Tôi ham đọc sách từ thủa nhỏ khi chỉ mới lên 8,9 tuổi. Tôi đọc tất cả những cuốn sách vớ được, từ cuốn truyện tranh, nguyệt san thiếu nhi, áo trắng học trò, bộ sách truyện Tuổi hoa: hoa xanh, hoa đỏ, hoa tím… anh chị tôi mang về cho đến những sách chỉ dành cho người lớn. Cái duyên đưa tôi đến với văn chương lúc nhỏ không hề tốn tiền, không đến từ thư viện hay trường học. May mắn cho tôi là trước 1975, ba tôi cho các anh học trò sắp thi Tú tài từ các vùng xa ngoại ô Đà Nẵng trọ học trong nhà trên căn gác rộng. Và ở sát vách nhà tôi, trong những căn nhà hàng xóm có những anh lẩn trốn quân dịch. Lúc đó đứa bé như tôi trở thành một sợi dây liên kết của các anh với các cửa hiệu cho thuê sách. Họ không ra đường, nên thường dúi tiền vào tay tôi với mẫu giấy ghi tên sách nhờ tôi chạy ù ra tiệm cho thuê sách ngoài đầu đường. Và thế là tôi nghiễm nhiên có sách để đọc khi họ ngưng hoặc khi họ đã đọc xong mà chưa đem trả.
Thời gian ấy, trên căn gác nhỏ, sách là một khu vườn cấm đầy mê hoặc, mà mỗi cuốn sách là cánh cửa mở vào những chân trời mới, mặc dù tôi chưa đủ lớn để hiểu ” hiện sinh” hay ” thân phận con người” là cái giống gì, nhưng cũng đủ cảm những câu viết dòng chữ thú vị trong những trang sách để yêu thích.
Tôi đọc tất tần tật những sách các anh mướn về bởi vì ham và vì tôi có năng khiếu Chúa cho: đọc kỹ không bỏ trang nào nhưng đọc rất nhanh.
Tôi đọc thế giới tuổi mới “nhú” hồn nhiên và cả thế giới giang hồ của Duyên Anh qua Loan mắt nhung, Điệu ru nước mắt, Luật hè phố, Trần thị diễm châu, Vết thù trên lưng con ngựa hoang…, không phải muốn mơ làm đại ca, mà vì mê cái nghĩa khí và vẻ lãng mạn đầy bụi bặm của những tay “du đãng trí thức” như Trần Đại, Hoàng ghi ta, JeamJean Hùng…Cũng chính Duyên Anh đã đưa tôi đến với Thằng Vũ, thằng Côn, Con Thúy, Dũng Đakao, Chương còm, Hưng mập, Bồn lừa…để đến với tuổi thơ nghịch ngợm nhưng hồn nhiên trong sáng để ” mơ thành người Quang Trung”. Văn của Duyên Anh ngông nghênh nhưng đầy cảm xúc đã dạy cho tôi biết thế nào là tình bạn, là lòng trắc ẩn đàng sau cái vẻ ngoài gai góc.Và tôi coi Duyên Anh chính là “ông vua không vương miện” văn chương trong tuổi thơ tôi.
Tôi đọc nhà văn Mai Thảo với ” Đêm giã từ Hà Nội”, “Mười đêm ngà ngọc”,” Tháng giêng cỏ non”.. mà như lạc vào mê cung của những câu chữ sang trọng, quý phái. Tôi chưa hiểu hết nỗi đau di cư của những người miền Bắc bỏ quê cha đất tổ vào miền Nam thời 54, nhưng nhịp điệu văn chương của ông ấy dạy tôi rằng: tiếng Việt của người gốc Bắc như Hà Nội ngày xưa rất đẹp và rất sang trọng.
Tôi đọc Thầy Doãn quốc Sỹ, một người trí thức uyên thâm dùng văn chương để chuyển tải các giá trị nhân bản và đạo lý dân tộc mình qua bộ trường thiên tiểu thuyết ” Khu rừng lau”gồm 4 tập: Ba sinh hương lửa, Người đàn bà bên kia vĩ tuyến, Tình yêu thánh hoá, Ngã rẽ sông. Và những cuốn như “Gìn vàng giữ ngọc “và “Dòng sông định mệnh ” khiến tôi càng kính phục Thầy.
Tôi đọc Sơn Nam kể chuyện miền Tây Nam Bộ với cuốn Hương Rừng Cà mau. Tôi đọc Bình Nguyên Lộc với những truyện ngắn đậm chất đất và người phương Nam qua những cuốn” Đò dọc”, ” Nhốt gió”…Tôi đọc Võ Hồng viết về miền Trung với tình yêu thiết tha mộc mạc qua những cuốn ” Hoài cố nhân” và ” Như cánh chim hoang”.
Tôi lén lút ba tôi đọc cả những cây bút phụ nữ, vì ba tôi nếu bắt gặp thì chắc chắn tôi phải bị nện những trận đòn quắn đuýt. Những nhà văn phụ nữ thời kỳ này có lối viết tinh tế nhưng không kém phần quyết liệt khí khái như đàn ông. Nhã Ca viết về tình yêu và những mất mát của chiến tranh với giọng văn cảm xúc qua “Giải khăn sô cho Huế”. Túy Hồng có lối viết sắc sảo, trực diện về thân phận người đàn bà qua cuốn ” Thở dài”. Lệ Hằng nổi tiếng với những chuyện tình lãng mạn nhưng đầy trắc trở qua cuốn”Bản Tango cuối cùng” Và tôi đọc cả Nguyễn thị Hoàng với tiểu thuyết gây chấn động với những thao thức táo bạo về tâm lý phụ nữ và tình yêu qua cuốn” Vòng tay học trò”.
Và đặc biệt có những cuốn tôi đọc mà cảm thấy ” sợ” và chẳng hiểu gì. Đó là khi đụng đến Phạm Công Thiện_ một gã thần đồng khổng lồ điên rồ với những tư tưởng mới. Đọc “Hố thẳm của tư tưởng”, Đọc” Ý thức mới trong văn nghệ và triết học”, tôi chẳng hiểu gì về các triết gia Heidegger và Nietzsche, nhưng đọc giọng văn cuồng nhiệt, phá cách ấy tôi thấy như có luồng điện chạy qua đầu, khiến tôi hiểu rằng thế giới này có những người dám nghĩ và dám viết vượt qua mọi ranh giới dù bị thiên hạ cho là điên, là khùng.
Và dù ít khoái thơ, tôi cũng mò vô cả lĩnh vực thi ca, bởi thơ ca thời kỳ này rất phong phú, từ thơ tình đến thơ chiến tranh.
Tôi đọc và kính phục Tô Thùy Yên với những suy ngẫm về lịch sử và định mệnh con người qua tập thơ: ” Chiều trên phá Tam Giang” và sau này đọc được “Bài thơ Ta về”. Tôi đọc ” Áo lụa Hà Đông”, ” Tháng sáu trời mưa” của Nguyên Sa để biết ông ấy đã đưa những chuyện tình vào thơ một cách duyên dáng. Tôi đọc cả những dòng thơ kỳ ảo, điên điên mà sâu sắc của Bùi Giáng qua tập thơ ” Mưa nguồn”
Còn nhiều lắm như ” Mùa hè đỏ lửa” của Phan nhật Nam …vân vân…. Tôi đọc ” ké” theo các anh nhiều lắm mà bây giờ khó nhớ hết.
Giờ đây mỗi lần nhớ lại thời kỳ ấy với những cuốn sách ấy khi còn là một đứa trẻ, tự dưng tôi thấy có cả nỗi đau và sự thấu cảm cho những nhà văn, nhà thơ miền Nam lúc bấy giờ. Họ đã sống trong một giai đoạn lịch sử đầy sự tự do tư tưởng, họ đã sống và viết bằng tất cả sự chân thành và tài năng để cống hiến cho con người.
Cám ơn những trang sách cũ ngày xưa đã nuôi dưỡng tâm hồn tôi, dù thời gian có phủ bụi, cái đẹp của con chữ văn chương ngày ấy sẽ còn mãi trong tâm hồn tôi. Nền văn chương miền Nam trước 1975, với tôi, mãi mãi là ” vườn địa đàng” mà tôi đã may mắn được chạm tay vào trong những ngày miền Nam còn trong binh đao khói lửa.