Ngày 20/7/1954: Hội Nghị Genève kết thúc với quy định dân hai miền Bắc Nam được tự do di chuyển vào ra Nam-Bắc trong vòng 300 ngày,từ 15/8/1954 đến 19/5/1955.
Hôm nay là ngày 20/7/2026, tôi ngồi xem youtube (u2b) quay lại trận chung kết World Cup 2026 giữa đội Tây Bán Nhà và Á Căn Đình mà lòng buồn rười rượi, vì đội của thằng cháu Lê Messi bị thua 1-0, trước đó đội Bồ của thằng cháu CR7 tức Ronal-Tô cũng bị Tây Bán Nhà hạ 2-0! Đúng là “phúc bất trùng lai, hoạ vô đơn chí”, điều buồn thường đi đôi!
Lòng buồn còn muốn nói năng chi! Đúng lúc đó u2b lại chiếu cảnh “Bắc Kỳ Di Cư 1954”, khiến người già tuổi 85 nhớ lại những kỷ niệm buồn của thằng nhỏ chăn trâu tuổi 13 khi bước vào lòng tàu “há mồm” 72 năm về trước tại bến Lò Gạch, ngoại ô thành phố Hải Phòng. Tàu há mồm bơi ra vịnh Hạ Long rồi thằng bé leo lên tàu Marine Serpent của Pháp, sau gần 5 ngày vượt biển di chuyển Bắc Nam, Marine Serpent cập bến Bạch Đằng, Sai Gòn dân Di Cư 54 được đưa vế các trại tạm trú.
Hành trang của đồng bào di cư 1954: quần đùi chân đất, nón lá quạt mo
Gia đình tôi được chú Tô Văn Tu (em ruột bố) và cậu Nguyễn Phú Tải (em ruột mẹ) đón về nơi họ đang dịnh cư tại làng Bến Xúc, quận Bến Cát, tỉnh Thủ Dầu Một (Bình Dương), đó là ngày 10/12/1954.
Vì sao mẹ con chúng tôi đang sống yên bình tại làng quê Cựu Viên, tổng Văn Đẩu, Huyện An Lão, tỉnh Kiến An lại phải bỏ quê cha đất tổ mà đến một nơi xa lạ?
Khoảng đầu năm 1954, sau khi vừa ăn một cái Tết “chí cha chí chát khua giày dép, đen thủi đen thui cũng lượt là” thì làng tôi nhận được lệnh phải bỏ nhà cửa, ruộng vườn ra đi chỗ khác để làm nơi tạm trú cho quân Pháp từ mặt trận Điện Biên Phủ kéo về vùng Hải Phòng…chờ xuống tàu về Tây.
Nghe lệnh trên ban ra, ai ai cũng run như “cầy xấy”, dân quê thời 1950 nào biết thưa kiện đến ai nên đành lau nước mắt mà “tha phương cầu thực”.
Làng Cựu Viên** tôi cách Hải Phòng chừng 5 cây số, lưng dựa vào núi Kha Lâm, trước mặt là dòng sông Chảy, các thày địa lý phán làng tôi thuộc dạng phong thuỷ đắc địa nên bị ngoại bang dòm ngó.
Không biết từ hồi nào, dân Ba Tàu sinh sống tại Hải Phòng lại bò sang làng tôi chiếm sườn núi làm nghĩa trang, mang xác họ táng hàm rồng, rồi tới ông Tây về đây tạm trú chờ “coming home”.
(**Nay 2026, tìm trên google map, làng tôi đã không còn nữa, cái tên Cựu Viên chỉ còn là tên một con đường thuộc thành phố Hải Phòng)
Thực ra Tây không chiếm cả làng, mà chỉ chiếm xóm giữa, nơi có Nhà Thờ mà thôi. Làng tôi chia làm ba xóm, Xóm Chùa, Xóm Đượng (vùng đất cao sườn núi) và Xóm Nhà Thờ. Nhà Thờ do Linh Mục Nguyễn Văn Thọ (ngài có cái đầu hói) trông coi, dân số chừng hơn 20 gia đình, toàn là Công Giáo và là họ hàng nội ngoại của gia đình tôi.
Xóm Nhà Thờ nằm ở vị trí an ninh, xe ô-tô có thể chạy thẳng từ Hải Phòng đến sân nhà thờ, đó là địa điểm thuận lợi nên Tây chiếm để đóng quân.
Trước khi Tây đến, họ sai những “thầy thông thày phán” đển kiểm kê tài sản để đền bù cho dân. Tài sản quê nghèo thập niên 1950 thì nhà tranh vách đất, vài cái chõng tre, chiếu rách nên các thày thông-phán vẽ cho dân kê khai từng cây khế, cây ổi, cây cau, cây cam, cây cậy, cây bưởi cây bòng gọi là những cây ăn trái “đắt tiền”, kê khai luôn những cây tre, gọi là vật liệu xây dựng nhà cửa để được bồi thường giá cao. Nhưng dân nghèo ăn một “bà cốt thông phán ăn hai” thiệt hại dân vô tội chịu!
Riêng gia đình tôi thì bị thua thiệt nhiều hơn:
Anh Cả tôi làm cảnh sát (bu-lít) ở Hải Phòng từ năm 1949, chị dâu tôi buôn bán gạo tại chợ Sắt Hải Phòng, anh chị đã dành dụm được số tiền kha khá để làm nhà cho mẹ và bốn đứa em, một căn nhà “ba gian hai chái” thuộc dạng khang trang nhất nhì trong làng, anh chị đã mua sẵn vật liệu để lát sân gạch, đầu tư nơi ăn chốn ở lâu dài cho mẹ và các em.
Theo lời kể lại của chị dâu tôi, số tiền làm nhà tốn hết 6 vạn (60 ngàn), trong khi vàng lúc đó chỉ có 2 ngàn 1 lạng. Nhà làm vừa xong, chưa kịp mừng tân gia thì bị Tây đuổi, tán gia bại sản! “mất nhà là mất tất cả”!
Mốt số dân công giáo xóm Nhà Thờ được cha Thọ dìu dắt đi tạm trú nơi nào tôi không rõ rồi sau đó theo cha di cư vào Nam, lập nghiệp tại Hố Nai Biên Hoà. Gia đình tôi thì được anh chị Cả đón sang tạm trú tại Hải Phòng để chờ ngày di cư.
Đang sống yên lành trên quê hương làng mạc, với họ hàng, bà con hàng xóm láng giềng thì có ai nghĩ tới có ngày phải bỏ nhà, cửa, ruộng vườn, mồ mả tổ tiên mà ra đi, nhưng bị ngoại bang chiếm “giang san” nên buộc phải đi, mà nào biết đi đâu, nên nhân dịp có phòng trào di cư, thấy người đi chúng tôi cũng đi theo!
Đó là lý do gia đình mẹ con tôi di cư vào Nam ngày 10/12/1954, riêng anh Cả tôi là cảnh sát, vì nhiệm vụ nên phải ở lại và chỉ vượt thoát được vào giờ chót 5/1955.
Đây là một sự vô cùng may mắn, anh tôi đã thoát địa ngục vào giây phút chót để đoàn tụ cùng Mẹ, cùng vợ con, các em tại miền Nam. Biết bao trường hợp vì công vụ mà “quân cán chính” bị kẹt lại trong khi gia đã đi tản, rồi mất liên lạc vĩnh viễn phân ly từ đấy! Thảm cảnh này lại tái điễn thêm một lần nữa vào những ngày Tháng 4 năm 1975-ngày mất nước!
Trong thời gian tạm trú tại Hải Phòng để chờ ngày di cư, anh em tôi không phải đến trường nên nhập bè , lập đảng cùng đám trẻ cùng xóm, lang thang vui chơi khắp thành phố Hải Phòng
-Mỗi buổi chiều khoảng 5 giờ là chúng tôi tụ tập tại cồng xe lửa trên đường An Dương để đón xem đoàn tàu hoả chở dân đi cư tứ phương dồn về thành phố cảng. Tàu hoả là phương tiện vận chuyển được nhiều người nhất từ những vùng xa xôi, từ Hà Nội, Hải Dương dồn về thành phố cảng để tàu thuỷ chở vào Nam, để chạy trốn “ôn dịch”. Toa nào cũng chật cứng, họ bám xung quanh tàu, chồng chất trên nóc toa như những đàn kiến, bất kể hiểm nguy để tìm đường sống trong cái chết. Đám nhỏ chúng tôi đứng dưới đường vô tư cười nói vẫy tay chào nhau!
Thảm cảnh này, 20 năm sau, vào những ngày cuối tháng Ba, tháng Tư năm 1975 lại tái diễn: Tôi đã chứng kiến hằng ngàn ngàn người từ Quảng Trị, Huế xuôi Nam, người người chạy loạn từ Quảng Tín, Quảng Nam ngược lên phía Bắc, tất cả đồn về thành phố cảng Đà Nẵng. Tại Sài Gòn, ngàn vạn người tìm cách chạy ra bến tàu, Vũng Tàu, tất cả chỉ mong tìm được con tàu hẩu chạy trốn được “ôn dịch”.
Bất cứ thời gian không gian nào người dân Việt hiền lành vẫn sợ “tai ương dịch bệnh” nên tìm cách chạy trốn cái chết để tìm đường sống.
Nhìn những người di cư chồng chất lên nhau trên nhưng toa tàu hoả, chúng tôi những đứa trẻ cũng sẽ di cư, chúng tôi vẫy tay chào nhau. Khi đoàn tàu cõng đám đông xa đần, chúng tôi tiếp tục vô tư vui chơi, đi câu cá ở hồ An Dương, đầm sen bên đường Cát Dài, bơi lội theo dòng sông Lấp, chạy sang phố Đông Kinh dùng súng cao su bắn mấy cái đèn xanh đỏ treo trước cửa tiệm của những chú Ba Tàu bán bánh Trung Thu, mấy chú ba la hét: “tỉu là ma, tả mả dê”, đám nhỏ chả hiểu gì nhưng vẫn nhe răng cười, chọc tức mấy tên sống trên dất Việt mà không nói tiếng Việt.
Chiều chiều lại đến vườn hoa Con Cóc xem Tây thổi kèm “mu-gích”, chọc ghẹo mấy bà “me Tây” nên bị Tây “gạch mặt” đuổi chạy té khói, bị chúng nạt nộ: “mẹc-xà-lù”. Dù không hiểu họ nói gì cả nhưng lũ trẻ con chúng tôi cũng cười vui vung tay đáp trả: “Bú dù con khỉ”.
(Tôi dùng những tiếng: “ba tàu, me tây, gạch mặt, mẹc‑xa‑lù, tả mả dê”… không phải để kỳ thị “Tây – Tàu”, mà chỉ thuật lại đúng những lời ăn tiếng nói của người dân bị Tây Tàu kỳ thị trong thập niên 1950.)
Nghịch chán thì cũng có lúc hiền lành dễ thương, chúng tôi đến sân nhà Hát Lớn (nơi dân di cư khắp nơi tập trung để chờ tới phiên xuống tàu), để tiếp tế nước uống, thực phẩm (đi xin được) cho họ, giúp họ viết tên, địa chỉ làng xã lên những vật dụng họ mang theo. Vật dụng của họ chỉ gồm những chiếc giường gỗ, những chiếc chiếu, có người mang theo cả cái thúng, cái mẹt đựng vật dung linh tinh.
Rồi cũng tới ngày gia dình tôi xuống tàu, không mang được cái gì, không có gì để mang, chỉ mang theo nổi buồn nhớ làng, nhớ nhà, nhớ cả hòn đá bờ ao!
“Miếng ngon nhớ lâu, điều đau nhớ đời”. Hơn 70 năm rồi mà người già 85 vẫn nhớ những vui buồn của đứa trẻ 13 trên con tàu há mồm, tàu Marines Serpent.
Ngày xuống tàu há mồm chỉ có mẹ già, chị Cả với hai con nhỏ Quang, Liên và mấy chị em chúng tôi. Anh Cả Tô Văn Tiệp phải ở lại Hải Phòng vì công vụ.
Thằng con trai 13 tuổi, nghịch ngợm chỉ thua có quỷ ma, lần đầu tiên trong đời được chui vào lòng tàu há mồm, thấy cái gì cũng lạ. Tôi chạy từ đầu tàu tới cuối, leo cả lên boong (pont), dang tay hứng gió nhìn con tàu rẽ sóng ra khơi. Tây phát cho mỗi người một trái cây to bằng nắm tay. Hỏi ra mới biết đó là trái táo. Táo gì mà to thế! Cắn một miếng… , ôi chao sao mà ngon ngọt đến thế, không như táo nhà bác Bồng, bác Bế ở xóm Đượng, chỉ to bằng đốt tay, vừa chua vừa chát.
Tôi ngấu nghiến trái táo Tây cho, nhai cả cái hột mà vẫn còn thòm thèm, tôi liếm láp mấy ngón tay, trẻ con nhà quê mà!
Tàu há mồm chạy khoảng bốn giờ thì chậm lại. Tôi thấy con tàu lớn trước mặt to dần, to dần. Khi nhìn rõ hàng chữ Marine Serpent trên thân tàu thì bất ngờ tôi thấy nhức đầu, chóng mặt rồi buồn nôn. Không cưỡng lại được, tôi gục mặt qua thành tàu. Những miếng táo vừa ăn lúc nãy trào ra hết. Lờ mờ tôi còn thấy trong đám “lôi thôi” ấy mấy hột xôi đỗ đen ăn buổi sáng trước khi xuống tàu. Mệt quá, tôi lăn quay ra sàn tàu, không cần biết sạch bẩn, vì chính thân tôi cũng hôi hám quá trời. Có tiếng ai nói:
-Thằng nhỏ bị say sóng.
Các chị bôi dầu cù là vào trán, vào hai lỗ mũi làm tôi dần tỉnh. Người người rời tàu há mồm leo lên tàu lớn, mấy chị ta dìu tôi lên tàu Marine Serpent. Tây hướng dẫn mọi người xuống tầng dưới, xuống hầm tàu, người nào tự động tìm chỗ nằm cho người nấy. Người ta í ới gọi nhau đi lãnh thực phẩm, nào là cam, táo, nho, bánh mì, sữa, đường-những thứ “cao lương mỹ vị” mà cả đời dân quê chưa từng thấy. Những thực phẩm cao cấp ấy có thứ lại không hợp khẩu vị của tôi!
Mấy chị đi lãnh được hộp sữa có hình chim mẹ mớm mồi cho chim con, có chữ Nestlé, khui hộp sữa con chim cho tôi uống, nhưng khi vừa đưa gần miệng, cái mùi tanh tanh lạ lẫm làm tôi muốn nôn oẹ. Cái bụng nhà quê chưa quen đồ Tây, đúng là “đồ nhà quê”!
Nhưng nào phải riêng tôi, hình như sau khi ngấu nghiến thực phẩm lạ, đâu đó trong hầm đã có nhiều tiếng nôn oẹ, không lẽ họ cũng sợ sữa con chim như tôi.
Hầm tàu đông nghẹt, hơi người, hơi thực phẩm nôn ra pha với hơi săng dầu tất cả quyện vào nhau tạo thành một mùi khó tả. Nhiều người thở dốc, thêm nhiều người bắt đầu ói mửa, có lẽ lần đầu được đi tàu thuỷ lại được ăn ngon. Chịu hết nổi, họ tìm cách chui lên boong (pont) tàu. Lúc đầu thì Tây đuổi xuống, nhưng cuối cùng đành bó tay trước cảnh người ta ngộp thở, há mồm tìm oxy. Tôi cố chen lên boong, tìm được một chỗ dưới chân cột cờ ‘Tam Tài”, ngồi thở dốc như cá mắc cạn.
Dân di cư trên boong tàu đông lắm, mấy ông Tây buộc phải sắp xếp cho mọi người có nơi có chỗ. Nghe Tây xí-xố, tuy không hiểu gì, nhưng nhìn cử chỉ, dáng diệu ôn tồn là tôi biết họ tử tế, tôi không còn sợ Tây như khi chạy loạn.
Từ nhỏ gia đình tôi đã phải nhiều lần chạy loạn mỗi khi nghe tin báo Tây “đi càn”. Tin Tây đi càn lan nhanh hơn gió lốc. Chẳng ai biết nó xuất phát từ đâu, nhưng chỉ cần một người hô: “Tây nó sắp về làng” là cả xóm, cả làng nháo nhào như tổ kiến bị chọc, già trẻ lớn bé vội vàng gồng gánh gọi nhau chạy, “bỏ của chạy lấy người”, nhưng cũng ráng ôm theo bị quần áo, túi gạo, con gà, rổ khoai lang, cái gì trong tầm tay là quơ lấy rồi chạy, chân trần đạp đất mà chạy, trốn vào hốc núi, tản cư lánh nạn đến mấy làng lân cận, chờ đợi một đôi ngày, nghe êm tiếng súng, dò la tin tức “Tây đi rồi” thế là “hồi cư” lần mò tìm về tổ ấm. Thật là mừng vui khi thấy không có gì thay đổi, nhưng tức tối, chửi “mất gà” khi cái chum hứng nước mưa dưới gốc cây cau bị đập vỡ, đống rơm đầu hè để trâu ăn bị đốt cháy.
Tây đốt đống rơm để tìm “chuột”.
Dân quê một cổ hai tròng, tôi ghét chuột phá hại mùa màng, tôi ghét Tây đốt làng xóm, tôi ghét “Ma-rốc-canh” “Tây rạch mặt”, nhưng những ông Tây trên tàu Marines Serpent là những người tử tế.
Sau gần 5 ngày lênh đênh biển cả, Marines Serpent cặp bến Bạch Đằng Sài Gòn, dân Di Cư được các tổ chức đón đưa đến nơi định cư mới. Dân Bùi Chu Phát Diệm thì về vùng Gia Kiệm Hố Nai, nhiều người tạm trú trường đua ngựa Phú Thọ, gia đình tôi thì được họ hàng-Chú Tu, Cậu Tải đón về làng Bến Xúc, quận Bến Cát, tỉnh Thủ Dầu Một (Bình Dương sau này).
Từ Bến Bạch Đằng đi xe đò về Bến Xúc, xe dừng đón thêm khách tại chợ Lái Thiêu- quê hương trái cây thơm ngon ngọt đặc sản miền Nam, nhưng trời ơi, tôi say xe lại say sẩm mặt mày vì mùi thum thủm của trái sầu riêng.
Đúng là nhà quê.
Sau một thời gian tạm cư, người người tìm đến nơi có điều kiện sinh sống khá hơn, cậu Nguyển Phú Tải tôi thì tìm về Hố Nai Biên Hoà, chú Tô Văn Tu tôi thì về Ngã Ba Ông Tạ, rồi lại đến khu định cư Cái Sắn (Long Xuyên). Riêng gia đình tôi thì may mắn hơn, di chuyển về Sai Gòn.
Anh Cả Tô Văn Tiệp tôi thoát khỏi Hải Phỏng vào giờ phút chót, Anh là cảnh sát nên được tiếp tục phục vụ tại Ty Cảnh Sát Thương Khẩu, Quân Tư. Gia đình tôi gồm mẹ già, chị Cả với 2 con Quang-Liên và 2 em Cấp-Cáp cũng đi chuyển từ làng Bến Xúc về căn nhà sàn, mái tôn, vách ván tại số 172/19 Đường Lê Quốc Hưng, Quận Tư Khánh Hội Saigon.
Những tưởng thất học vì chạy loạn, di cư, nhưng nhờ anh chị Cả nuôi dưỡng săn sóc nên tôi đã thi đậu vào lớp Đệ Thất Trường Trung Học Petrus Trương Vĩnh Ký, niên khoá 1955 rồi tiếp tục sau hoàn tất Đệ Nhất 1962 thì đi Võ Bị Đà Lạt.
Thuở ban đầu không dễ dàng gì khi một thằng bé Bắc Kỳ “rau muống” chung lớp với 50 trò Nam Kỳ “giá sống”, như con dê non giữa “đàn sói”. Suốt năm đầu, tôi “đội sổ” (hạng nhất từ dưới đếm lên) vì mỗi khi vừa vào lớp đã nghe họ hát:
“Từ Bắc Vô Nam Tay Cầm Bó Rau, tay kia cầm sợi dây xích mà dắt con cầy”.
Nhớ mãi niêm đau thương năm xưa ấy, nên nay tôi dùng lời hát đặt cho cái tựa bài tạp ghi này./.
Lời cuối tạp ghi: Vì ai mà dân Việt cứ phải di cư?
Theo lài liệu. 1 triệu dân Bắc Kỳ di cư 1954-55 từ Bắc vào Nam an toàn, trong đó có tôi-thằng bé 13 tuồi
Theo tài liệu UNHCR: Khoảng 2,5 triệu người Việt đã vượt biên, vượt biển sau 30/4/1975, nhưng uớc lượng đã có khoảng 500.000 người tử nạn trên biển, vượt biên đường bộ, nhưng trong đó không có tôi.
Ngày 30/4/1975, tôi-người lính 34 tuổi đời “được” sống 10 năm trong ngục tù VC. Đến tuổi 49 thì đi máy bay định cư tại Mỹ năm 1990./.