trang bạn hữu – Thơ Trần Văn Lương

TRÌ ĐỂ NGUYỆT

Dạo:
      Chỉ cần gió lặng, sóng yên,
Thì trăng kia vẫn nằm nguyên đáy hồ. 

           

寒 風 深 夜 忽 狂 飛,
明 月 黃 光 散 滿 池.
失 道 最 終 由 幻 辯,
亡 羊 畢 竟 為 多 歧,
趙 州 柏 樹 人 難 會,
靈 鷲 心 花 祖 獨 知.
不 久 風 停 池 照 舊,
月 輪 水 底 又 圓 煕.

                陳 文 良

Âm Hán Việt:

        Trì Để Nguyệt

Hàn phong thâm dạ hốt cuồng phi
Minh nguyệt hoàng quang tản mãn trì.
Thất đạo tối chung do ảo biện,
Vong dương tất cánh vị đa kỳ.
Triệu Châu bách thụ, nhân nan hội,
Linh Thứu tâm hoa, Tổ độc tri.
Bất cửu phong đình, trì chiếu cựu,
Nguyệt luân thủy để hựu viên hi.

           Trần Văn Lương

Dịch nghĩa:

               Trăng Đáy Ao

Đêm sâu, con gió lạnh bỗng bay như điên cuồng,
Ánh sáng vàng của vành trăng sáng tản ra khắp (mặt) ao .
Chung cuộc mất đạo vì (lo) biện luận huyền ảo, (1)
Mất dê cuối cùng vì đường nhiều ngã rẽ. (2) 
Cây bách của Triệu Châu, người khó ngộ được, (3)
Đóa hoa Tâm (trên núi) Linh Thứu, chỉ có Tổ (Ca Diếp) một mình biết. (4)
Chẳng bao lâu gió ngừng, (mặt) ao (trở lại yên) như cũ,
Vầng trăng dưới nước lại tròn và sáng.

Chú thích:

(1) Bich Nham Lục , tắc 4:  Đức Sơn Hiệp Phức

      (bản dịch của Thiền sư Thích Mãn Giác)

Đêm ấy (Đức Sơn) vào phòng của Long Đàm đứng hầu mãi đến khuya. Long Đàm nói, “Tại sao Thầy chưa lui đi?” Đức Sơn chào rồi vạch màn bước ra, thầy bên ngoài trời tối bèn quay vào nói, “ Bên ngoài tối quá”. Long Đàm bèn thắp đèn giấy rồi đưa cho Đức Sơn, Đức Sơn vừa tiếp lấy, Long Đàm thổi tắt đèn. Đức Sơn hoát nhiên đại ngộ.Lập tức cúi lạy. Long Đàm nói, “Ông thấy được gì mà ông cúi lạy vậy?” Đức Sơn nói, “Từ rày trở đi kẻ hèn này không còn giám nghi ngờ những gì các lão hòa thượng trong thiên hạ nói nữa.”

Hôm sau Long Đàm thượng đường nói, “Trong các ông có một gã răng như rừng kiếm, miệng như bát máu, dù có lấy gậy đập đi nữa cũng không quay đầu. Ngày sau gã sẽ lên đỉnh cao mà lập đạo ta ở đó.” Đức Sơn bèn đem sớ sao ra trước Pháp đường, dơ cao ngọn đuốc lên nói, “Nghiên cứu các biện luận huyền ảo, thật ra cũng chẳng khác gì đặt một sợi lông vào hư không; xét tận các quan kiện cốt yếu, lại chỉ giống như nhỏ một giọt nước vào thung lũng lớn.” Rồi đốt hết đi.

(2)  Đa kỳ vong dương (mất dê vì nhiều nẻo), theo sách Liệt tử, thiên Thuyết Phù:

Người hàng xóm của Dương Tử (Dương Chu) mất một con dê. Ông ta dẫn một nhóm đi tìm và cũng nhờ người nhà của Dương Chu đi theo. Dương Chu nói: “Ôi! Mất một con dê sao lại đi nhiều người vậy?” Người hàng xóm đáp: “Đường nhiều ngã rẽ quá.” Khi trở về, Dương Chu hỏi: “Đã tìm thấy dê chưa?” Hàng xóm đáp: “Lạc mất rồi.” Lại hỏi: “Sao lạc mất?” Người hàng xóm đáp: “Vì có quá nhiều nẻo, tôi không biết đi ngã nào nên quay về.”

