Thương nhớ… ơ hờ

      No Comments on Thương nhớ… ơ hờ

Trần Huiền Ân

Thương nhớ… ơ hờ… thương nhớ ai…

Thoạt tiên ta có cảm tưởng đây là một câu hỏi, nhưng rồi kịp thấy chính là một lời cảm thán. Thi sĩ chẳng biết thương nhớ ai và e rằng thi sĩ cũng chẳng biết là mình chẳng biết.
Vâng, cuộc đời không bắt buộc ta điều gì cũng phải có “mục đích yêu cầu” rõ ràng, nhất là cái anh thương nhớ.
Dân gian nói: Ông Tơ biểu cái nhớ, bà Nguyệt bày cái thương, đó là nói kiểu dân gian. Ông Tơ bà Nguyệt là do con người sáng tạo ra để có chỗ đổ thừa chuyện yêu đương duyên số. Bạn bè cùng phái thì (như lời Tú Xương):
Ta nhớ người xa cách núi sông
Người xa xa lắm nhớ ta không?

Với người yêu và tri âm tri kỷ (như lời Nguyễn Du):
Bâng khuâng nhớ cảnh nhớ người…
Nhớ nơi kỳ ngộ…
Trong cảnh có người, người luôn luôn nổi bật trên nền cảnh và cảnh càng dễ thương dễ nhớ nếu là nơi kỳ ngộ. Nhưng nghĩ cho cùng thì nơi kỳ ngộ cũng không cần là sơn thanh thủy tú mà do ta cảm nhận đó là nơi do căn duyên gặp gỡ, tự nó thành một nét lạ, một nét mới, tự nó ghi khắc sâu đậm vào lòng ta.

Con người hay thương nhớ vào những lúc buồn chán hay ít nhất là thấy lòng trống trải. Có khi nghĩ đến cái chết. Như người xưa bảo: Mày sẽ làm thân chuột bọ ngựa heo gà chăng?
Nhữ vi trùng tị thử can.
Tí thần vi mã vi đàn vi kê.
Thảm quá! Lại sợ không được như thế mà nằm trong cõi tối tăm đen đặc cho con trùn con dế đục khoét thân thể, trong khi cuộc sống nơi thế gian vẫn ngày ngày tiếp tục, những lúc rảnh rỗi bạn bè vẫn ngồi lai rai vài ve chuyện trò rôm rả do anh nào đó làm chủ xị. Ôi thật là tiếc đời!

Những lúc như vậy, hoặc là không đến nỗi như vậy mà cũng đã đủ buồn nản trống trải, tôi thường nhắm mắt lại và nhớ.
Đâu phải nhớ một cái gì to lớn. Nhớ tuổi thơ ấu buổi chiều bên mẹ đốt rác nơi góc rào. Khói lên trắng đục, màu nắng vàng chanh, cái lạnh len trong cái ấm. Cũng màu nắng ấy, nhớ những con đường phương nam… rừng tầm vông lá sắc, rừng cao su cây cao vươn thẳng. Nhớ những nơi ta chỉ đi qua một lần, biết rằng suốt đời không bao giờ trở lại, nhớ những người biết rằng ta chỉ gặp một lần, một nụ cười vô tư, một nét nhìn khác lạ, một cử chỉ săn sóc ân cần, bữa ấy đêm biển động ào ào sóng vỗ, bữa ấy khuya cao nguyên hơi lạnh núi rừng làm bạc ánh trăng, buổi sớm từ làng quê ra đi sương còn ướt đẫm ngọn đế* quất nhẹ vào người. Nhớ những buổi trưa thơ thẩn, sự cô đơn dâng lên đến cùng tột. Nhớ cả con chim chốc mào tập bay chập chững, đôi sóc đỏ dạ đuổi nhau trên cành, trái bảy thưa chín mở ra hai mảng màu nhung đỏ, nhớ cả tiếng con ngựa sì sì đòi cỏ trong chuồng. Biết bao nhiêu chuyện vớ vẩn mà thành kỷ niệm sâu sắc rồi sao? Bởi vì nếu không thành sâu sắc chắc hẳn đã quên. Kỷ niệm không tắt, nó là ngọn đèn dầu vặn nhỏ chong nơi khuất vắng của lòng ta suốt đêm dài.

Nhớ và thương là một cặp bài trùng. Hễ nhớ là thương và thương là nhớ. Bây giờ thường phân tích thương và yêu có chỗ khác nhau, ngày xưa thương và yêu như chung một nghĩa. Có người trong khoảnh khắc ấy ta yêu thương họ, yêu thương trong khoảnh khắc. Có người càng nhớ lại càng thấy yêu thương hơn. Năm tháng trôi qua, phiêu bồng, xa cách. Khôn hỏi người xưa đâu tá? Có người cùng đi tìm nhau và gặp lại, có người chưa gặp lại, có người tuy mong ngóng mà không dám đi tìm bỗng tình cờ gặp lại. Cảm như môi cười mắt ngó, hồng nhan tri kỷ vẫn là nét thanh tân ngày cũ. Lòng dạt dào xúc động, nhưng câu thơ viết ra vẫn là câu thơ buồn.
Thiên hạ nói sợ nỗi buồn. Tôi thì không. Tôi lớn lên trong nỗi buồn, chung sống với nỗi buồn, yêu thương và trân trọng nỗi buồn, nuôi dưỡng nỗi buồn, làm thơ buồn và chỉ thích thơ buồn, nhạc buồn. Người nhạc sĩ trong Túy Kiều phú nâng cây đàn lên, bốn dây chảy máu năm đầu ngón tay, lời ca như con gà cơm cát kêu vang những tiếng xé lòng… mới là đáng nhớ. Cho nên ngay cả khi vui, nghêu ngao năm ba câu để riêng mình nghe, tôi cũng chỉ biết thơ buồn.

Vào những lúc tưởng như
Đêm nay họa có mình ta
Đốt lò hương cũ chờ ma dạo đàn
(Lưu Trọng Lư)
tôi thường đọc mấy câu của Lê Phương Nguyên:
Cành mộng rung sương hương vẫn tỏa
Nõn nà hoa trắng dáng hoa tươi
Mà ai đã biết ta thương nhớ
Đã biết yêu em đến tuyệt vời

Trần Huiền Ân
(Trích từ tập truyện Gió sang ngày)

—-

Ghi chú:
* NM thắc mắc về ngọn đế, được anh Trần Huiền Ân giải thích như sau:

Đế giống như tranh, thân cỏ, cùng họ hàng, thường gọi chung là “tranh đế”, nhưng không ai gọi cỏ tranh cỏ đế. Lá đế hẹp hơn lá tranh, có gai nhỏ cắt cứa ngứa ngáy khó chịu. Ở làng quê tôi tranh dùng lợp nhà, đế không dùng làm gì hết. Chỉ có trẻ con dùng bông đế thắt con ngựa (đồ chơi). Sau 1975 dân kinh tế mới tận dụng lá đế lợp mái nhà, che vách nhà (đúng ra là lều, chòi ở tạm).

Trần Huiền Ân

(Nguồn:  https://tranthinguyetmai.wordpress.com)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *