Cuối Trời Thênh Thang
(Thay vòng hoa tiếc thương Phạm Vương Thục)

“Xin cho một người vừa nằm xuống
thấy bóng Thiên đường cuối trời thênh thang”
TCS
Đã lâu lắm, kể từ buổi trưa u buồn ngày 30/4/75, khi nghe Trịnh Công Sơn hát bài Nối Vòng Tay Lớn trên đài phát thanh Sài gòn, đón mừng những người CS vừa cưỡng chiếm miền Nam, tôi không còn hứng thú để hát nhạc của ông, dù có nhiều bản tình ca tôi từng một thời ưa thích, bỗng dưng chiều nay buột miệng hát lên mấy câu trong bài hát khá xa xưa mà tôi đã quên mất vài lời, khi nghe Bác sĩ Ngô Thế Khanh và cô bạn Phạm Thu Đào báo tin Phạm Vương Thục vừa mới ra đi. Dù đã biết trước điều đau đớn này rồi sẽ xảy ra, tôi vẫn bàng hoàng, có cảm giác cả bầu trời trước mặt và ngay chính trong lòng mình như chỉ còn là một khoảng trống bao la. Tôi hình dung người lead gun phương phi của Phi Đoàn Song Chùy 213 hào hùng ngày nào trên bầu trời khói lửa Vùng I, Hạ Lào, giờ thực sự đang lặng lẽ bay về cuối trời thênh thang. Tôi mơ hồ như văng vẳng đâu đây dư âm của cánh quạt trực thăng vần vũ và tiếng đạn minigun, rocket từng tràng phóng xuống, thét gào, cuồng nộ. Rồi tất cả bỗng lặng yên, tĩnh mịch.
Đọc tiếp…

Đ ối với người lính chiến miền Nam Việt Nam, chỉ cần nhắc tên một ngọn núi, như Núi Tà Dôm hay Chu Pao, một con đường, như Quốc Lộ 14, Tỉnh Lộ 7 B; một đồ vật như đôi giầy “xô”, cái nón sắt… là có thể tâm hồn òa vỡ. Vết thương lính có thể lành nhưng ký ức không bao giờ phai nhạt. Nó bừng lên nếu có ai bật nút. Phạm Tín An Ninh là một trong số người bật nút tài tình vào bậc nhất hiện nay. Năm ngàn (5. 000) cuốn Ở Cuối Hai Con Đường được bán sạch trong vòng một năm chứng tỏ sau 35 năm kết thúc cuộc chiến, truyện lính vẫn hấp dẫn, không riêng đối với lính mà với mọi người ít nhiều có liên hệ tới cuộc chiến. Nếu đặt Ở Cuối Hai Con Đường trong hoàn cảnh thị trường sách và tình hình đọc ở hải ngoại ngày nay, thì tập truyện này là một hiện tượng. Tôi là người ngán đến mang tai truyện chiến tranh (dù hay như Platoon hay buồn nôn như Deer hunter, thấy trên TV là tôi bật đài khác liền, bởi vì trong những phim ấy tôi chỉ thấy Mỹ và Việt Cộng, không có “Ta” trong đó, “Ta” đã bị loại ra khỏi vòng chiến ngay từ đầu; (nếu có “Ta” là đi đôi với những tướng tá lệ thuộc, ươn hèn). Nhưng tôi thích truyện PTAN. Bạn bè tôi cũng thích và chúng tôi hỏi nhau tại sao chán phim chiến tranh mà độc giả - cả lính lẫn dân - lại thích truyện PTAN? Câu trả lời đơn giản là vì PTAN không kể chuyện chiến tranh (thản hoặc chỉ lấy chiến tranh là m bối cảnh). Anh kể chuyện lính, tức là kể về những con người, trong đó “đánh đấm” chỉ là một khía cạnh. Và không phải người lính đơn độc, mà người lính gắn liền với người dân, với một mối tình. Người lính không chỉ có kiêu hùng mà còn lãng mạn, nhân bản, vị tha. Hình ảnh người lính của PTAN không phải đẹp với bộ quân phục mà đẹp trong suy nghĩ, trong tâm hồn.
Độc giả sẽ thấy những nét đặc thù đó nổi bật hơn nữa trong tập truyện Rừng Khóc Giữa Mùa Xuân.