(3) Vô Môn Quan, tắc 37: Đình Tiền Bách Thụ

            (bản dịch của Trần Tuấn Mẫn)

 Công án:

     Một ông Tăng hỏi Ngài Triệu Châu:
     – Ý Tổ sư sang Đông là gì?
     Sư đáp:
     – Cây bách ở trước sân.

(4) Vô Môn Quan, tắc 6: Thế Tôn Niêm Hoa

            (bản dịch của Trần Tuấn Mẫn)

Công án:
     Thế Tôn xưa tại pháp hội núi Linh Sơn cầm cành hoa giơ lên trước chúng. Bấy giờ mọi người đều làm thinh, chỉ có ngài Ca-diếp rạng mặt mỉm cười. Phật dạy:
      – Ta có nhãn tạng chính pháp, diệu tâm Niết-bàn, tướng thực không tướng, pháp môn vi diệu, chẳng lập thành văn tự, truyền riêng ngoài giáo, nay trao ông Ma-ha Ca-diếp.

Phỏng dịch thơ:

        Trăng Đáy Ao

Đêm sâu gió lạnh thoắt ào ào,
Rắc vụn trăng vàng khắp mặt ao.
Xa đạo vì lao nhao biện luận,
Mất dê bởi luẩn quẩn bôn đào.
Pháp môn Linh Thứu nào ai thấy,
Thiền thất Triệu Châu mấy kẻ vào,
Sóng gió lao xao dần tĩnh lặng,
Trăng chìm vẫn chẳng khác trên cao.

            Trần Văn Lương

               Cali, 6/2026

Lời than của Phi Dã Thiền Sư :    

     Phật tính con người ai cũng có. Than ôi, chỉ vì vọng tưởng và lăng xăng
kiếm tìm kiến giải cùng những biện luận huyền ảo nên nó đã bị che lấp.
Nhưng một khi được thiện tri thức khai ngộ, không nghĩ thiện không nghĩ ác (*),
thì bỗng nhiên cái “bản lai diện mục” của mình sẽ hiện ra, chẳng khác gì lúc gió
lặng sóng yên thì sẽ thấy mặt trăng vẫn còn nằm nguyên trong đáy nước như trước.
     Lão tăng nói gì vậy?  
     Ối dào, lại mở mắt chiêm bao.
     Hỡi ơi!

Ghi chú:

(*) Pháp Bảo Đàn Kinh, bản dịch của Hòa thượng Thích Duy Lực:

“…

Khi ấy đại chúng mới biết, nên có mấy trăm người đuổi theo để đoạt y bát, trong đó
có một Tăng tên tục là Trần Huệ Minh ngày trước làm Tứ Phẩm tướng quân, tánh tình
thô bạo, dẫn đầu đi trước, đuổi kịp Huệ Năng. Huệ Năng bỏ y bát trên tảng đá nói rằng
Y bát là vật làm tin, há dùng sức mà đoạt được sao? Liền ẩn mình trong đám cỏ. Huệ
Minh đến, muốn lấy y bát mà chẳng nhúc nhích được, liền kêu: Hành giả! Hành giả! Tôi
vì Pháp đến, chẳng vì Y đến. Huệ Năng liền ra ngồi trên tảng đá, Huệ Minh đảnh lễ nói
rằng: Mong hành giả vì tôi thuyết Pháp. Huệ Năng nói:Ông đã vì Pháp mà đến đây, thì
nên ngưng nghỉ các duyên, chớ sanh một niệm, ta sẽ vì ông mà thuyết.
Một hồi sau Huệ Năng nói: Chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác, đang khi ấy cái nào là
bổn lai diện mục của Thượng Tọa Minh? Huệ Minh ngay đó đại ngộ,

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *