi là con trưởng nam của ông bà nội. Lúc đi học, ông là một học sinh xuất sắc của một trường Pháp Việt, được tuyển chọn để ra Huế thi. Thời ấy, từ Nha Trang ra Huế, cha tôi phải đi bằng thuyền (ghe bầu), lênh đênh trên biển gần một tháng trời mới đến kinh thành Huế. Ông đỗ cao trong kỳ thi ấy. Trở về với nhiều phần thưởng. Ông được nhận vào dạy học, rồi làm đám cưới với mẹ tôi, người bạn học dưới ông hai lớp. Ông bà lấy nhau chưa tròn một năm thì bà nội tôi qua đời. Ba năm sau, ông nội tôi tục huyền, và người vợ mới của ông không ai khác hơn là em gái của bà nội, tức là dì ruột của cha tôi. Dù là mẹ ghẻ con chồng, bà cũng không nở đối xử tệ với thằng cháu ruột của mình, nhưng bà lại quay sang khắt khe với con dâu. Bà hành hạ mẹ tôi hơi nhiều, nhất là những lúc cha tôi vắng nhà. Để tránh tình trạng khó xử này, cha tôi xin ông nội được ra sống riêng. Ông nội cho cha mẹ tôi khu vườn để xây một căn nhà nhỏ. Khu vườn cách nhà ông bà nội một cánh đồng, trồng toàn những cây dừa, và nằm lẻ loi ngay giữa ranh giới ba cái làng quê, phân biệt bằng những hàng tre cao chót vót, che kín cả mặt trời. Dù vậy, mẹ tôi vẫn thường xuyên về thăm ông bà nội, săn sóc thuốc men khi ông bà đau ốm. Chẳng hiểu có phải vì làm dâu vất vả quá, mà mẹ tôi không muốn có con sớm. Mãi đến chín năm sau kể từ ngày làm đám cưới, mẹ tôi mới sinh ra tôi. Giữa một đêm khuya tối trời, cha tôi phải đốt liên tục đến ba cây đuốc để rước bà mụ về đở đẻ. Tôi ra đời trong ngồi nhà nằm chơ vơ giữa trời đất mênh mông ấy. Nghe nói cái nhau của tôi được chôn dưới gốc một cây mận đang mùa sum suê trái. Khi tôi vừa đầy ba tuổi thì mẹ tôi mất. Lúc ấy còn nhỏ quá nên tôi không biết và cũng chẳng còn nhớ được điều gì, ngay cả đến khuôn mặt của mẹ tôi. Trước lúc lâm chung, mẹ tôi muốn nắm tay và ôm hôn tôi, nhưng tôi không dám lại gần bà. Cha tôi và các dì dắt tay tôi vào giường mẹ, nhưng tôi cứ tìm mọi cách thoát ra và chạy trốn. Sau này, khi nghe kể lại, tôi buồn và ân hận lắm. Nhưng người ân hận nhiều nhất là bà nội (kế) của tôi. Khi thấy mẹ tôi ốm nặng, bà nội năn nỉ ông nội và ba tôi, để được đưa mẹ tôi về nhà nội và chính tay bà săn sóc, thuốc men. Ngày mẹ tôi mất, bà nội là người khóc nhiều nhất.  Nằm liệt cả mấy ngày sau khi chôn cất mẹ tôi. Khi mẹ tôi hấp hối, bà nắm tay mẹ tôi và hứa là sẽ nuôi nấng thương yêu hai anh em tôi. Mẹ tôi mất vào cuối tháng hai âm lịch. Trời nắng ráo. Vùng quê tôi đã qua vụ gặt, nên các cánh đồng đều khô đất, chỉ còn trơ gốc rạ. Đám tang mẹ tôi có đầy đủ các dì cậu bên ngoại. Nghe nói hai anh em tôi được mặc áo tang và trên đầu đội khăn tang hình chữ thập. Chúng tôi được mấy bà dì bồng theo sau quan tài của mẹ. Cứ một quảng, quan tài được đặt xuống để hai anh em tôi ngồi bên cạnh mẹ. Nghe kể là đám tang cảm động lắm, ai cũng khóc. Không chỉ khóc vì mẹ tôi ra đi không bao giờ về nữa mà thấy tội nghiệp hai đứa con thơ dại mồ côi.

(more…)

bến bờ lưu lạc

Published / by Phạm Tín An Ninh / 1 Comment on bến bờ lưu lạc

Nữ Trung Tá Lục Quân Hoa Kỳ Gốc Việt Đầu Tiên – Phạm Phan Lang

P hạm Phan Lang sinh ra và cả một thời tuổi thơ sống cùng gia đình ở Nha Trang, theo học tại trường Nữ Trung Học và Võ Tánh. Nha Trang là thành phố biển thơ mộng, nơi có hai quân trường nổi tiếng: Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân và Hải Quân, với những chàng trai hào hoa theo nghiệp kiếm cung, chọn cuộc đời bay bổng và hải hành. Trái tim của những chàng trai này đã một thời khốn khổ bởi bao nhiêu người đẹp của Nha Trang. Thời ấy, dường như những cặp tình nhân SVSQ Hải Quân và Nữ Sinh Nha Trang đã làm đẹp thêm cho thành phố biển. Trong số đó có đôi uyên ương Phạm văn Diên và Phan Thị Lang. Ngày ấy Lang là một cô bé khá xinh, tính tình hiền thục dễ thương, nên chỉ mới học Đệ lục là đã làm mê mệt chàng SVSQ họ Phạm. Cuộc tình kéo dài mãi đến khi Lang đậu xong tú tài 2 (năm1969) hai người mới làm đám cưới.

Anh Phạm văn Diên tốt nghiệp khóa 14 HQ (Đệ Nhị Kim Ngưu), trước ngày 30/4/75, mang cấp bậc Thiếu Tá và chỉ huy một chiến hạm PGM615(loại nhỏ)

Vào nửa đêm 29.4.75, Thiếu Tá Diên đưa chiến hạm rời khỏi Việt Nam, mang theo vợ, 3 đứa con nhỏ, 1, 3 và 5 tuổi, cùng cha mẹ già trên tuổi 70 và cậu em vợ, đang theo học đại học Luật Khoa  Sài Gòn. Ngoài gia đình, trên tàu còn có thủy thủ đoàn và khoảng hơn 150 người tị nạn khác. Chiến hạm của Thiếu Tá Diên vừa tham dự các cuộc hành quân tàn khốc cuối cùng tại Huế, Quảng Trị,Vùng I,  chưa kịp sửa chữa, bảo trì, nên lúc ra khơi bị hư hỏng và nước tràn vào, nhưng may mắn đã  được cứu bởi một tàu HQ khác mà Thiếu Tá Diên đã liên lạc được. Cũng trên chuyến đi này, gia đình bị mất hết tư trang, vàng bạc mang theo, nên lúc lên bờ chỉ còn hai bàn tay trắng. (more…)

những cánh đại bàng sau cơn bão lửa

Published / by Phạm Tín An Ninh / Leave a Comment

(Cảm nghĩ về cuộc họp mặt của Khóa 17 VBQGVN)

Mùa hè Cali có những cơn mưa bất chợt. Riêng buổi chiều nay dù ngoài trời chói chang nắng hạ nhưng trong lòng tôi mơ hồ như đang ngập những cơn mưa. Trước mặt tôi hôm nay là những cánh đại bàng đã phải trải qua một cơn bão lửa. Cái hình ảnh bi tráng ấy thực sự đã gây trong tôi bao điều cảm xúc.

Tôi được một người đàn anh, cũng là cấp chỉ huy của tôi ngày trước, mời đến tham dự Buổi Họp Mặt Khóa Võ Bị Đà Lạt của anh. Buổi họp măt được đặt tên: Bảy Mươi Tuổi Đời – Năm Mươi Tuổi Lính. Chỉ mới nghe qua cái tên thôi, cũng đủ cảm thấy ngậm ngùi. Bởi ở tuổi bảy mươi, liệu các anh còn được gặp lại nhau bao nhiêu lần nữa, để cùng nhắc nhớ một thời trẻ trung, trận mạc. Thời mà hầu hết các anh đã từng là những cánh chim đại bàng xoải cánh trên các trận chiến hào hùng, oanh liệt, nhưng cuối cùng đành phải chấp nhận một kết cuộc tức tưởi, oan khiên.

Cách đây năm mươi năm. Buổi sáng ngày 11.11.1960,  hai trăm mười người trai trẻ, xếp bút nghiên chọn đời binh nghiệp,  nhập học Khóa 17 VBQGVN. Vì nhu cầu chiến trường, họ đã ra trường sớm hơn dự định. Chỉ sau các niên trưởng Khóa 16 ba tháng. Ngày 30.3.1963, đúng một trăm tám mươi Tân Thiếu Úy tốt nghiệp, hành trang văn võ song toàn, như những cánh chim non rời tổ với đôi cánh sẵn sàng thử thách trước phong ba, theo những mũi tên từ chiếc cung của vị thủ khoa Vĩnh Nhi, bay đi khắp bốn phương trời lửa đạn.

(more…)

rừng khóc giữa mùa xuân

Published / by Phạm Tín An Ninh / 2 Comments on rừng khóc giữa mùa xuân
 
icon for podpress  rừng khóc giữa mùa xuân: Play Now | Play in Popup

H ơn hai mươi năm nay, từ ngày đến định cư ở Na-Uy, một nước Bắc Âu nổi tiếng với những mùa đông dài băng giá, nhưng lại rất đẹp vào những ngày hè và lãng mạn vào thu, tôi vẫn giữ thói quen đi len lỏi trong rừng, không chỉ vào những ngày nghỉ cuối tuần mà bất cứ lúc nào thấy lòng mình trăn trở. Không phải tò mò vì những cuộc tình cháy bỏng trong”Rừng Na-Uy”, cuốn tiểu thuyết nổi tiếng mới đây của một ông nhà văn Nhật Bản, nhưng để được lắng nghe những tiếng khóc. Tiếng khóc của cây lá, của gỗ đá trong rừng. Tiếng khóc có mãnh lực quyến dụ tôi, thúc bách tôi, cho dù nó đã làm cho tôi đau đớn, khốn khổ cả một đời.

Tôi sinh ra ở Huế, nhưng lớn lên ở thành phố Nha Trang, sau khi cùng cả nhà theo cha tôi vào đây nhận nhiệm sở mới. Có lẽ ngày ấy tôi là một cô gái khá xinh. Ngay từ năm tôi học lớp đệ lục trường Nữ Trung Học, cũng đã có vài chàng học trò khờ khạo si tình, đạp xe theo tôi sau những buổi tan trường. Lên năm đệ tam, cũng có vài chàng SVSQ Hải Quân, Không Quân chờ trước cổng trường tán tỉnh. Nhưng như là số trời, trái tim tôi chỉ rung động trước một người. Anh  là bạn chí thân với ông anh cả của tôi, hai người học cùng lớp từ thời còn ở trường Võ Tánh. Tháng tư năm 68, chúng tôi làm đám cưới, kết thúc một cuộc tình đầu thật dễ thương, không có nhiều lãng mạn, cũng chẳng có điều gì trắc trở. Ông xã tôi là lính biệt động quân. Hậu cứ đóng ở Pleiku. Ngày về làm đám cưới, đôi giày saut của anh còn bám đầy đất đỏ hành quân. Đám cưới chúng tôi được tổ chức tại một nhà hàng nằm gần bờ biển, không xa tòa tỉnh, nơi vừa mới trải qua khói lửa Mậu Thân.

Sau đám cưới, cha mẹ chồng cho tôi theo anh lên Pleiku một tháng, rồi phải trở về sống ở nhà chồng, bởi anh đi hành quân liên miên, không an toàn khi tôi phải sống một mình. Chỉ những khi nào tiểu đoàn về hậu cứ dưỡng quân, anh đánh điện tín để tôi lên với anh.

(more…)

lá rụng không về cội

Published / by Phạm Tín An Ninh / 1 Comment on lá rụng không về cội

Thứ bảy tuần rồi, ông Trương nhận được hai món quà, do ông bà sui vừa về thăm quê bên Việt Nam mang sang tặng. Hai món quà thực ra không đáng bao nhiêu tiền, nhiều lắm cũng chỉ bằng giá một tô phở bán ở Little Saigon, nhưng với ông nó lại là vô giá, đã làm ông xúc động, nghẹn ngào đến nỗi không thốt lên được hai tiếng cám ơn. Cả tuần nay, nhiều đêm ông trằn trọc mất ngủ, ban ngày ngồi thẫn thờ, hoặc chắp tay sau lưng lẩn thẩn một mình trong khuôn vườn nhỏ sau nhà, suy nghĩ mông lung.

Năm vừa rồi, con cháu đã tổ chức mừng Lễ Thượng Thọ cho ông, mặc dù ông thường cản ngăn điều ấy. Nhưng con cháu làm vậy là phải, vì gia đình ông trải qua bao đời sống trong gia phong lễ giáo, hơn nữa suốt một đời vào sinh ra tử mà ông sống được tới hôm nay cũng là lạ lắm. Con cháu không chỉ mừng ông mà còn phải cảm tạ Đất Trời.

Sinh ra ở vùng quê, một cái huyện nghèo, mà thơ mộng. Biển xanh nằm sát bên dãy trường sơn hùng vĩ, cực bắc tỉnh Khánh Hòa. Cuộc đời ông có nhiều may mắn bất ngờ. Vì sinh kế, cha mẹ ông phải vào Nam lập nghiệp. Ông được một người trí thức có lòng nhận làm dưỡng tử. Người này gốc Quảng Bình, tốt nghiệp kỹ sư công chánh từ École Centrale bên Pháp, vừa mới hồi hương và đang làm cho hãng thầu Descours &Cabaud đặc trách hai công trường xây cầu  NeakLuong và Norodom, cách thủ đô Nam Vang 6 – 10 cây số. Là “dưỡng tử” nhưng ông thường được xưng hô là “thầy trò”. Ông kỹ sư chưa lập gia đình. Để thuận tiện công việc làm, ông thuê một ngôi nhà đơn lập, nằm cạnh nhà của người bạn là một nhà giáo, và gởi gấm cậu dưỡng tử theo học. Thời đó Nam Vang không có một trường nào dành cho văn hóa Việt Nam, mà chỉ có trường Pháp và Miên. Ông kỹ sư sống ở Pháp hơn bốn mươi năm, thấm nhuần văn hóa Pháp, vì vậy “cậu bé” Trương tất nhiên chịu ảnh hưởng của người dưỡng phụ, nên học hành rất nhanh và sớm thi đỗ Diplôme.

(more…)

vĩnh biệt một con đò

Published / by Phạm Tín An Ninh / 1 Comment on vĩnh biệt một con đò

 
 
 
… những chuyến đò năm ấy đã sang sông
và khách bộ hành đã đi về những vùng đất khác
nhưng suốt đời con sẽ không làm sao quên được
có một thời Cô-Thầy đã nuôi lớn ước mơ con…
(ntb)

Đời một con người đã có biết bao lần cặp bến từ những con đò. Không phải những con đò đưa ta qua những dòng sông mà qua những dòng đời. Mà dòng đời thì thường chia trăm vạn nẻo và lại nghiệt ngã, không êm ả như những dòng sông, nên khi vừa mới xuống bến này ta lại vội vàng đi tìm bến khác, để rồi chẳng có mấy ai còn nghĩ tới con đò, người lái. Đến lúc tuổi xế chiều, khi cuộc đời chỉ còn đợi chờ một lần sang bến cuối, thì ta mới ân hận, tiếc nuối bao nhiêu điều, và nhận ra chính mình cũng từng là một kẻ vong ơn.

Và buồn thay, trong số những kẻ vong ơn đó lại có tôi, người vừa mới ngộ ra được cái điều đáng ân hận ấy.

Gia đình tôi định cư ở Bắc Âu, nhưng có ba cô con gái sang học bên Mỹ, rồi có việc làm nên ở lại Mỹ từ hơn mười lăm năm nay. Vợ chồng tôi cũng đã sang Mỹ nhiều lần thăm bạn, thăm con. Các cháu đều sống ở Cali. Vậy mà mãi đến mùa hè năm rồi tôi mới tìm đến thăm vợ chồng một vị Thầy cũ. Cả hai ông bà đều đã dạy tôi những năm đầu trung học và cũng là những ân nhân đã từng giúp đỡ, cưu mang tôi qua một đoạn đời khốn khó. Gia đình Thầy Cô ở thành phố Covina, gần nơi các con tôi đang ở.

Hôm đến thăm, tôi có hẹn với vợ chồng cô bạn trẻ Cao Liên Hương, đến từ thành phố nhỏ Calgary, tận bên Canada. Cô bạn này cũng là học trò cưng của Thầy Cô lúc trước, học sau tôi vài ba lớp, nhưng sống phải đạo hơn tôi nhiều, vì cô đã đến thăm Thầy Cô một vài lần trước đó. Còn riêng tôi thì đã đến quá muộn màng. Cô giáo nhân từ của chúng tôi không còn nữa. Cô đã qua đời từ hơn năm năm trước. Bây giờ chỉ còn lại mỗi một mình Thầy, tóc trắng phơ, hai bàn tay run rẩy, ngồi trên chiếc xe lăn, nhờ vợ chồng cô con gái đẩy ra phòng khách đón hai đứa học trò xưa, mà chắc chắn Thầy không còn nhớ là ai. Nhưng nghe nói có học trò đến thăm, Thầy vui mừng lắm, luôn nhìn chúng tôi với ánh mắt yêu thương trìu mến và nụ cười đôn hậu, ngồi nghe chúng tôi kể lại những kỷ niệm dưới mái trường xưa, và ca ngợi dáng dấp “tài tử Gary Cooper” của Thầy thời còn trai trẻ. Thầy còn ký tặng chúng tôi cuốn sách của Thầy “Pour écrire correctement Le Francais”. Cuốn sách gối đầu giường của đám học trò chúng tôi thời ấy. Nét bút có yếu đi, run run một chút, nhưng vẫn phảng phất cái dáng vừa nghiêm nghị vừa quý phái của Thầy ngày trước. Đưa tay cầm cuốn sách Thầy cho, tôi thấy lòng lâng lâng, xúc động, vui buồn lẫn lộn, nên nụ cười chưa kịp nở trọn thì nước mắt đã ràn rụa tự lúc nào. Vơ chồng cô con gái hiếu thảo của Thầy sợ Thầy mệt, nên xin phép chúng tôi đưa Thầy vào phòng để Thầy nằm nghỉ. Chúng tôi cùng ra thăm mộ Cô. Cô nằm cô đơn lặng lẽ trong một nghĩa trang rộng lớn yên tĩnh trên ngọn đồi Covina Hills, nhìn xa xa xuống ngôi nhà cũ. Tôi quỳ trước mộ Cô, nước mắt đầm đìa, khi thấy trên thảm cỏ xanh bằng phẳng chỉ có tấm mộ bia lạnh lùng khắc sâu tên Tung Linh Tran Nguyen.

Dù đã hơn 50 năm, qua bao nhiêu thăng trầm, biến đổi, tôi không bao giờ quên cái tên thật đẹp của Cô: Trần Thị Tùng Linh. Có lẽ sau khi sang Mỹ, cô lấy họ của Thầy, “Nhập gia tùy tục” mà cũng cho trọn vẹn thủy chung với một cuộc tình tuyệt đẹp mà Cô Thầy đã mang theo từ lúc mới quen nhau ở tận Hà Thành. Khi Thầy từ Huế còn Cô từ Vinh ra học.

(more…)

Úc Châu – nơi mà cả đất trời và bạn bè ai nấy cũng dễ thương

Published / by Phạm Tín An Ninh / 1 Comment on Úc Châu – nơi mà cả đất trời và bạn bè ai nấy cũng dễ thương

C húng tôi đến Úc Châu và ở lại đó chỉ có ba tuần. Ba tuần với bộn bề bao nhiêu công việc và di chuyển khắp đó đây. Từ Sydney đến Melbourne  rồi  Adelaide và  Brisbane. Vậy mà ngày trở lại Bắc Âu, lòng nặng trĩu bao nhiêu hình ảnh thơ mộng và đầy ắp ân tình của bè bạn đồng môn, đồng hương.

Sau chuyến bay khá dài, mệt đừ người, chúng tôi đến phi trường Sydney lúc 9 giờ tối. Mặc dù được thông báo trước là có các bạn Nguyễn văn Thuần, Đặng Trung Chính và Trần văn Phước ra đón, tôi vẫn lo, vì không biết ba ông bạn đồng môn chưa bao giờ gặp mặt này có nhận ra mình không. Mấy tấm ảnh gởi sang trước để làm poster và slide show cho các Buổi Ra Mắt Sách, chụp lúc tôi còn trẻ và có chút oai phong trong bộ quân phục, chứ còn dung nhan của tôi bây giờ thì chắc chẳng khác nào.. trời đã sang đông. Nhưng khi vừa mới bước ra phòng đợi, nghe tiếng gọi tên mình, rồi tiếng chào, cười đùa của các bạn, lòng tôi hân hoan vô hạn. Thì ra trong số người đi đón còn có cả vợ chồng anh chị bạn thân của tôi ở Nauy lúc trước. Hai con chim thiên di này bay sang Úc trốn lạnh từ hơn 15 năm trước, rồi không bao giờ trở lại. Vợ chồng anh chị bạn này là người Biên Hòa, tuy cả hai cũng là giáo sư lúc trước nhưng không dính dáng gì tới Võ Tánh, Nữ Trung Học Nha Trang. Thì ra họ cũng đã quen nhau, và muốn dành cho chúng tôi một bất ngờ. Cái tình đồng hương của người Việt ở Úc Châu nó đậm đà như vậy đó.

Trời Úc Châu đang cuối xuân vào hạ. Lòng tôi cũng bâng khuâng cái cảm giác giao mùa.Trên con đường từ phi trường về nhà cặp vợ chồng người bạn đồng môn Huy&Hạnh, tôi đã được đi qua những con đường xinh xắn, đèn đường sáng rực, đủ để tôi nhìn thấy những cây phượng tím, phượng hồng đang rộ mùa hoa, nhắc nhớ một thời tuổi thơ cùng những mối tình học trò hoa mộng. Sydney có nhiều con đường đẹp, mà nhà văn Phan Lạc Phúc ở Úc gọi là những con đường tình. Và con đường tình nhất ở Sydney có lẽ là con đường dọc theo bờ sông George tới Bankstown đi từ hướng Cabramatta lên. Một bên là cây cao bóng mát, một bên là dòng sông xanh lượn lờ giữa hai bờ cây lá… Không biết có những đôi tình nhân VT&NTH nào thường nắm tay nhau đi trên con đường tình này, để nhớ lại cái thời mới quen, dìu nhau đi trên con đường Duy Tân, Bá Đa Lộc thơ mộng ngày nào.

(vừa từ phi trường về đến nhà Huy&Hạnh với Thuần, Chính và anh chị Đảm)

Vợ chồng tôi và cô con gái đến sau từ Mỹ, được vợ chồng bạn Nguyễn thắng Huy(VT69)&Đặng Mậu Thị Hạnh(NTH70), cũng là đôi tình nhân học trò hơn 40 năm trước, sau này cả hai đều là giáo sư trung học, và bây giờ chuẩn bị làm ông bà ngoại, nhận về cho tá túc. Chúng tôi được gia chủ hiếu khách dành nguyên tầng trên của ngôi nhà vừa lớn, vừa đẹp, nằm trong một khu yên tĩnh, mà chúng tôi cứ gọi đùa đây là tư dinh của ông bà đại sứ.

(more…)

gói quà đầu năm

Published / by Phạm Tín An Ninh / 5 Comments on gói quà đầu năm

Tôi phải ngồi lại trên các bậc đá nghỉ chân đến ba lần trước khi bước vào cổng chùa. Ngôi chùa nhỏ nằm trên một triền núi, được phủ mát bởi những tàng cây. Ngôi nhà khách bằng gỗ, khá xinh xắn, nằm trong một khu vườn toàn hoa vạn thọ. Phía trước là một tượng Phật ngồi dươi gốc cây bồ đề, cành lá được cắt tỉa công phu. Chung quanh là cả một vùng núi trời tĩnh mịch.Tôi không phải là phật tử, nhưng ngồi nghe tiếng mõ và lời cầu kinh trong chùa vọng ra, cũng thấy lòng nhẹ hẳn đi trước bao nhiêu điều phiền não.

Hôm nay là mồng một tết, nhưng cảnh chùa khá im ắng, bởi chùa nằm khá xa khu dân chúng. Ngày hôm qua tôi có đến đây, nhưng thầy trụ trì đi vắng. Tôi đã để lại tấm danh thiếp của chồng tôi, viết vài dòng phía sau xin hẹn thầy hôm nay trở lại.

Chú tiểu còn rất trẻ, mang trà ra mời và xin tôi chờ thêm mươi phút nữa, vì thầy trụ trì đang khai kinh cho buổi lễ tân niên. Tôi nôn nao muốn sớm được nhìn mặt vị ân nhân của mình, nhưng cũng dặn lòng phải kiên nhẫn và cẩn trọng ý tứ trước một nhà sư.

(more…)

ba dòng nước mắt

Published / by Phạm Tín An Ninh / 5 Comments on ba dòng nước mắt

Tôi vô cùng ngạc nhiên khi nhận đuợc thư Bình, thằng bạn thân tình từ thời nối khố. Nó là đứa cuối cùng trong đám bọn tôi rời xa đất nước, vừa mới được sang định cư bên Mỹ theo diện HO 31. Lá thư chỉ vỏn vẹn mấy dòng:

” Tao đã đến Mỹ vừa đúng hai tuần. Ở đây ồn ào và ngột ngạt quá, tao muốn tìm một chỗ bình yên. Mày có cách nào giúp tao sang Bắc Âu với mày. Bởi tao nghe mày kể bên ấy dù có buồn và mùa đông khá lạnh, nhưng cuộc sống yên bình, thích hợp cho những người cần một nơi để chửa trị những vết thương khó lành được trong lòng.

Tao đang có nhiều vết thương, và cũng đang có nhiều điều rối ren không giải quyết được. Rồi có dịp tao sẽ tâm tình với mày sau. Bây giờ, bằng mọi cách mày giúp tao sang đó với mày. Càng sớm càng tốt..”

Hơn một tháng trước, Định đã báo cho tôi biết việc Bình sẽ sang Mỹ. Nó đã phụ giúp vợ Bình sẵn sàng tất cả mọi thứ để đón Bình. Định còn bảo khi nào Bình đến Mỹ rồi, nó sẽ báo để tôi sang thăm. Ba thằng gặp lại, tha hồ mà kể chuyện xưa. Vậy sao bây giờ vừa mới đoàn tụ vợ con, Bình lại muốn sang Bắc Âu với tôi, một nơi xa tít mịt mùng ?

(more…)

Đà Lạt trời mưa

Published / by Phạm Tín An Ninh / 5 Comments on Đà Lạt trời mưa

Tôi đến Đà Lạt đúng vào một ngày mưa. Mưa tầm tã. Ngồi trong nhà Thủy Tạ, nhìn những hạt mưa bay giăng kín rừng thông, phủ mờ khu phố Hoà Bình , và rơi lả tả xuống mặt hồ Xuân Hương, tôi mơ hồ như những giọt nước mắt của  người góa phụ đã từng một thời nhan sắc.

Người con gái vừa đến gặp tôi làm cho tôi mỉm cười với sự so sánh lạ lùng này. Bởi cô ta cũng xinh đẹp, và dù có nở nụ cười tỏ ra mừng rỡ khi chào tôi, vẫn không giấu được nét buồn trong đôi mắt. Một nỗi buồn có cái gì xót xa sâu lắng lắm.

Tôi đã đến thành phố này nhiều lần. Lần cuối cùng vào mùa Giáng Sinh năm 1970, khi đơn vị tôi may mắn được lệnh về đây phối họp hành quân giữ an ninh cho một khóa Võ Bị làm lễ ra trường. Bao nhiêu năm trong rừng núi tây nguyên gió lạnh mưa mùa, rồi xuống bờ biển Phan Thiết với những động cát trơ trọi nóng như lửa đốt, bất ngờ được về Đà lạt, cho dù chỉ sau một ngày ở thành phố, đơn vị tôi lại được đổ xuống những rừng thông xa tít, nhưng đám lính tráng bọn tôi vẫn có cái cảm giác như được đi nghỉ mát. Người ta nói đúng, Đà Lạt dễ thương như những cô gái với gò má trắng hồng và đôi môi mộng đỏ để ai một lần lên xứ Hoa Đào mà lòng không vấn vương. Đà lạt cũng là nơi có nhiều huyền thoại về những mối tình đẹp và buồn của các cô sinh viên với những chàng trai mang alpha đỏ theo nghiệp kiếm cung, mà tôi đã đọc được trong những bài thơ thật buồn của Lệ Khánh từng vang tiếng một thời..

(more…)

một vài suy nghĩ về truyện ký của Phạm Tín An Ninh

Published / by Phạm Tín An Ninh / Leave a Comment


Cách đây mấy tháng, tôi có đọc trên mạng nào đó; một bài ký ” Ở cuối hai con đường “của Phạm tín an Ninh (PTAN). Bài ký hay, cảm động.. Đọc xong thực sự tôi không tin là một sĩ quan VNCH, đã trải qua những năm tháng dài tù đầy, mà có bút pháp, lời văn nhẹ nhàng, đến như vậy. Thoạt đầu, tôi cứ ngỡ tác giả ghi lại lời kể của ai đó. Nhưng cách đây vài tuần, vô tình lang bang trên mạng, tôi có địa chỉ trang web của tác giả “Ở cuối hai con đường” -PTAN.- Đọc tiếp một vài truyện của anh, tôi mới thực sự tin anh là sĩ quan VNCH. Sở dĩ tôi gọi truyện của PTAN là truyện ký, bởi vì tác giả đã lấy những câu chuyện thực của đời mình, hoặc những câu chuyện ngoài đời mà tác giả bắt gặp, nhập tâm vào chính mình, rồi viết ra chăng?. (Tôi viết, hoặc là những câu chuyện ngoài đời-không phải là chuyện của PTAN- bởi vì tất cả các chuyện đều có hậu, tác giả đều vô tình gặp lại con, cháu của các nhân vật gắn với tác giả- Trường hợp này quả thật hiếm hoi, nhưng có thể PTAN trong cái rủi có cái may – âu cũng là nhân qủa vậy- Nếu đúng, em thành thật chúc mừng bác PTAN). (more…)

RA MẮT SÁCH TẠI ÚC CHÂU VÀO THÁNG 11/2008 CỨU TRỢ THƯƠNG BINH & QUẢ PHỤ TỬ SĨ VNCH

Published / by Phạm Tín An Ninh / Leave a Comment
 
icon for podpress  Nhà văn Phạm Tín An Ninh cám ơn Cộng đồng nguời Việt tại Úc và chào từ giã Úc châu : Play Now | Play in Popup

TƯỜNG TRÌNH BUỔI PHÁT HÀNH TÁC PHẨM “Ở CUỐI HAI CON ĐƯỜNG” CỦA PHẠM TÍN AN NINH TẠI SYDNEY VÀO NGÀY 02.11.2008

Phùng Nhân ( Báo Việt Luận)

Vào lúc 1:30pm ngày mùng 2 tháng 11 năm 2008. Tại Trung Tâm Sinh Hoạt Văn Hóa Cộng Đồng Người Việt NSW Sydney, nhóm bạn cựu học sinh trường Trung Học Võ Tánh Nha Trang và thân hữu Úc Châu, đã tổ chức một buổi phát hành tập truyện ngắn Ở Cuối Hai Con Đường của nhà văn Phạm Tín An Ninh để trợ giúp thương phế binh VNCH tại quê nhà. Đây là một buổi phát hành sách đã qui tụ được nhiều thành phần trẻ, thành phần trí thức, cựu quân nhân và các đoàn thể tổ chức chánh trị. Mà gần như trong mấy chục năm qua, chưa có cuộc sinh hoạt văn hóa phát hành sách nào ở Sydney mà có được sức thu hút đông đảo như lần nầy. Có thể nói đây là một sự thành công, đã vượt ra ngoài dự định của mọi người, nên ban tổ chức phải sắp đặt thêm ghế ngồi mà không đủ. Cuối cùng phải đứng thêm một vòng ngoài thật là đông, chính điều đó đã thổi lên một luồng sinh khí cho nền văn hóa lưu vong ở đây, mà từ lâu rồi sinh hoạt loại nầy đã bị lảng quên trong thầm lặng.

(more…)

Đài Radio SBS Úc Châu phỏng vấn nhà văn Phạm Tín An Ninh – 28.10.2008

Published / by Website Developer / Leave a Comment
 
icon for podpress  Quốc Việt đài Radio SBS Việt ngử phỏng vấn Nhà Văn Phạm Tín An Ninh: Play Now | Play in Popup

Xin bấm vào PLAY NOW để nghe cuộc phỏng vấn
Úc Châu: Ra mắt tác phẩm “Ở cuối hai con đường” của Phạm Tín An Ninh từ Na Uy

Tài liệu từ Radio SBS www.sbs.com.au

thư của người bạn tù

Published / by Phạm Tín An Ninh / Leave a Comment

Đất Trời Bao La ngày 23 tháng 9 năm 2008

Anh Ninh thân mến,

Cuối cùng thì tôi cũng đã tìm thấy cái mộ bia anh khắc tên tôi đặt “ở cuối hai con đường”. Không biết cái hài cốt nằm im trong mộ huyệt đó có phải là tôi chăng ? hay của một ai đó cũng nằm úp mặt nhấp nhô trên trên các lớp sóng phế hưng của thời đại? Dù của ai đi chăng nữa tôi cũng rất lấy làm hạnh phúc để thấy rõ rằng : khi chết đi đã có sẵn cái mộ bia đề tên mình, LĐD,do anh đề tặng. Đó là cái mộ bia duy nhất của tôi còn lưu lại sau khi tôi từ giã cõi đời, nó sẽ tồn tại lâu – rất lâu – cùng tên tuổi và tác phẩm của anh. ” Bất tri tam bách ….”.

Về cuốn sách Ở Cuối Hai Con Đường, chữ nghĩa của anh trải dài trong 252 trang sách (từ trang 7 đến trang 258). Nếu đem chia đều cho 16 truyện ngắn trong sách, bình quân mỗi truyện lãnh 15,75 trang. Câu chuyện anh viết để gởi tặng tôi chiếm nhiều trang nhất. Hai mươi hai trang rưởi với 7.178 chữ. Bài có số trang hạng nhì là Trời Đất Bao La, chiếm hai chục trang rưởi, dưới 7.000 chữ. Tôi cứ nghĩ rằng anh viết bài này để tặng cụ bà Jacqueline Cuvéro nào đó hiện đã ngủ yên trên đường hoa dĩ vãng. Xin cám ơn đã rút một đoạn tơ dài hơn để tặng tôi. Xin cám ơn đã chiêu đãi thằng bạn tù cũ kỹ hơn người tình xưa. Tôi đọc sách anh viết mà cứ sợ nó hết. Thỉnh thoảng phải ngưng để gạt nước mắt mới tiếp tục được. Tôi không muốn cắm thêm một cành hoa dại vào cái bình hoa đẹp đã được cắm đầy ắp những loài hoa cao quý.

Cuối thư xin chúc anh và gia đình được vạn sự bình an và hạnh phúc.

Lê đ. D

TB. Anh đừng nghĩ đến chuyện trả lại chiếc nhẫn. Tình đã cho không lấy lại bao giờ.
Tay bị liệt, chữ viết khó đọc. Tha lỗi

Những Đàn Chim Thiên Di

Published / by Phạm Tín An Ninh / 1 Comment on Những Đàn Chim Thiên Di
flying birds

Cả hai tuần nay, mấy quan chức sở “bảo vệ súc vật” thành phố thường xuyên đến thăm gia đình tôi, để tìm hiểu lý do vì sao, trước mùa đông năm nay những đàn chim trane không còn trở về vùng này nữa. Họ đã cho người dọn dẹp lại khu bờ sông, chăm sóc cánh đồng cỏ và trồng thêm mấy hàng thông phía bên kia để đón những đàn chim, nhưng chờ mãi mà chẳng thấy bóng dáng một con trane nào trở lại.

Trane là một loài chim sống thành đàn, màu nâu đen, có dáng như con hạc ở quê nhà. Là một giống chim không chịu lạnh, nên hàng năm, cứ trời sắp sang đông là tụ tập từng đàn ở một nơi nào đó rồi chia nhau bay tìm những xứ nóng phương nam. Ở Bắc Âu có nhiều loài chim trốn lạnh, nhưng loại trane này nhiều nhất, có tổ chức khá qui củ, và khi bay đi chúng bay thành từng nhóm theo hình những mũi tên, có khoảng cách đều nhau, rất đẹp.

Định cư ở Nauy hơn ba năm. Lúc kinh tế gia đình và việc học hành của mấy đứa con tạm ổn định, cũng là lúc vợ chồng tôi bắt đầu có thời gian để hồi tưởng về quá khứ, và nhớ quê hương. Chúng tôi quyết định mua một ngôi nhà dưới thung lũng nhỏ, bên bờ sông Nitelva yên tĩnh, bên kia là cánh đồng cỏ mênh mông tiếp giáp với núi rừng. Cái khung cảnh có mang một chút hình dáng và màu sắc quê nhà giúp tâm hồn tôi yên ả hơn mỗi khi thấy lòng trăn trở, nhung nhớ một điều gì.

(more…)

nợ đời một nửa, một nửa nợ ơn em

Published / by Phạm Tín An Ninh / 5 Comments on nợ đời một nửa, một nửa nợ ơn em

(Viết cho em và những người vợ lính trung hậu)

Thời còn đi học, lang thang từ Nha Trang đến Sài Gòn, dù con nhà nghèo, học tàm tạm, và nhan sắc dưới trung bình, tôi cũng đã mang tiếng đào hoa. Cho nên có muốn kéo dài thêm cái đời học trò để được mơ mộng đủ thứ chuyện dưới biển trên trời thiên hạ cũng đâu có cho. Rồi có phải thuộc dòng hào kiệt gì đâu, tôi cũng xếp bút nghiên theo việc kiếm cung. Nói kiếm cung cho nó vẻ văn chương và lãng mạn, chứ thực ra tôi vào lính, mà lại là thứ lính hạng bét thì làm gì có kiếm với cung. Có phải lính tàu bay tàu thủy gì đâu, mà là lính đi bộ. Lúc băng rừng lội suối, mặc bộ đồ trận hôi hám cả tuần không tắm, tôi ghét cay ghét đắng cái ông nào là tác giả cái câu ” Bộ Binh là nữ hoàng của chiến trường ” mà tôi đã đọc được ngay từ khi mới vào quân trường, đếm bước một hai để hát bài “đường trường xa”.

(more…)

bình luận về truyện Ở Cuối Hai Con Đường

Published / by Phạm Tín An Ninh / Leave a Comment

Báo Thằng Mõ (San Jose)

Ở Cuối Hai Con Ðường

Phạm Tín An Ninh là một nhà văn quân đội, tuy mới xuất hiện trên văn đàn hải ngoại, nhưng những truyện ông sáng tác đã nhanh chóng ngự trị trong tâm hồn đông đảo độc giả nhờ ở văn phong giản dị, nội dung trung thực, và đặc biệt hơn cả, là tấm lòng đôn hậu đầy nhân ái của ông được thấm nhuần qua từng câu, từng chữ, từng tình tiết, nhân vật, sự kiện… “Ở Cuối Hai Con Ðường” là tác phẩm đầu tay của ông, trong đó gồm 16 truyện ngắn, mỗi truyện phản ảnh một góc độ trung thực của cuộc đời, nhưng tất cả đều có giá trị cảm hóa sâu sắc, để lại trong lòng người đọc nhiều suy nghĩ, nhiều thao thức, để rồi cuối cùng, người đọc luôn thầm nguyện với lòng, sẽ cố gắng sống tốt lành hơn, thuỷ chung hơn, nhân ái hơn.

Ðây là một câu truyện hoàn toàn có thật giữa tác giả, một người tù cải tạo tại trại 6 Nghĩa Lộ; và người quản giáo tên Thà, từng là bộ đội thuộc trung đoàn xe tăng của Sư 320, bị cụt tay trong trận đánh ở Trung Nghĩa, KonTum vào đầu mùa hè 1972, mà chính tác giả cũng tham dự. Sau khi bị thương, bị bắt làm tù binh, được những người lính VNCH bảo vệ, chăm sóc và chữa trị tử tế cho đến khi được trao trả tù binh trở về Bắc, quản giáo Thà đã được cảm hóa, trở nên một người tốt bụng, yêu thương tù cải tạo, luôn tìm mọi cách giúp đỡ tù. Biết ơn quản giáo Thà, tác giả, sau khi vượt biên thành công, định cư tại Na Uy, đã tìm mọi cách giúp đỡ quản giáo Thà và hai người con của ông, khi họ chẳng may khốn đốn tại Ba Lan.

Trên phương diện nghệ thuật, quản giáo Thà không phải là nhân vật điển hình, đại diện cho hàng trăm ngàn quản giáo VC tàn nhẫn, độc ác, thủ đoạn, phi nhân tính. Hơn nữa lòng tốt của quản giáo Thà được thể hiện khá can đảm, bất chấp mạng lưới ăng ten và hệ thống quản giáo, vệ binh dầy đặc trong các trại tù cải tạo. Hơn thế nữa, lòng tốt cùng niềm thống hận chủ nghĩa CS của quản giáo Thà không phải chỉ xuất hiện chốc lát, trong giây phút thức tỉnh của tình người, mà được trải dài theo thời gian, cho đến khi ông nhắm mắt. Tuy nhiên, giá trị cuả câu chuyện không phải là giá trị điển hình mà chính là giá trị cá biệt. Nhà văn Phạm Tín An Ninh đã kể lại trường hợp cá biệt quản giáo Thà vì, thứ nhất, đây là chuyện hoàn toàn có thật mà tác giả đã trải qua; và thứ hai, qua câu chuyện tình nghĩa giăng mắc xuyên suốt thời gian mấy chục năm, tác giả đã thành công khi đề cao được giá trị nhân quả của lòng nhân ái, của tình người. Chính giá trị to lớn này đã cảm hóa được người đọc, ngay cả những người đang chìm đắm trong u mê lọc lừa của chủ nghĩa cộng sản, miễn sao họ còn chút ít lương tâm và sự sáng suốt tối thiểu của một con người.

Tất nhiên, một số lái buôn văn nghệ thân cộng, một số trí thức vô lương tâm nằm vùng… đã vội vã bóp méo giá trị cảm hóa của tác phẩm nhằm dương lên một bẫy sập, khi họ rêu rao tuyên truyền, lòng nhân ái cá biệt của quản giáo Thà sẽ trở thành phổ quát cho tất cả những người cộng sản hiện nay, nếu người Việt hải ngoại biết một lòng một dạ đối xử tử tế, nhân ái chan hoà với những người cộng sản. Rõ ràng, đây là âm mưu nguy hiểm nhằm hóa giải sức mạnh đấu tranh của người Việt hải ngoại, nhưng chắc chắn âm mưu đó bất thành. Vì càng hiểu rõ giá trị nhân đạo cao quý của câu truyện, chúng ta càng nhìn rõ bản chất phi nhân của chủ nghĩa cộng sản và con người cộng sản. Bằng chứng, trong số hàng trăm ngàn tù binh VC được quân đội và chính phủ VNCH đối xử một cách tử tế trong suốt cuộc chiến tranh Việt Nam, thử hỏi có mấy người được cảm hóa như quản giáo Thà? Câu trả lời chắc chắn là hầu như không có, vì cho tới nay, chúng ta chưa thấy bất cứ tài liệu, sách vở hay chuyện kể nào đề cập đến một quản giáo có lòng tốt tương tự như quản giáo Thà.

Thằng Mõ (San Jose)

********************************************


Nguyệt San Việt Nam ( Canada)


Ở CUỐI HAI CON ĐƯỜNG

Phạm Tín An Ninh

Câu chuyện cảm động có thực nói về tính nhân bản đầy tình người của người lính miền Nam được thể hiện rõ nét qua bài viết của tác giả Phạm Tín An Ninh, một sĩ quan QLVNCH và là một trong những “người tù cải tạo” bị giam ở miền Bắc sau 1975, tình cảm chân thật của Thượng úy Nguyễn Văn Thà, một sĩ quan thương binh bộ đội miền Bắc. Bài viết này được chuyển lên các hệ thống internet toàn cầu, được đọc trên các room paltalk với giọng đọc nghẹn ngào của các em thuộc thế hệ Việt Nam chưa hay không biết chiến tranh là gì. Chúng tôi xin được chạy đăng bài viết “Ở cuối hai con đường” vì nó phù hợp với luận điểm và nội dung của tác phẩm “Máu và nước mắt trên lưng Trường Sơn”: Cuộc chiến đấu tự vệ chính nghĩa và nhân bản của miền Nam Việt Nam so với cuộc chiến tranh xâm lược của cộng sản Việt Nam từ miền Bắc.

Cám ơn anh Phạm Tín An Ninh đã cho chúng ta một lời nói công đạo chí tình, một câu chuyện vô cùng xúc tích và cảm động.

Hải Triều

(nhà văn quân đội)

******************************************************

GSTS Nguyễn Thanh Liêm

“Ở Cuối Hai Con Đường” là câu chuyện chính của tác phẩm. Đề tài chính ở đây là bản chất “THIỆN” của con người, bản tính bẩm sinh, vượt lên trên những bài học của xã hội. “Nhân chi sơ, tánh bổn thiện, tánh tương cận, tập tương viễn” theo nho gia, cũng như “l’homme est né bon, la société le déprave” theo J.J Rousseau. Con người sơ sinh có bản tính tốt và chỉ trỡ nên xấu khi bị xã hội/văn hóa làm cho nó trỡ nên xầu. Xã hội cộng sản xấu, giáo dục của cộng sản phi nhân bản, hạ thấp giá trị con người, cho nên con người cộng sản xấu vì bị văn hóa xã hội cộng sản làm biến mất tính thiện bẩm sinh. Bản tính tốt bẩm sinh của con người giúp người ta cảm thông với đồng loại, tôn trọng người khác như trọng chính mình, giúp dở người khác như giúp đở chính mình. Tinh thần nhân bản được chú trọng và đề cao. Tinh thần đó được xã hội văn hóa và nền giáo dục nhân bản, khai phóng của Việt Nam Cộng Hòa trước kia phát huy, nuôi dưỡng. Người lính Việt Nam Cộng Hòa, những y sĩ trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã cứu sống người lính cộng sản Nguyễn Văn Thà. Họ là những người đã hành xử theo tinh thần nhân bản, họ còn gần với bản chất “thiện”bẩm sinh, không bị che lấp bởi những bài học nhồi sọ của một thứ đảng phái phi nhân nào. Được cảm hóa bởi văn hóa nhân bản, anh Thà trỡ về với bản chất “thiện” bẩm sinh của anh. Anh đã hành xử rất người đối với những tù nhân dưới quyền quản giáo của anh. Anh đã lột xác, vứt bỏ cái lớp cộng sản để trỡ thành người thật sự với cái “thiện” bẩm sinh của con người. Còn mang chất cộng sản là còn hận thù, còn trả thù, còn đối xử nhau bằng đòn thù (như ông Hồng Hương trong chuyện Chiếc Nhẫn chẳng hạn). Vứt bỏ được chất cộng sản, trỡ về với bản chật “thiện” bẩm sinh, người ta không còn hận thù, không còn trọng ta, khinh người, không còn chà đạp trên nhân phẩm kẻ khác. Trỡ về bản chất tốt bẩm sinh, người ta có thể sống hòa bình với nhau trong tinh thần nhân bản, tương thân, tương trợ, góp phần xây dựng hạnh phúc chung cho nhân loại. Cách hành xử tốt đẹp của quản giáo Thà đưa đến sự biết ơn, sự đền đáp lại, cũng bằng tình người của những tù nhân cựu sĩ quan quân lực VNCH. Những người này đã tận tình giúp đở con anh trong những ngày chúng bị lưu lạc khổ sở nơi xứ người. Tinh thần nhân bản, tánh “thiện” bẩm sinh của con người là những đức tính cơ bản cần được phát huy để làm cho cuộc sống của con người trên cõi đời này thêm ý nghĩa. Đó là cái thông điệp của câu chuyện “Ở Cuối Hai Con Đường”. Phạm Tín An Ninh không giảng đạo, không viết một bài học đao đưc luân lý nào trong tác phẩm của anh. Anh cũng không triết lý dài dòng. Anh chỉ đưa ra một câu chuyện khá đặc biệt, lôi cuốn người đọc từ đầu đến cuối. Và câu chuyện của anh mang đến cho độc giả một thông điệp đầy nhân bản tính: con người trên hết, hãy đối xử với nhau bằng tình người. Được hấp thụ nền giáo dục nhân bản, được trưởng thành trong xã hội văn hóa nhân bản của Miền Nam tự do, và được định cư tại Na Uy nơi mà người dân và chánh quyền đã bảo trợ, giúp đỡ người tỵ nạn một cách hết sức lịch sự, hết sức nhân đạo, bằng tất cả tình người, tác giả đã nuôi dưỡng trong tâm một triết lý sống đầy tình người, vô cùng nhân bản. Anh đã thể hiện triết lý nhân bản đó trong tác phẩm của anh.

GSTS Nguyễn Thanh Liêm

(California-Hoa Kỳ)

người lính Phạm Tín An Ninh

Published / by Phạm Tín An Ninh / 3 Comments on người lính Phạm Tín An Ninh

Phan Nhật Nam

Cho dù Ở Cuối Hai Con Đường là một văn phẩm có giá trị cao do nội dung và tinh thần chứa đựng trong ấy, chúng tôi xin được đề cập đến một điều cao quý, cảm động và hãnh diện hơn – Tình Thương mà Người Lính, Người Lính QL/VNCH hằng chiến đấu, bảo vệ, gìn giữ – Dẫu kinh qua vô vàn khổ đau của chính bản thân, gia đình, chiến hữu, bằng hữu.. Nỗi Đau lớn hơn sự chết, ghê gớm hơn cái chết mà toàn Dân Tộc phải gánh chịu trong nghiệp hận oan khiên tưởng như không hề có thật.. Những nội dung qua chữ nghĩa của Người Lính Phạm Tín An Ninh gây nên cảm giác không thể tiếp tục cuốn sách như khi vừa đọc tới chuyện thứ hai.. “Chuyện Sắt SonVề người đàn bà tên gọi là Chị Ngà“, hoặc đến chuyện thứ ba, “Ở Cuối Hai Con ĐườngVề người quản giáo cộng sản ở Trại Nghĩa Lộ, Yên Bái” thì bản thân thật sự rơi vào trạng thái kiệt sức với câu tự hỏi nói ra lời: Sao con người có thế tàn ác với nhau đến như thế? Sao con người có thế tàn nhẫn với đồng chí, ngay cả vợ con mình như thế? Tại sao và tại sao..?!

Và đến chuyện Thằng Bé Đánh Giày Quê Ở Nghĩa Lộ với cái chết oan khốc bi thương của bé Khiêm thì chúng tôi đã phải kêu lên lời tán thán: Thượng Đế ơi Ngài ở đâu khi con người bị bức hại và đày đọa bởi Sự Ác/Bởi Kẻ Ác?

Tuy nhiên, Phạm Tín An Ninh đã viết xuống với tràn đầy thương yêu qua mỗi giòng chữ.. Từ đâu anh có năng lực kỳ diệu cảm động nầy? Từ đâu anh viết ra những câu chuyện kinh hoàng, đáng sợ kia với văn phong bình lặng thuần hậu đến như thế? Anh đã là lính tác chiến thực thụ của Sư Đoàn 23 Bộ Binh nơi chiến trường Tây Nguyên trong giai đoạn chiến tranh ác liệt nhất trước 1975..

Phan Nhật Nam, (SBTN)

trời đất bao la

Published / by Phạm Tín An Ninh / 5 Comments on trời đất bao la

 

Định cư ở Nauy hơn ba năm, sau khi ổn định công việc làm ăn và việc học hành cho mấy đứa con, tôi tổ chức một chuyến Âu du bằng xe hơi. Chiếc xe Ford của tôi vừa cũ kỹ vừa nhỏ, không thể nào vượt qua một chặng đường trên dưới bảy ngàn cây số, và dĩ nhiên cũng không đủ chỗ cho một gia đình lớn nhỏ tám người. Lại nghe mấy người bạn tới trước “hù”, bảo là trên xa lộ Âu châu vào mùa hè, chạy một cái xe cũ có thể bị giữ lại giữa đường và nộp tiền phạt vì cái tội làm trở ngại giao thông. Tôi mướn một cái xe mới toanh mười hai chỗ ngồi, có máy lạnh và kính mát đàng hoàng. Tôi không muốn bất cứ điều gì làm mất cái hứng thú cho cuộc hành trình đầu tiên của chúng tôi trên những đất nước mà trước đây tôi đã từng một thời mơ ước nhưng chẳng bao giờ nghĩ là có một ngày được đi qua. Tôi và đứa con trai lớn vừa mới đủ tuổi lấy bằng lái xe thay nhau làm tài xế. Bà xã và cô con gái lớn chịu trách nhiệm xem bản đồ và theo dõi lộ trình. (more…)

trang bạn hữu – thơ cung vĩnh viễn

Published / by Phạm Tín An Ninh / Leave a Comment

 

đôi mắt

(cảm tác từ truyện Tiểu Thơ của PTAN)

 

Như con sóc nhỏ trong cành lá

em nhảy chuyền trên những ngọn vui 

tung tăng mái tóc mười lăm tuổi 

đôi mắt tròn xoe ngó cuộc đời.

 

Ta biết đời ta lăng lông lốc 

như hòn đá tuột dốc kinh tâm 

đâu phải lòng ta khô không khốc 

nhưng đành dấu kín nỗi thương thầm.

 

Ta đi ở lính mười năm lẻ 

đánh trận xong về phá phách chơi 

ở giữa cuộc vui ta vẫn thấy 

đôi mắt tròn xoe khúc khích cười.

 

Mười năm bỗng hóa thành công cốc 

tang thương đến tận cỏ cây này 

ta đi trả nợ cho bằng thích 

dẫu rằng ta đã chẳng hề vay.

 

 Mười năm. Toi mất mười năm nữa 

ta về như mán trở về kinh 

vườn cũ bỏ hoang nhà đổi chủ 

mong gì thấy lại mắt ai xinh.

 

Thôi lại lăn thân chốn chợ trời 

kiếm đường kiếm bạn để đi chui 

giữa bao khuôn mặt người thương khó 

trời ơi đôi mắt của em tôi.

 

Chết điếng lòng trong nỗi đoạn trường

châu chìm ngọc nát với tang thương 

quay đi để dấu đôi hàng lệ 

chẳng dám nhìn em giữa nhiễu nhương.

 

Đáng kiếp cho ta gã cố cùng 

đã không giữ nổi mảnh quê hương 

thì cho mất mát bao nhiêu nữa 

chuyện cũng đành thôi sự cũng thường.

 

Thôi thì bỏ xứ mà đi vậy 

đi để tìm ra nghĩa cuộc đời 

hay là đi trốn niềm đau tủi 

đi trốn đi tìm cũng thế thôi.

 

Mười năm đất khách trôi biền biệt 

như kiếp voi già nhớ nghĩa trang 

ta về nghe tiếng đời huyên náo 

khúc hậu đình hoa tấu sỗ sàng.

 

Chân bước rời xa nẻo phố phường 

mười phương lòng vẫn nhớ một phương 

xa xôi có tiếng chuông chùa vọng 

tới kẻ hành nhân để độ đường.

 

Ta đứng ngập ngừng nơi chánh điện 

trong chùa đang có buổi cầu kinh 

một hàng sư nữ đang ngồi niệm 

bỗng một vị sư ngước mắt nhìn.

 

Ta sững người trong phút bất ngờ 

ơi con sóc nhỏ thuở xa xưa 

nghiệp duyên tiền kiếp nào đưa đẩy 

khiến đã nương thân dưới mái chùa.

 

Lẳng lặng lùi thân chẳng nghĩ suy 

đời chia trăm nẻo để phân ly 

ngước nhìn muôn vạn vì sao sáng 

văng vẳng lời Kinh Chú Đại Bi.

 

Hình như bỗng thấy lòng êm ả 

hiểu ra là sắc cũng là không 

cho dù đời có nhiều ma chiết 

đôi mắt tròn xoe vẫn sáng trong.

Cung Vĩnh Viễn



 


 


 

 

tiểu thơ

Published / by Phạm Tín An Ninh / 2 Comments on tiểu thơ
 
icon for podpress  Tiểu Thơ: Play Now | Play in Popup

Rầm!

Tôi và hai thằng bạn vừa rà thắng xe đạp trước rạp Tân Tân để vào xem phim “Ba Chàng Ngự Lâm Pháo Thủ” thì bị một chiếc Vélo Solex húc từ đằng sau tới. Cả ba thằng ngã xuống đất. Riêng tôi còn bị cái xe của thằng bạn đè lên bụng đau muốn nín thở. Mới loi ngoi bò dậy, chưa kịp phủi bụi trên áo quần thì nghe tiếng quát tháo:

– Ê ! bộ ba “chàng ngự lâm pháo thủ” mù cả hà. Dừng ngựa mà chẳng coi chừng phía đàng sau ! Đáng đời!

Vừa ngượng vừa tức giận bởi tự dưng bị húc té nhào giữa thanh thiên bạch nhật và trước bao nhiêu nguời đẹp, chưa kịp nắm cổ áo cho một trận, thì bị thủ phạm tiếp tục tấn công phủ đầu. Đúng là cà chớn. Nhưng nhìn lên thì.. à..cả ba thằng khựng lại : đối phương là một cô gái, tuồi ô mai, tóc còn thắt bím, ngồi trên Vélo, vòng tay trước ngực, trề môi, rồi trợn đôi mắt to như hai cái đèn “ô tô”: (more…)

đường xưa lối cũ

Published / by Phạm Tín An Ninh / 4 Comments on đường xưa lối cũ

Đường xưa lối cũ ta về
Từng con sóng vỗ não nề xa xa

Tôi xin mượn tên một bài hát của cố nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ làm tựa cho bài viết có lẽ không đâu vào đâu này, để cám ơn chị bạn Ninh-Hòa có cái họ vừa đẹp vừa buồn – Lương Lệ- đã hát tặng trong đêm đầu tiên chúng tôi vừa trở lại quê nhà, ở cái quán cà phê mang tên khá lạ; Hòn Kiến, nằm trong một khu vắng vẻ trên con đường Bạch Đằng quen thuộc của một thời tôi còn lang thang đi học ở Nha Trang.
Bài hát dù hay nhưng xưa cũ lắm, tôi đã nghe rất nhiều lần, đến gần như không còn cảm xúc. Nhưng hôm nay ngồi nghe chị hát mà lòng chợt ngậm ngùi. Bởi vì chính bây giờ đây, tôi đã trở về và đang đi trên những con đường xưa lối cũ ấy. (more…)

Người Bạn Làng Tam Ích

Published / by Phạm Tín An Ninh / Leave a Comment

(gởi Phạm văn Nếp)

Bạn về gõ cửa đêm thâu
Ta nghe âm vọng nỗi sầu xa xưa

Sau ba năm ngồi bên nhau ở trường Võ Tánh, chia tay, mỗi thằng đi mỗi ngã. Anh bạn của tôi thì vào trường luật, còn tôi thì vào trường…lính. Khi còn đi học, bạn chăm chỉ và giỏi hơn tôi nhiều. Hai đứa học trò nghèo, cùng ở quê lên tỉnh học, nên dễ dàng là bạn tâm giao. Con nhà nghèo nhưng tôi lại mê truyện François Sagan và thơ Xuân Diệu, biết yêu hơi sớm, nên thay vì theo bạn học thêm vài ba chữ, thì tôi lại đắm say ngụp lặn trong một cuộc tình kiểu Aimez-vous Brahms. Mà dường như tình yêu nó làm cho người ta đổi thay ghê gớm lắm.

(more…)

New Orleans! cho tôi nói một lời xin lỗi

Published / by Phạm Tín An Ninh / 2 Comments on New Orleans! cho tôi nói một lời xin lỗi

C ái tựa bài viết này tôi mượn từ một tờ báo Pháp. Hôm qua, chiều thứ bảy, lên phi trường Gardemoen Oslo đón vợ chồng đứa con trai út nghỉ hè từ Tây Ban Nha về. Chuyến bay đến trễ 40 phút. Trong lúc chờ đợi tôi tạt vào quán cà phê, tìm một chỗ ngồi. Nhìn trên giá báo, tôi bất ngờ đọc được cái tựa lớn trên một tờ báo Pháp:” La Nouvelle Orléans! Je demande pardon! “. Vốn liếng Pháp văn chỉ bì bõm vài ba chữ, nhưng vì tò mò, tôi cầm tờ báo lên tìm đọc.

Bài viết của một cô gái Pháp, có một thời lớn lên ở New Orleans. Năm mười hai tuổi, cô bé theo gia đình về lại quê cha. Từ đó cô chưa có lần trở lại New Orleans. Môt thành phố xinh đẹp, thơ mộng và lãng mạn. Isle d’Orléans của tổ tiên cô bé bao đời về trước. Với cô, nó là “một Pháp Quốc của thời thơ ấu”. Đã bao nhiêu năm về sống tại một vùng ngoại ô Paris, nhưng mỗi buổi sáng thức dậy, dư âm tiếng nhạc Jazz dọc theo con đường Bourbon trong khu Vieux Carré vẫn còn rộn rã bên tai, mùi thơm từ quán Café du Monde trong French Quarter vẫn còn làm cho cô ngây ngất. Nhưng quan trọng hơn hết là ở nơi đó, cô còn có biết bao hang động tuổi thơ. Cô ân hận, vì đã trót bỏ lỡ hai cơ hội khá lý tưởng để trở lại thăm thành phố yêu dấu xưa. Cách đây ba năm, khi cô vừa tốt nghiệp trung học, cha mẹ và người anh của cô trở lại thăm New Orleans, trong lúc cô theo bạn bè cùng lớp tổ chức một trại hè chia tay trên một hòn đảo ngoài khơi bờ biển Nice. Cô hẹn với cha mẹ sẽ sang thăm New Orleans một mình vào hè năm sau. Nhưng khi vào đại học, cô quen một người bạn trai và sau đó cô yêu chàng. Mùa hè năm ấy thay vì đi New Orleans, cô theo người yêu về quê ở Marseille ra mắt bố mẹ chàng. Hè năm sau, cô ngỏ ý với người yêu rủ chàng cùng sang New Orleans, nhưng chàng ta hẹn chờ thêm hai năm nữa, làm đám cưới, chàng sẽ đưa cô sang đó hưởng tuần trăng mật cho thật tròn ý nghĩa. Cô cám ơn thiện ý này. Nhưng rồi cuối mùa thu năm ngoái, buổi sáng, khi lái xe tới giảng đường, một tai nạn giao thông đã làm cô tê liệt cả hai chân. Mùa hè vừa qua, khi cô còn nằm trên giường bệnh, thì người yêu đã làm đám cưới với một cô con gái khác. Điều đau lòng, cô gái này lại chính là cô bạn thân của cô bé.

(more…)

Cái Chết Oan Khuất Của Nhạc Sĩ Minh-Kỳ

Published / by Phạm Tín An Ninh / 2 Comments on Cái Chết Oan Khuất Của Nhạc Sĩ Minh-Kỳ

 

 

“Nha Trang là miền quê hương cát trắng
Có những đêm nghe vọng lại, ầm ầm tiếng sóng xa đưa
Nha Trang cánh đồng bao la bát ngát
Hương quê dâng lên ngào ngạt, hòa cùng sức sống yên vui
…….
Ai ơi, người về cho ta nhắn với
Nha Trang quê hương dịu hiền, ngàn đời lòng tôi mến yêu”

 

Ai đã sinh ra và lớn lên ở Nha Trang, hoặc đã từng ghé lại đây đôi lần, đều không quên bài hát dễ thương này, mà cả một thời gian gần hai thập niên, đài phát thanh Nha Trang đã dùng làm nhạc hiệu mở đầu.

Cuối tháng 3/75, Nha Trang bị nhận chìm trong làn sóng đỏ. Người Nha Trang đã cùng chịu chung số phận. Kẻ bị giết, người bị tù đày, gia đình, bè bạn, thầy trò, chia ly tan tác. Số phận của nhạc sĩ Minh Kỳ, tác giả bài hát này (cùng nhiều bản nhạc về Nha Trang khác nữa) cũng đã gắn liền với định mệnh đau thương của thành phố mà ông đã được sinh ra, hết lòng yêu thương và đã gởi trọn lòng mình qua những dòng nhạc thiết tha trìu mến đó. Ông đã bị giết. Cái chết thê thảm và oan khuất của ông có lẽ được ít người Nha Trang, – dù còn ở trên quê nhà, hay tha phuơng khắp chốn – biết đến

Người viết bài này, có cái cơ duyên được ở chung cùng một trại tù với ông, và cũng đã được tâm sự cùng ông một vài ngày trước khi ông chết. (more…)

Người Con Gái Phú Hòa

Published / by Phạm Tín An Ninh / Leave a Comment

 

Ôi những con đường đến tự đâu
Một lần gặp gỡ ngã tư nào
Rồi trong vô hạn chia lìa miết
Có cuốn theo mình bụi của nhau
(Tô Thùy Yên)

K hi ra khỏi quân trường, cầm tờ sự vụ lệnh lên trình diện đơn vị tại Ban Mê Thuột, tôi cứ ngỡ là suốt đời binh nghiệp của mình sẽ gắn liền với rừng núi cao nguyên. Nhưng không ngờ  tiểu đoàn của tôi được chọn làm đơn vị trừ bị cho quân đoàn, nên nhiều khi buổi sáng còn ở trong núi rừng Quảng Đức, Lâm Đồng, buổi chiều lại có mặt ở bờ biển Bình Tuy, Cam Ranh, Phan Thiết

Một ngày cuối năm 1966, sau hai tháng đánh đấm ở Bình Định, Phú Yên, đơn vị tôi cùng một chi đoàn thiết quân vận tăng phái, được tàu hải quân bỏ xuống bờ biển Nha Trang. Trong đám lính phong trần, có lẽ tôi là thằng mừng vui nhất, không phải đang từ một vùng lửa đạn được đổi đến thành phố  biển an bình , nhưng vì bất ngờ được trở lại quê hương, nơi còn rất nhiều dấu vết  tuổi thơ . Cuộc hành quân mang tên “Hải Âu” này, với tôi nó còn là một “định mệnh”, khi cả đơn vị tôi đổ quân xuống thị trấn Ninh Hòa lúc hai giờ sáng. Bởi chính lần này cuộc đời tôi cột chặt với vùng đất có “con sông Dinh chảy qua Cầu Sắt” này.

Hơn ba tuần trong mật khu Đá Bàn, chúng tôi xuống Phú Gia nhận lương thực rồi kéo qua Tân Hưng, Trường Lộc và cuối cùng về nghỉ dưỡng quân hai tuần tại Phú Hòa, một làng quê an bình và trù phú như cái tên gọi.

Tôi tìm địa hình thích hợp để bố trí quân, và chọn khu vườn sau một ngôi nhà lớn nằm trên vị trí khá cao bên con hương lộ, để xin được đặt ban chỉ huy đại đội

Bà chủ nhà đón tôi bằng một nụ cười phúc hậu của một bà mẹ thương con. Bà vui vẻ cho phép chúng tôi được xử dụng cái hiên nhà rộng rãi và thoáng mát làm “bản doanh”. Cần bất cứ thứ gì bà sẵn lòng giúp. Ông chủ cũng là một người nặng tấm lòng, hỏi han từng người lính.  Ông Bà xem chúng tôi như con cháu trong nhà, hơn nữa thấy lính tráng khổ cực, Ông Bà  thương. Bọn tôi ai nấy cũng cảm động trước tấm lòng nhân hậu của Ông Bà, nhưng theo lệnh trên, không cho phép ở trong nhà dân mà chỉ xin được ở ngoài vườn.

Hai ngày sau, thứ bảy, tôi mới phát hiện nhiều đìều thú vị. Đúng là ở hiền gặp lành, Ông Bà có đến năm, sáu cô con gái, mà cô nào cũng xinh đẹp, hiền thục và học hành giỏi. Nghe nói ba cô chị thì đã đi làm hay đi học ở Nha Trang, chỉ về thăm nhà vào cuối tuần, còn mấy cô em thì đang học ở trường trung học quận lỵ. Hỏi ra thì hầu hết các cô nương này tôi chưa gặp nhưng đã nghe danh từ lúc tôi còn đi học ở Nha Trang..
(more…)

những điều mơ ước

Published / by Phạm Tín An Ninh / 2 Comments on những điều mơ ước

Có một dạo, đi đâu tôi cũng nghe thiên hạ hát bài Con Chim Đa Đa, “sao không lấy chồng gần mà đi lấy chồng xa..” rồi đến bài Chị Tôi, “thế là chị ơi rụng bông hoa gạo”. Đúng như người ta nói, Thơ và Nhạc có ngôn ngữ riêng của nó. Một người không có nhiều chữ nghĩa như tôi, nhiều khi say mê hát một bài hát mà sau đó suy nghĩ mãi vẫn không hiểu rõ ngọn ngành, ý nghĩa một vài câu. Trong bài Chị Tôi, tôi cũng rất ư là lờ mờ cái sự kiện.. rụng bông hoa gạo..và trời cho làm thơ.. này lắm. Dù vậy tôi vẫn thấy bản nhạc phổ từ một bài thơ chỉ vỏn vẹn mấy câu này, khá hay. Mà ngay đến cái sự hay này tôi cũng mơ hồ, không biết có đúng là tôi biết thưởng thức thơ nhạc không, hay là chỉ vì có sự đồng cảm mà tôi thấy lòng mình xúc động. Bởi vì mỗi lần nghe ai đó hát bản nhạc Chị Tôi, tôi lại da diết nhớ đến bà Cô Út của tôi.

Từ lúc chưa tròn ba tuổi, tôi lớn lên trong cái bất hạnh của một người chưa hề có “bông hồng cài áo”. Mẹ tôi mất quá sớm, đến nổi tôi không bao giờ hình dung được khuôn mặt hiền từ phúc hậu của bà như lời cha tôi kể lại. Nỗi bất hạnh đó lại càng lớn hơn, khi tôi không có một bà chị nào để được dịp nhìn dung nhan Chị mà mơ tưởng đến bóng hình của Mẹ. Ba tôi đang dạy học ở trường Pháp Việt thì bị Việt Minh đưa ra liên khu năm làm công tác “xóa nạn mù chữ”. Khi lớn lên một chút, bắt đầu nhận hiểu được đôi ba điều quanh mình, tôi chỉ biết là hai anh em tôi lớn lên ở nhà ông bà nội, và trong vòng tay yêu thương cùng giọng hát ru hời của bà Cô Út.

(more…)

Audio Book: Tiểu Thơ

Published / by Website Developer / Leave a Comment
 
icon for podpress  Tiểu Thơ: Play Now | Play in Popup

Bấm vào PLAY NOW để nghe đọc truyện Tiểu Thơ. Do Thu Sương (Pháp Quốc) đọc và hát.

Người cựu tù Phạm Tín An Ninh ra mắt sách: Ở Cuối Hai Con Ðường

Published / by Phạm Tín An Ninh / Leave a Comment

Nguyên Huy/Người Việt

Ở cuối hai con đường, dù là những đoạn đường gian lao, khổ ải nhưng vẫn là nơi gặp được tình người để từ đó người ta có thể yêu thương nhau mà cùng chung xây dựng hạnh phúc. Ðó là suy nghĩ và mong mỏi của người cựu tù Phạm Tín An Ninh khi ông viết tập truyện ngắn đầu tay “Ở Cuối Hai Con Ðường”.Tập truyện ngắn này vừa được tác giả và gia đình từ Vương Quốc Na Uy tới cho ra mắt tại phòng sinh hoạt của nhật báo Viễn Ðông vào chiều hôm Thứ Bảy 26 tháng 7 vừa qua.

Khoảng ba trăm đồng hương trong đó nhiều người từng là độc giả của ông đã đến tham gia buổi ra mắt sách này khiến phòng sinh hoạt không còn một chỗ trống. Nhiều người đã phải đứng trong suốt buổi, kể cả phía ngoài hội trường.

Lý do khiến cuộc ra mắt sách này được đông đồng hương đến theo một số người tham dự cho biết thì “cuốn sách này tác giả đã thể hiện được cái tình người đối với nhau dù trong những hoàn cảnh khó khăn khắc nghiệt mà chế độ Cộng Sản đã áp đặt lên người dân Việt. Một lý do khác cũng khiến đồng hương đến đông là vì tác giả đã xin được cống hiến toàn số tiền bán sách cho Hội H.O. Cứu Trợ Thương Phế Binh & Quả Phụ VNCH”.

Ba giáo sư uy tín trong cộng đồng người Việt hải ngoại là cựu Thứ Trưởng Giáo Dục VNCH Nguyễn Thanh Liêm, Tiến Sĩ Trần Huy Bích và Giáo Sư Lưu Trung Khảo đã nhận đến giới thiệu phân tích, đóng góp ý kiến về cuốn sách này.

(more…)

phạm tín an ninh – văn chương tử tế

Published / by Phạm Tín An Ninh / Leave a Comment

Giao Chỉ

Trong đời sống của chúng ta, tìm được văn chương tử tế có lẽ cũng khá vất vả. Nếu không đánh phá, tấn công, đấu tranh mãnh liệt thì cũng nói nặng nói nhẹ, tiếng bấc tiếng chì. Và lịch sự lắm thì cũng ca cẩm phàn nàn. Đôi khi tác giả viết văn chỉ tử tế với mình còn xem ra thiên hạ chẳng có ai tử tế.Văn chương của Phạm Tín An Ninh không đi vào những con đường gai góc đó. Chuyện của ông toàn là chuyện tử tế và may mắn. Thậm chí khi đi cải tạo thì gặp cả quản giáo cũng tử tế. Tác giả kể chuyện đi lính, hành quân, trận mạc dù ác liệt đến đâu cũng dữ dội vừa phải. Từ quê hương miền duyên hải ông An Ninh lấy vợ Ninh Hòa, mối tình rất êm đẹp ôn hòa, không trắc trở, không ngang trái. Cuộc đời cứ phẳng lặng như bãi cát trắng miền Thùy Dương. Chinh chiến, tù đày, vượt biên, tàu cứu, định cư cho đến lúc về già tất cả cuộc đời dàn trãi trên nhiều bài tạp bút với bao nhiêu tao ngộ tình cờ. Tất cả đều toát ra văn phong của một ngòi bút tử tế và hết sức lạc quan. Thậm chí cho đến những chuyện tang tóc chung sự, những cái chết cũng chung hậu ngọt ngào. Chuyện của ông là chuyện đời thường nhưng sao tràn ngập những tình cờ hạnh ngộ. Nhiều đến nỗi dù có thật hay tưởng như thật mà độc giả cũng vẫn có thể đặt dấu hỏi. Trên đời này quả thật có nhiều sự ngẫu nhiên huyền diệu như thế chăng.

(more…)

“Ở Cuối Hai Con Đường” ra mắt tại Nam Cali

Published / by Phạm Tín An Ninh / 1 Comment on “Ở Cuối Hai Con Đường” ra mắt tại Nam Cali

RA MẮT THÀNH CÔNG Ở NAM CALIFORNIA

(Westminster 26-7-2008) Trong những năm trở lại trên các trang điện toán cũng như trên các tuần báo tại hải ngoại chúng ta được đọc nhiều truyện ngắn của tác giả Phạm Tín An Ninh. Đây là một tác giả tương đối tên tuổi còn mới mẻ, nhưng những trang viết của ông đã thu hút nhiều sự chú ý của độc giả ở khắp nơi, ngoài cũng như trong nước. Chúng ta đã được đọc nhiều tác giả về quân ngũ và đời tù “cải tạo”, nhưng Phạm Tín An Ninh có một chỗ đứng riêng, vượt lên trên những cảnh đổi đời, thăng trầm của cuộc sống là thứ tình người chan chứa. Chuyện ngắn hay nhất của Phạm Tín An Ninh được nhiều người biết đến chính là chuyện “Ở Cuối Hai Con Đường” mà ông đã lấy tên đặt cho tập truyện ngắn đầu tay. Phạm Tín An Ninh trở thành một hiện tượng viết mới, ở đó lao tù, khổ đau và những gian truân thay đổi của cuộc đời hình như trở thành mờ nhạt, để ở mọi nơi, tình người vượt trội, chứa chan trong mỗi dòng chữ viết, mỗi lời văn, từ những lời nói của từng nhân vật.

(more…)

nỗi buồn mùa thu

Published / by Phạm Tín An Ninh / Leave a Comment

Truyện Phiếm

Có lẽ những chiếc lá mùa thu đã nhuộm vàng phần lớn thi ca nhân lọai. Và dường như nếu không có mùa thu thì những cuộc tình sẽ không còn lãng mạn, thế gian này sẽ không có mặt của thi nhân. Ông Văn Cao đã khởi đầu sự nghiệp của mình bằng ” Buồn Tàn Thu” để rồi cuộc đời của người nghệ sĩ tài hoa này cũng tàn theo Giai Phẩm Mùa Thu (trong Nhân Văn Giai Phẩm). Ông mất đi trong cảnh khốn cùng để lại cho đời một kho tàng âm nhạc quí giá , cùng sự thương tiếc ngậm ngùi và bao điều suy ngẫm. ” Cây đại thụ” Phạm Duy phỏng theo một bài thơ Tây, phổ bản “Mùa Thu Chết“, để rồi tên tuổi cũng đã chết theo mùa thu ở cái “thị trấn giữa đàng” bên tận xứ Cali, bởi cái tính kênh kiệu và nói năng đôi điều phản trắc, chỉ để lại cho những người từng hâm mộ ông sự chua xót, bẽ bàng. Ở Việt nam ta, nếu ” con nai vàng ngơ ngác đạp trên lá vàng khô “đã làm nên Lưu Trọng Lư, thì bên Tây “Les Feuilles Mortes” đã khắc sâu tên tuổi Jacques Prévert trong lòng những người mê thơ, yêu nhạc.
(more…)

Cái Nón Lá

Published / by Phạm Tín An Ninh / 1 Comment on Cái Nón Lá

Truyện Phiếm

Lần “đáo xứ cố hương” vừa rồi, tôi có theo bà vợ Ninh-Hòa đến thăm ngôi trường Trần Bình Trọng, để tìm lại chút kỷ niệm xưa, mà bà cho là dễ thương nhất trong đời một người con gái, cho dù đến bây giờ tất cả chỉ là như khói như sương mà sao cứ mãi còn đọng lại ở đâu đó trong hồn nàng. Ngôi trường đã thay tên từ cái thuở thiên hạ đổi đời, sau cái ngày hai miền thống nhất để “miền Nam thì nhận họ, còn miền Bắc thì nhận..hàng”, nên không còn cái cảm giác thân quen, mặc dù bây giờ chúng tôi vẫn đang trở lại bằng những con đường xưa lối cũ. (more…)

trên chiến trường xưa

Published / by Phạm Tín An Ninh / Leave a Comment
 
icon for podpress  trên chiến trường xưa: Play Now | Play in Popup

Hơn ba mươi năm sau, cùng với bốn anh em trong đơn vị xưa, chúng tôi trở lại Kontum tìm thăm nơi an nghỉ của những đồng đội cũ. Trong những năm 72 và 73, đơn vị chúng tôi đã có hơn hai trăm anh em vĩnh viễn nằm lại nơi này để giữ vững miền địa đầu, cửa ngõ quan trọng nhất vào Tây Nguyên, nơi có bản doanh Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn nằm không xa phía dưới – thành phố Pleiku.Dừng chân dưới chân núi ChuPao, nhớ tới những trận đánh khó khăn ác liệt với những toán địch quân bị xích chân trong những hầm núi đá, cố bám trụ những cái “chốt”, nhằm cắt đứt QL 14, con đường huyết mạch nối liền Kontum với Pleiku, và hình dung tới từng khuôn mặt của những anh em đã không bao giờ còn trở lại, một số đã gởi xác thân lại cho rừng núi nơi này, tôi xót xa khi nghĩ là mình còn mắc nợ họ. Món nợ máu xương không bao giờ trả được.Ngày ấy chiến trường ác liệt, có nhiều người lính phải hy sinh ngay khi vừa mới bổ sung cho đơn vị, mà ban quân số chưa kịp nhận hồ sơ lý lịch. Đa số rất trẻ, độc thân, và gia đình ở tận những miền xa, nên mồ mả không có ai chăm sóc. Hơn ba mươi năm rồi, qua bao nhiêu thăng trầm biến đổi, có lẽ hầu hết các nghĩa trang trong thành phố đã bị giải tỏa từ lâu, và nếu có được cải táng ở một nơi nào đó, chắc trên mộ bia không còn ghi đơn vị cũ. Chúng tôi đến đây như để tìm lại chút kỷ niệm và mong được vơi đi chút nào lòng trắc ẩn, chứ chuyện tìm lại được mồ mả của anh em – hy vọng rất mong manh.

(more…)