Hai anh lính trẻ nhận được hai tấm khăn thêu và hai lá thư ‘sao y chánh bản’ tới tận trường tìm cô em gái hậu phương, để sau đó một người thành người tình bạc mệnh, một người thành nhà sư canh mộ cho bạn mình (Gói quà đầu năm). Anh lính Biệt Động Quân gùi đứa con trai bốn tuổi sau lưng, mở đường máu cho đồng đội, để cuối cùng bỏ xác, bỏ con trên rừng thẳm (Rừng khóc giữa mùa xuân). Cô gái cán bộ lâm trường người Hà Giang yêu anh lính tù cải tạo, giúp anh bản đồ, địa bàn và lương khô để vượt ngục; cuộc đào thoát thất bại, cô tưởng anh đã chết, sáu năm mới đi lấy chồng, nhưng anh vẫn còn sống và trở thành một vị thầy tu.. (Nghỉ hè ở Mallorca). Những anh lính trẻ hành quân tại Ngân Sơn không bao lâu, ngày lên đường, trên đoàn xe GMC của tiểu đoàn, thấp thoáng những cô dâu mới trong bộ đồ lính trận (Người lính trinh sát). Sau cuộc chiến, dù là người bại trận, họ vẫn luôn dang hai tay ôm lấy cái tình huynh đệ, cố giữ hào khí, tư cách của ngày xưa ( Những cánh đại bàng sau cơn bão lửa). Nhiều năm khốn khổ trong lao tù, trở về với một gia đình tan nát, người lính vẫn chịu đưng bao dung, bao nhiêu nỗi oan khiên gởi theo hồn tiếng sáo (Tiếng Sáo).Về già, ngồi “điểm danh”, nhớ thương từng đồng đội cũ, tiếc nuối bao kinh nghiệm chiến trường giờ không biết còn truyền lại cho ai (Lá rụng không về cội)…
Đó là những hình ảnh tưởng chỉ có trong phim về chiến tranh Nam-Bắc Mỹ hoặc Chiến tranh và Hòa bình tại Nga. Nhưng đó là những hình ảnh con người trong chiến tranh Việt Nam. PTAN thu được những hình ảnh đó nhờ anh là lính chiến; anh kể lại chi tiết từng địa danh, năm tháng, không hẳn vì nhờ có trí nhớ tuyệt vời, mà chính vì anh không thể nào quên. Nhưng yếu tố quan trọng không kém khiến cho truyện PTAN có giá trị đặc biệt, là anh có một triết lý riêng để lý giải tất cả mọi việc trên đời - thái độ trước định mệnh.
Cuộc đời trong thế giới PTAN đầy oan trái, và đầy tính định mệnh. Nhưng các nhân vật không thúc thủ trước định mệnh. PTAN tin”xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều”. Truyện PTAN thường cực kỳ éo le, chằng chịt khúc mắc, dàn dựng khác với phép dựng kịch (dramaturgy) của truyện ngắn cổ điển (vả lại, có bao nhiêu nhà văn Việt Nam viết truyện ngắn theo sách vở?). PTAN dàn dựng truyện như thế này:
tình cờ - hạnh ngộ - chia ly - đi tìm - thấy - xử trí theo tình nghĩa.
Các truyện trong Rừng Khóc Giữa Mùa Xuân, vì thế, phần nhiều là bi kịch, nhưng luôn luôn có hậu, khuynh hướng mà đa số độc giả trông đợi. Nhờ thế, đọc truyện Phạm Tín An Ninh, dù chảy nước mắt nhưng ai cũng phải hài lòng
Tâm Thanh
Đất Trời Bao La ngày 23 tháng 9 năm 2008
Anh Ninh thân mến,
Cuối cùng thì tôi cũng đã tìm thấy cái mộ bia anh khắc tên tôi đặt “ở cuối hai con đường”. Không biết cái hài cốt nằm im trong mộ huyệt đó có phải là tôi chăng ? hay của một ai đó cũng nằm úp mặt nhấp nhô trên trên các lớp sóng phế hưng của thời đại? Dù của ai đi chăng nữa tôi cũng rất lấy làm hạnh phúc để thấy rõ rằng : khi chết đi đã có sẵn cái mộ bia đề tên mình, LĐD,do anh đề tặng. Đó là cái mộ bia duy nhất của tôi còn lưu lại sau khi tôi từ giã cõi đời, nó sẽ tồn tại lâu - rất lâu - cùng tên tuổi và tác phẩm của anh. ” Bất tri tam bách ….”.
Về cuốn sách Ở Cuối Hai Con Đường, chữ nghĩa của anh trải dài trong 252 trang sách (từ trang 7 đến trang 258). Nếu đem chia đều cho 16 truyện ngắn trong sách, bình quân mỗi truyện lãnh 15,75 trang. Câu chuyện anh viết để gởi tặng tôi chiếm nhiều trang nhất. Hai mươi hai trang rưởi với 7.178 chữ. Bài có số trang hạng nhì là Trời Đất Bal La, chiếm hai chục trang rưởi, dưới 7.000 chữ. Tôi cứ nghĩ rằng anh viết bài này để tặng cụ bà Jacqueline Cuvéro nào đó hiện đã ngủ yên trên đường hoa dĩ vãng. Xin cám ơn đã rút một đoạn tơ dài hơn để tặng tôi. Xin cám ơn đã chiêu đãi thằng bạn tù cũ kỹ hơn người tình xưa. Tôi đọc sách anh viết mà cứ sợ nó hết. Thỉnh thoảng phải ngưng để gạt nước mắt mới tiếp tục được. Tôi không muốn cắm thêm một cành hoa dại vào cái bình hoa đẹp đã được cắm đầy ắp những loài hoa cao quý.
Cuối thư xin chúc anh và gia đình được vạn sự bình an và hạnh phúc.
LđD
TB. Anh đừng nghĩ đến chuyện trả lại chiếc nhẫn. Tình đã cho không lấy lại bao giờ.
Tay bị liệt, chữ viết khó đọc. Tha lỗi
Tôi quen Long từ lúc còn trong quân trường. Hai thằng có nhiều thứ khác nhau. Cái tên Nguyễn Vĩnh Long của nó cũng đủ làm cho tôi cảm thấy cách xa nó đến cả mấy trăm cây số. Nó cao lêu ngêu, tôi thuộc loại chỉ đủ thước tấc đi lính. Mỗi lần sắp hàng diễn hành hát bài Đường Trường Xa, nó cầm cờ đi hàng đầu, còn tôi ách ê hàng áp chót. Tôi ăn nói vụng về nên thường thầm lặng còn nó thì giỏi lý sự nên nói hơi nhiều. Cái giọng nam bộ của nó thường mở đầu bằng mấy tiếng chửi thề, nên tôi ngại nói chuyện với nó. Dường như hai thằng chỉ có một điều giống nhau duy nhất: Con nhà nghèo. Gia đình lại ở quá xa, cho nên những ngày cuối tuần, hai thằng đều mồ côi tại chỗ. Không ngờ chính cái điều giống nhau duy nhất ấy mà sau này hai thằng trở thành bạn chí thân.
Quả thật là nó có nhiều thứ khác tôi. Nói cho đúng là có nhiều cái hơn tôi. Ra trường nó được chọn về một quân trường trong Huấn Khu Dục Mỹ, nằm ngay tại quê tôi, làm huấn luyện viên, còn tôi lại phải ra làm trung đội trưởng ở một đơn vị tác chiến trên cao nguyên xa tít mịt mù. Đọc tiếp…
Mallorca, một hòn đảo du lịch nổi tiếng của Tây Ban Nha, nằm trong quần đảo Balearic. Trước khi đến đây, vì nghĩ là đảo, nên tưởng chỉ có rừng núi và biển cùng một vài làng mạc hay khu phố nhỏ, nhưng tôi rất ngạc nhiên khi phi cơ đáp xuống phi trường Palma rộng lớn, kiến trúc tân kỳ, sang trọng còn hơn nhiều phi trường quốc tế khác mà tôi đã từng đi qua. Palma là thủ phủ tráng lệ của Mallorca, nằm trên một dãy đồi cao nhìn xuống biển xanh. Đặc biệt khu nhà thờ Cathedral nằm bên cạnh giáo đường Mussulman, gồm những kiến trúc độc đáo, nổi tiếng theo kiểu Mediterranean Gothic từ thế kỷ thứ 13.
Chiếc xe bus của công ty du lịch đưa chúng tôi đi qua vài thành phố cảng, sang trọng và sầm uất, nằm dọc theo bờ biển, để đến Alcudia, khu nghỉ mát nằm phía đông bắc Palma chừng ba giờ xe. Chúng tôi chọn nơi này, vì bờ biển đẹp, một cái vịnh nhỏ, nằm khuất sau dãy núi Victoria, nên không có sóng và khá an toàn cho trẻ em. Những em bé năm, sáu tuổi có thể lội ra cách bờ 50-60 mét. Đọc tiếp…
Riêng tặng Hồ Ngọc…
Tôi đến thăm Cali vào những ngày mưa, mưa tầm tã. Đài phát thanh Little Saigon, trong chương trình dự báo thời tiết, cho biết cả tiểu bang Cali đang bị ảnh hưởng một cơn bão nhiệt đới. Nằm nhà người bạn cùng đơn vị xưa ở thành phố Garden Grove, trong khu Little Saigon, cả ngày hai thằng thi nhau kể chuyện chiến trường, chuyện bạn bè, tù tội, làm cho những cơn mưa như càng dài ra thêm.
Anh bạn rủ tôi ra Hội Trường Nhật Báo Viễn Đông tham dự buổi ra mắt sách của một nhà văn nữ. Anh tỏ ra am tường về mọi thứ chuyện, bảo ở hải ngoại thời buổi này văn chương chữ nghĩa rẻ như bèo, mà nhà văn nhà thơ thì cứ mọc lên như nấm. Đúng là người Việt nam nào cũng có đầy thơ văn trong bụng. Nhưng nhà văn hôm nay là người quen, một cô bạn học cũ, sau này anh bất ngờ gặp lại khi cô đang làm phóng viên chiến trường, nên tới để cho cô ấy vui. Chúng tôi đến trễ, may mà còn mấy chiếc ghế trống phía sau để không phải đứng. Trên sân khấu, một diễn giả, dường như cũng là một nhà văn lão thành có tiếng tăm, đang giới thiệu tác giả và tác phẩm. Lại thêm một tác phẩm nữa về chiến tranh! Cuộc chiến chấm dứt đã hơn 30 năm, nhưng bao nhiêu nỗi oan khiên dường như vẫn còn nguyên trong lòng người tha phương, như những vết thương không bao giờ lành được. Đọc tiếp…
(mến tặng cháu nội Vi-Na, thay cho quà Têt)
Khi sắp sinh đứa con đầu lòng, và được bác sĩ cho biết là con gái, vợ chồng cậu con trai lớn dành cho chúng tôi cái vinh dự: đặt tên cho đứa cháu nội đầu tiên.
Đã hơn mười năm sống (tạm) trên xứ Bắc Âu, một tiểu vương quốc nhưng có nền dân chủ vào bậc nhất hoàn cầu nên chúng tôi cũng đua đòi tập tành chơi trò dân chủ: triệu tập tất cả nhà lại để làm một cuộc “trưng cầu dân ý”. Thế là một đại hội tiểu Diên Hồng được triệu tập, trong không khí “hồ hởi phấn khởi” của ông bà nội và các cô, chú tương lai. Vợ chồng cậu con trai lớn, chuẩn bị làm bố mẹ, được ngồi dự thính. Để thực thi dân chủ, tôi chỉ định cô con gái lớn điều khiển buổi họp. Mỗi người chỉ đề nghị một hoặc hai cái tên, phân tích ý nghĩa và cuối cùng biểu quyết chọn cái tên nào có đa số phiếu. Bà cô chủ tọa cũng muốn “tiếp nối truyền thống dân chủ”, chỉ định cô út phát biểu ý kiến trước, rồi lần lượt từ nhỏ đến lớn. Ông nội bị xếp vào vị trí cuối cùng, sau bà nội. Đọc tiếp…
Tôi gặp anh trong buổi tiệc họp mặt mừng xuân của Hội Biệt Động Quân Nam Cali. Khi nghe giới thiệu, anh đến tìm tôi. Anh cầm tay hỏi lại tên tôi rồi nức nở với hai hàng nước mắt. Tôi ngạc nhiên, đứng dậy, im lặng xúc động nhìn anh khóc. Anh mặc bộ đồ bay màu đen, cao lớn, bô trai. Hàm râu mép vừa tăng vẻ cương nghị oai phong vừa đượm nét hào hoa lẫn một chút phong trần của những người đã từn
g một thời đi mấy về gió. Tôi vội vã cố lục lọi trong ký ức, nhưng không thể nhớ anh là ai, và đã từng gặp nhau chưa. Có thể là ngày xưa chúng tôi đã cùng tham dự một cuộc hành quân phối họp nào đó. Lúc ấy tôi là lính bộ binh, tham gia nhiều cuộc hành quân trực thăng vận, hoặc được L-19 bao vùng, Hỏa Long soi sáng hay được cận yểm bởi các oanh tạc cơ, mà chúng tôi xem như những chàng dũng sĩ, cứu tinh trong giờ phút lâm nguy. Tôi có dịp quen biết một số phi công, nhiều nhất là ở các Phi Đoàn trực thăng, nhưng không nhận ra chàng pilot vẫn còn đầy phong độ, đang đứng trước mặt mình.
Khi bớt xúc động, anh đưa tay lau nước mắt và tự giới thiệu:
- Xin lỗi anh, gặp anh tôi xúc động quá, vì nghĩ tới anh tôi. Tôi là em của anh Phạm văn Thặng.
Bây giờ tôi mới hiểu ra. Đúng là tôi chưa gặp anh bao giờ. Sở dĩ anh biết tôi, vì mới đây trong một ký sự về chiến trường xưa, tôi có nhắc lại những trận đánh tại Kontum, và trong đó có kể lại cái chết can trường của người phi công anh hùng Phạm văn Thặng, khi anh đang bay một phi vụ yểm trợ cho chính đơn vị của tôi. Đọc tiếp…
Dường như ở cái tuổi ấu thơ, tôi biết buồn hơi sớm. Mẹ qua đời khi tôi vừa mới lên ba, cha tôi lại phải đi dạy học xa, cả tháng chỉ về một lần, nên tôi lớn lên ở nhà ông bà nội. Được cô Út chăm sóc và ông bà nội cưng chiều hết mực, nên tôi không biết mình mồ côi mẹ. Đến năm, sáu tuổi, khi được đi học và chơi chung với bọn trẻ trong họ, nghe chúng nó gọi mẹ, tôi mới nhận ra là mình không có mẹ. Nhưng tôi không nhớ bà, bởi trong ký ức non nớt của tôi hoàn toàn không có bóng dáng và nhất là khuôn mặt của bà. Đọc tiếp…
Nữ Trung Tá Lục Quân Hoa Kỳ Gốc Việt Đầu Tiên - Phạm Phan Lang
P hạm Phan Lang sinh ra và cả một thời tuổi thơ sống cùng gia đình ở Nha Trang, theo học tại trường Nữ Trung Học và Võ Tánh. Nha Trang là thành phố biển thơ mộng, nơi có hai quân trường nổi tiếng: Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân và Hải Quân, với những chàng trai hào hoa theo nghiệp kiếm cung, chọn cuộc đời bay bổng và hải hành. Trái tim của những chàng trai này đã một thời khốn khổ bởi bao nhiêu người đẹp của Nha Trang. Thời ấy, dường như những cặp tình nhân SVSQ Hải Quân và Nữ Sinh Nha Trang đã làm đẹp thêm cho thành phố biển. Trong số đó có đôi uyên ương Phạm văn Diên và Phan Thị Lang. Ngày ấy Lang là một cô bé khá xinh, tính tình hiền thục dễ thương, nên chỉ mới học Đệ lục là đã làm mê mệt chàng SVSQ họ Phạm. Cuộc tình kéo dài mãi đến khi Lang đậu xong tú tài 2 (năm1969) hai người mới làm đám cưới.
Anh Phạm văn Diên tốt nghiệp khóa 14 HQ (Đệ Nhị Kim Ngưu), trước ngày 30/4/75, mang cấp bậc Thiếu Tá và chỉ huy một chiến hạm PGM615(loại nhỏ)
Vào nửa đêm 29.4.75, Thiếu Tá Diên đưa chiến hạm rời khỏi Việt Nam, mang theo vợ, 3 đứa con nhỏ, 1, 3 và 5 tuổi, cùng cha mẹ già trên tuổi 70 và cậu em vợ, đang theo học đại học Luật Khoa Sài Gòn. Ngoài gia đình, trên tàu còn có thủy thủ đoàn và khoảng hơn 150 người tị nạn khác. Chiến hạm của Thiếu Tá Diên vừa tham dự các cuộc hành quân tàn khốc cuối cùng tại Huế, Quảng Trị,Vùng I, chưa kịp sửa chữa, bảo trì, nên lúc ra khơi bị hư hỏng và nước tràn vào, nhưng may mắn đã được cứu bởi một tàu HQ khác mà Thiếu Tá Diên đã liên lạc được. Cũng trên chuyến đi này, gia đình bị mất hết tư trang, vàng bạc mang theo, nên lúc lên bờ chỉ còn hai bàn tay trắng. Đọc tiếp…
(Cảm nghĩ về cuộc họp mặt của Khóa 17 VBQGVN)
Mùa hè Cali có những cơn mưa bất chợt. Riêng buổi chiều nay dù ngoài trời chói chang nắng hạ nhưng trong lòng tôi mơ hồ như đang ngập những cơn mưa. Trước mặt tôi hôm nay là những cánh đại bàng đã phải trải qua một cơn bão lửa. Cái hình ảnh bi tráng ấy thực sự đã gây trong tôi bao điều cảm xúc.
Tôi được một người đàn anh, cũng là cấp chỉ huy của tôi ngày trước, mời đến tham dự Buổi Họp Mặt Khóa Võ Bị Đà Lạt của anh. Buổi họp măt được đặt tên: Bảy Mươi Tuổi Đời - Năm Mươi Tuổi Lính. Chỉ mới nghe qua cái tên thôi, cũng đủ cảm thấy ngậm ngùi. Bởi ở tuổi bảy mươi, liệu các anh còn được gặp lại nhau bao nhiêu lần nữa, để cùng nhắc nhớ một thời trẻ trung, trận mạc. Thời mà hầu hết các anh đã từng là những cánh chim đại bàng xoải cánh trên các trận chiến hào hùng, oanh liệt, nhưng cuối cùng đành phải chấp nhận một kết cuộc tức tưởi, oan khiên.
Cách đây năm mươi năm. Buổi sáng ngày 11.11.1960, hai trăm mười người trai trẻ, xếp bút nghiên chọn đời binh nghiệp, nhập học Khóa 17 VBQGVN. Vì nhu cầu chiến trường, họ đã ra trường sớm hơn dự định. Chỉ sau các niên trưởng Khóa 16 ba tháng. Ngày 30.3.1963, đúng một trăm tám mươi Tân Thiếu Úy tốt nghiệp, hành trang văn võ song toàn, như những cánh chim non rời tổ với đôi cánh sẵn sàng thử thách trước phong ba, theo những mũi tên từ chiếc cung của vị thủ khoa Vĩnh Nhi, bay đi khắp bốn phương trời lửa đạn.
Đọc tiếp…

Audio Book: Rừng Khóc Giữa mùa Xuân:
Play Now |
Play in Popup
Hơn hai mươi năm nay, từ ngày đến định cư ở Na-Uy, một nước Bắc Âu nổi tiếng với những mùa đông dài băng giá, nhưng lại rất đẹp vào những ngày hè và lãng mạn vào thu, tôi vẫn giữ thói quen đi len lỏi trong rừng, không chỉ vào những ngày nghỉ cuối tuần mà bất cứ lúc nào thấy lòng mình trăn trở. Không phải tò mò vì những cuộc tình cháy bỏng trong”Rừng Na-Uy”, cuốn tiểu thuyết nổi tiếng mới đây của một ông nhà văn Nhật Bản, nhưng để được lắng nghe những tiếng khóc. Tiếng khóc của cây lá, của gỗ đá trong rừng. Tiếng khóc có mãnh lực quyến dụ tôi, thúc bách tôi, cho dù nó đã làm cho tôi đau đớn, khốn khổ cả một đời.
Tôi sinh ra ở Huế, nhưng lớn lên ở thành phố Nha Trang, sau khi cùng cả nhà theo cha tôi vào đây nhận nhiệm sở mới. Có lẽ ngày ấy tôi là một cô gái khá xinh. Ngay từ năm tôi học lớp đệ lục trường Nữ Trung Học, cũng đã có vài chàng học trò khờ khạo si tình, đạp xe theo tôi sau những buổi tan trường. Lên năm đệ tam, cũng có vài chàng SVSQ Hải Quân, Không Quân chờ trước cổng trường tán tỉnh. Nhưng như là số trời, trái tim tôi chỉ rung động trước một người. Anh là bạn chí thân với ông anh cả của tôi, hai người học cùng lớp từ thời còn ở trường Võ Tánh. Tháng tư năm 68, chúng tôi làm đám cưới, kết thúc một cuộc tình đầu thật dễ thương, không có nhiều lãng mạn, cũng chẳng có điều gì trắc trở. Ông xã tôi là lính biệt động quân. Hậu cứ đóng ở Pleiku. Ngày về làm đám cưới, đôi giày saut của anh còn bám đầy đất đỏ hành quân. Đám cưới chúng tôi được tổ chức tại một nhà hàng nằm gần bờ biển, không xa tòa tỉnh, nơi vừa mới trải qua khói lửa Mậu Thân.
Sau đám cưới, cha mẹ chồng cho tôi theo anh lên Pleiku một tháng, rồi phải trở về sống ở nhà chồng, bởi anh đi hành quân liên miên, không an toàn khi tôi phải sống một mình. Chỉ những khi nào tiểu đoàn về hậu cứ dưỡng quân, anh đánh điện tín để tôi lên với anh.
Đọc tiếp…
Thứ bảy tuần rồi, ông Trương nhận được hai món quà, do ông bà sui vừa về thăm quê bên Việt Nam mang sang tặng. Hai món quà thực ra không đáng bao nhiêu tiền, nhiều lắm cũng chỉ bằng giá một tô phở bán ở Little Saigon, nhưng với ông nó lại là vô giá, đã làm ông xúc động, nghẹn ngào đến nỗi không thốt lên được hai tiếng cám ơn. Cả tuần nay, nhiều đêm ông trằn trọc mất ngủ, ban ngày ngồi thẫn thờ, hoặc chắp tay sau lưng lẩn thẩn một mình trong khuôn vườn nhỏ sau nhà, suy nghĩ mông lung.
Năm vừa rồi, con cháu đã tổ chức mừng Lễ Thượng Thọ cho ông, mặc dù ông thường cản ngăn điều ấy. Nhưng con cháu làm vậy là phải, vì gia đình ông trải qua bao đời sống trong gia phong lễ giáo, hơn nữa suốt một đời vào sinh ra tử mà ông sống được tới hôm nay cũng là lạ lắm. Con cháu không chỉ mừng ông mà còn phải cảm tạ Đất Trời.
Sinh ra ở vùng quê, một cái huyện nghèo, mà thơ mộng. Biển xanh nằm sát bên dãy trường sơn hùng vĩ, cực bắc tỉnh Khánh Hòa. Cuộc đời ông có nhiều may mắn bất ngờ. Vì sinh kế, cha mẹ ông phải vào Nam lập nghiệp. Ông được một người trí thức có lòng nhận làm dưỡng tử. Người này gốc Quảng Bình, tốt nghiệp kỹ sư công chánh từ École Centrale bên Pháp, vừa mới hồi hương và đang làm cho hãng thầu Descours &Cabaud đặc trách hai công trường xây cầu NeakLuong và Norodom, cách thủ đô Nam Vang 6 - 10 cây số. Là “dưỡng tử” nhưng ông thường được xưng hô là “thầy trò″. Ông kỹ sư chưa lập gia đình. Để thuận tiện công việc làm, ông thuê một ngôi nhà đơn lập, nằm cạnh nhà của người bạn là một nhà giáo, và gởi gấm cậu dưỡng tử theo học. Thời đó Nam Vang không có một trường nào dành cho văn hóa Việt Nam, mà chỉ có trường Pháp và Miên. Ông kỹ sư sống ở Pháp hơn bốn mươi năm, thấm nhuần văn hóa Pháp, vì vậy “cậu bé” Trương tất nhiên chịu ảnh hưởng của người dưỡng phụ, nên học hành rất nhanh và sớm thi đỗ Diplôme.
Đọc tiếp…

Audio Book: Rừng Khóc Giữa mùa Xuân:
Play Now |
Play in Popup
Bấm vào PLAY NOW để nghe đọc truyện Rừng Khóc Giữa mùa Xuân. Do Thu Sương (Pháp Quốc) đọc và hát.
… những chuyến đò năm ấy đã sang sông
và khách bộ hành đã đi về những vùng đất khác
nhưng suốt đời con sẽ không làm sao quên được
có một thời Cô-Thầy đã nuôi lớn ước mơ con…
(ntb)
Đời một con người đã có biết bao lần cặp bến từ những con đò. Không phải những con đò đưa ta qua những dòng sông mà qua những dòng đời. Mà dòng đời thì thường chia trăm vạn nẻo và lại nghiệt ngã, không êm ả như những dòng sông, nên khi vừa mới xuống bến này ta lại vội vàng đi tìm bến khác, để rồi chẳng có mấy ai còn nghĩ tới con đò, người lái. Đến lúc tuổi xế chiều, khi cuộc đời chỉ còn đợi chờ một lần sang bến cuối, thì ta mới ân hận, tiếc nuối bao nhiêu điều, và nhận ra chính mình cũng từng là một kẻ vong ơn.
Và buồn thay, trong số những kẻ vong ơn đó lại có tôi, người vừa mới ngộ ra được cái điều đáng ân hận ấy.
Gia đình tôi định cư ở Bắc Âu, nhưng có ba cô con gái sang học bên Mỹ, rồi có việc làm nên ở lại Mỹ từ hơn mười lăm năm nay. Vợ chồng tôi cũng đã sang Mỹ nhiều lần thăm bạn, thăm con. Các cháu đều sống ở Cali. Vậy mà mãi đến mùa hè năm rồi tôi mới tìm đến thăm vợ chồng một vị Thầy cũ. Cả hai ông bà đều đã dạy tôi những năm đầu trung học và cũng là những ân nhân đã từng giúp đỡ, cưu mang tôi qua một đoạn đời khốn khó. Gia đình Thầy Cô ở thành phố Covina, gần nơi các con tôi đang ở.

Hôm đến thăm, tôi có hẹn với vợ chồng cô bạn trẻ Cao Liên Hương, đến từ thành phố nhỏ Calgary, tận bên Canada. Cô bạn này cũng là học trò cưng của Thầy Cô lúc trước, học sau tôi vài ba lớp, nhưng sống phải đạo hơn tôi nhiều, vì cô đã đến thăm Thầy Cô một vài lần trước đó. Còn riêng tôi thì đã đến quá muộn màng. Cô giáo nhân từ của chúng tôi không còn nữa. Cô đã qua đời từ hơn năm năm trước. Bây giờ chỉ còn lại mỗi một mình Thầy, tóc trắng phơ, hai bàn tay run rẩy, ngồi trên chiếc xe lăn, nhờ vợ chồng cô con gái đẩy ra phòng khách đón hai đứa học trò xưa, mà chắc chắn Thầy không còn nhớ là ai. Nhưng nghe nói có học trò đến thăm, Thầy vui mừng lắm, luôn nhìn chúng tôi với ánh mắt yêu thương trìu mến và nụ cười đôn hậu, ngồi nghe chúng tôi kể lại những kỷ niệm dưới mái trường xưa, và ca ngợi dáng dấp “tài tử Gary Cooper” của Thầy thời còn trai trẻ. Thầy còn ký tặng chúng tôi cuốn sách của Thầy “Pour écrire correctement Le Francais”. Cuốn sách gối đầu giường của đám học trò chúng tôi thời ấy. Nét bút có yếu đi, run run một chút, nhưng vẫn phảng phất cái dáng vừa nghiêm nghị vừa quý phái của Thầy ngày trước. Đưa tay cầm cuốn sách Thầy cho, tôi thấy lòng lâng lâng, xúc động, vui buồn lẫn lộn, nên nụ cười chưa kịp nở trọn thì nước mắt đã ràn rụa tự lúc nào. Vơ chồng cô con gái hiếu thảo của Thầy sợ Thầy mệt, nên xin phép chúng tôi đưa Thầy vào phòng để Thầy nằm nghỉ. Chúng tôi cùng ra thăm mộ Cô. Cô nằm cô đơn lặng lẽ trong một nghĩa trang rộng lớn yên tĩnh trên ngọn đồi Covina Hills, nhìn xa xa xuống ngôi nhà cũ. Tôi quỳ trước mộ Cô, nước mắt đầm đìa, khi thấy trên thảm cỏ xanh bằng phẳng chỉ có tấm mộ bia lạnh lùng khắc sâu tên Tung Linh Tran Nguyen.

Dù đã hơn 50 năm, qua bao nhiêu thăng trầm, biến đổi, tôi không bao giờ quên cái tên thật đẹp của Cô: Trần Thị Tùng Linh. Có lẽ sau khi sang Mỹ, cô lấy họ của Thầy, “Nhập gia tùy tục” mà cũng cho trọn vẹn thủy chung với một cuộc tình tuyệt đẹp mà Cô Thầy đã mang theo từ lúc mới quen nhau ở tận Hà Thành. Khi Thầy từ Huế còn Cô từ Vinh ra học.
Đọc tiếp…
Chúng tôi đến Úc Châu và ở lại đó chỉ có ba tuần. Ba tuần với bộn bề bao nhiêu công việc và di chuyển khắp đó đây. Từ Sydney đến Melbourne rồi Adelaide và Brisbane. Vậy mà ngày trở lại Bắc Âu, lòng nặng trĩu bao nhiêu hình ảnh thơ mộng và đầy ắp ân tình của bè bạn đồng môn, đồng hương.
Sau chuyến bay khá dài, mệt đừ người, chúng tôi đến phi trường Sydney lúc 9 giờ tối. Mặc dù được thông báo trước là có các bạn Nguyễn văn Thuần, Đặng Trung Chính và Trần văn Phước ra đón, tôi vẫn lo, vì không biết ba ông bạn đồng môn chưa bao giờ gặp mặt này có nhận ra mình không. Mấy tấm ảnh gởi sang trước để làm poster và slide show cho các Buổi Ra Mắt Sách, chụp lúc tôi còn trẻ và có chút oai phong trong bộ quân phục, chứ còn dung nhan của tôi bây giờ thì chắc chẳng khác nào.. trời đã sang đông. Nhưng khi vừa mới bước ra phòng đợi, nghe tiếng gọi tên mình, rồi tiếng chào, cười đùa của các bạn, lòng tôi hân hoan vô hạn. Thì ra trong số người đi đón còn có cả vợ chồng anh chị bạn thân của tôi ở Nauy lúc trước. Hai con chim thiên di này bay sang Úc trốn lạnh từ hơn 15 năm trước, rồi không bao giờ trở lại. Vợ chồng anh chị bạn này là người Biên Hòa, tuy cả hai cũng là giáo sư lúc trước nhưng không dính dáng gì tới Võ Tánh, Nữ Trung Học Nha Trang. Thì ra họ cũng đã quen nhau, và muốn dành cho chúng tôi một bất ngờ. Cái tình đồng hương của người Việt ở Úc Châu nó đậm đà như vậy đó.
Trời Úc Châu đang cuối xuân vào hạ. Lòng tôi cũng bâng khuâng cái cảm giác giao mùa.Trên con đường từ phi trường về nhà cặp vợ chồng người bạn đồng môn Huy&Hạnh, tôi đã được đi qua những con đường xinh xắn, đèn đường sáng rực, đủ để tôi nhìn thấy những cây phượng tím, phượng hồng đang rộ mùa hoa, nhắc nhớ một thời tuổi thơ cùng những mối tình học trò hoa mộng. Sydney có nhiều con đường đẹp, mà nhà văn Phan Lạc Phúc ở Úc gọi là những con đường tình. Và con đường tình nhất ở Sydney có lẽ là con đường dọc theo bờ sông George tới Bankstown đi từ hướng Cabramatta lên. Một bên là cây cao bóng mát, một bên là dòng sông xanh lượn lờ giữa hai bờ cây lá… Không biết có những đôi tình nhân VT&NTH nào thường nắm tay nhau đi trên con đường tình này, để nhớ lại cái thời mới quen, dìu nhau đi trên con đường Duy Tân, Bá Đa Lộc thơ mộng ngày nào.
Vợ chồng tôi và cô con gái đến sau từ Mỹ, được vợ chồng bạn Nguyễn thắng Huy(VT69)&Đặng Mậu Thị Hạnh(NTH70), cũng là đôi tinh nhân học trò hơn 40 năm trước, sau này cả hai đều là giáo sư trung học, và bây giờ chuẩn bị làm ông bà ngoại, nhận về cho tá túc. Chúng tôi được gia chủ hiếu khách dành nguyên tầng trên của ngôi nhà vừa lớn, vừa đẹp, nằm trong một khu yên tĩnh, mà chúng tôi cứ gọi đùa đây là tư dinh của ông bà đại sứ.
Đọc tiếp…
Tôi phải ngồi lại trên các bậc đá nghỉ chân đến ba lần trước khi bước vào cổng chùa. Ngôi chùa nhỏ nằm trên một triền núi, được phủ mát bởi những tàng cây. Ngôi nhà khách bằng gỗ, khá xinh xắn, nằm trong một khu vườn toàn hoa vạn thọ. Phía trước là một tượng Phật ngồi dươi gốc cây bồ đề, cành lá được cắt tỉa công phu. Chung quanh là cả một vùng núi trời tĩnh mịch.Tôi không phải là phật tử, nhưng ngồi nghe tiếng mõ và lời cầu kinh trong chùa vọng ra, cũng thấy lòng nhẹ hẳn đi trước bao nhiêu điều phiền não.
Hôm nay là mồng một tết, nhưng cảnh chùa khá im ắng, bởi chùa nằm khá xa khu dân chúng. Ngày hôm qua tôi có đến đây, nhưng thầy trụ trì đi vắng. Tôi đã để lại tấm danh thiếp của chồng tôi, viết vài dòng phía sau xin hẹn thầy hôm nay trở lại.
Chú tiểu còn rất trẻ, mang trà ra mời và xin tôi chờ thêm mươi phút nữa, vì thầy trụ trì đang khai kinh cho buổi lễ tân niên. Tôi nôn nao muốn sớm được nhìn mặt vị ân nhân của mình, nhưng cũng dặn lòng phải kiên nhẫn và cẩn trọng ý tứ trước một nhà sư.
Đọc tiếp…
Tôi vô cùng ngạc nhiên khi nhận đuợc thư Bình, thằng bạn thân tình từ thời nối khố. Nó là đứa cuối cùng trong đám bọn tôi rời xa đất nước, vừa mới được sang định cư bên Mỹ theo diện HO 31. Lá thư chỉ vỏn vẹn mấy dòng:
” Tao đã đến Mỹ vừa đúng hai tuần. Ở đây ồn ào và ngột ngạt quá, tao muốn tìm một chỗ bình yên. Mày có cách nào giúp tao sang Bắc Âu với mày. Bởi tao nghe mày kể bên ấy dù có buồn và mùa đông khá lạnh, nhưng cuộc sống yên bình, thích hợp cho những người cần một nơi để chửa trị những vết thương khó lành được trong lòng.
Tao đang có nhiều vết thương, và cũng đang có nhiều điều rối ren không giải quyết được. Rồi có dịp tao sẽ tâm tình với mày sau. Bây giờ, bằng mọi cách mày giúp tao sang đó với mày. Càng sớm càng tốt..”
Hơn một tháng trước, Định đã báo cho tôi biết việc Bình sẽ sang Mỹ. Nó đã phụ giúp vợ Bình sẵn sàng tất cả mọi thứ để đón Bình. Định còn bảo khi nào Bình đến Mỹ rồi, nó sẽ báo để tôi sang thăm. Ba thằng gặp lại, tha hồ mà kể chuyện xưa. Vậy sao bây giờ vừa mới đoàn tụ vợ con, Bình lại muốn sang Bắc Âu với tôi, một nơi xa tít mịt mùng ?
Đọc tiếp…
Tôi đến Đà Lạt đúng vào một ngày mưa. Mưa tầm tã. Ngồi trong nhà Thủy Tạ, nhìn những hạt mưa bay giăng kín rừng thông, phủ mờ khu phố Hoà Bình , và rơi lả tả xuống mặt hồ Xuân Hương, tôi mơ hồ như những giọt nước mắt của người góa phụ đã từng một thời nhan sắc.
Người con gái vừa đến gặp tôi làm cho tôi mỉm cười với sự so sánh lạ lùng này. Bởi cô ta cũng xinh đẹp, và dù có nở nụ cười tỏ ra mừng rỡ khi chào tôi, vẫn không giấu được nét buồn trong đôi mắt. Một nỗi buồn có cái gì xót xa sâu lắng lắm.
Tôi đã đến thành phố này nhiều lần. Lần cuối cùng vào mùa Giáng Sinh năm 1970, khi đơn vị tôi may mắn được lệnh về đây phối họp hành quân giữ an ninh cho một khóa Võ Bị làm lễ ra trường. Bao nhiêu năm trong rừng núi tây nguyên gió lạnh mưa mùa, rồi xuống bờ biển Phan Thiết với những động cát trơ trọi nóng như lửa đốt, bất ngờ được về Đà lạt, cho dù chỉ sau một ngày ở thành phố, đơn vị tôi lại được đổ xuống những rừng thông xa tít, nhưng đám lính tráng bọn tôi vẫn có cái cảm giác như được đi nghỉ mát. Người ta nói đúng, Đà Lạt dễ thương như những cô gái với gò má trắng hồng và đôi môi mộng đỏ để ai một lần lên xứ Hoa Đào mà lòng không vấn vương. Đà lạt cũng là nơi có nhiều huyền thoại về những mối tình đẹp và buồn của các cô sinh viên với những chàng trai mang alpha đỏ theo nghiệp kiếm cung, mà tôi đã đọc được trong những bài thơ thật buồn của Lệ Khánh từng vang tiếng một thời..
Đọc tiếp…
Bấm vào PLAY NOW để nghe đọc truyện Tiểu Thơ. Do Thu Sương (Pháp Quốc) đọc và hát.
←Đọc bài cũ