Tâm Tư Sâu Lắng của Bà Ngô Đình Nhu – Khi Trả Lời Phỏng Vấn của truyền thông Mỹ Về Chính Biến 1963

tác giả: Trần Phong Vũ


/////////////////
/////////////////

1. Đôi Điều Trước Khi Vào Nội Dung Phim

         Tôi không rõ có sự cam kết nào giữa người phỏng vấn là giới truyền thông Mỹ và người được mời trả lời phỏng vấn là bà Ngô Đình Nhu hay không. Nhưng sau khi theo dõi nội dung cuộc phỏng vấn, tôi có cảm tưởng như bà Nhu hoàn toàn chủ động, khi  giành trọn 25 phút đầu trong toàn bộ 53 phút 31 giây của cuộc phỏng vấn cho phần độc thoại của mình, nhằm giải bày những suy tư riêng của bà về nhiều vấn đề liên quan tới cảnh ngộ Việt Nam, trước và sau tháng 11-1963. Bắt đầu là chuyện ông Mendes France, Thủ tướng Pháp, sau khi Thế Chiến II kết thúc, đã ù lỳ không theo gương người Anh đối với những quốc gia thuộc địa của họ, để trao trả độc lập cho Việt Nam, đến nỗi sau đó đất nước này bị phân thây thành hai mảnh Bắc-Nam! Tiếp theo vấn đề định danh thế nào là một chính phủ chính danh như chính phủ Việt Nam Cộng Hoà dưới quyền Tổng thống Ngô Đình Diệm. Sau đó bà đề cập vết thương của Hoa Kỳ qua các biến cố liên quan tới Vịnh Con Heo, Bức Tường Bá Linh và Hoả Tiễn Cuba thúc đẩy Hoa Thịnh Đốn phải dấn sâu vào chiến tranh Việt Nam để tự rửa mặt. Cuối cùng là biến cố Phật Giáo dẫn tới cái chết oan khiên của anh em Tổng Thống Ngô Đình Diệm và nền Cộng Hòa non trẻ của Việt Nam.

         Trong 25 phút đầu ấy, duy nhất có một lần người phỏng vấn chen vào để nêu thắc mắc, tại sao bà Ngô Đình Nhu nhắc lại nhiều lần 4 từ “chặt đầu Việt Nam”?

         Nghe kỹ phần độc thoại này, tôi thấy rõ thâm ý của bà khi cố ý dành gần phân nửa thời lượng 53 phút 31 giây cuộc phỏng vấn để tự do trình bày một số điểm cốt lõi, được coi là rất quan trọng để làm nền cho những câu hỏi hóc búa có chủ ý của giới truyền thông gạo cội Hoa Kỳ ở phân nửa phần sau.

         2. Cốt Lõi Nội Dung Phần Đầu Cuộc Phỏng Vấn

         Mở đầu bà nói: “Suốt 2 thập niên, chẳng ai quan tâm tới những gì đã xảy ra ở Việt Nam. Và điều tôi muốn nói rất quan trọng đối với tôi”. Tiếp theo, bà nhìn thẳng vào mắt nhà báo Mỹ nêu câu hỏi: “Trước hết, tôi muốn hỏi anh có nhận ra cái vận rủi kỳ lạ đang đè lên nước Mỹ không?” Rồi không chờ phản ứng của đương sự, bà tự trả lời: “Anh có nhận ra điều này không? Những chính trị gia rất sáng suốt, rất tài năng, những người tin rằng họ có thể nói vào năm 1975 những câu như ‘Hãy bỏ Việt Nam lại sau lưng’. Họ tin rằng họ có thể nói với người dân Mỹ rằng ‘Hãy quên nó đi’?

         Nhưng, bất chấp sự tự tin của họ, bất chấp tài năng của họ. Chính họ là những người phải gánh lấy số phận đó. Có một điều gì rất lạ lùng. Việt Nam tuồng như có th tạo ra, có thể kéo đến một vận rủi cho những ai nghĩ rằng: họ có thể khinh thường đất nước chúng tôi. Và người Mỹ không phải là những người đầu tiên. Chẳng hạn như Thủ tướng Mendes France của Pháp. Ông ta có một tầm vóc chính trị lớn đến mức không ai hiểu vì sao sau khi ký vào Hiệp Định chia đôi Việt Nam, sự nghiệp của ông ta lại bị sụp đổ?

         Ông ta muốn gạt bỏ Việt Nam vào quá khứ nhưng cái quá khứ đó lại là của ông ta. Vì thế bây giờ tôi cho rằng: cái vận rủi  ấy bắt đầu từ việc chia cắt Việt Nam. Tại sao? Bởi vì nước Pháp khi đó hoàn toàn có thể trao lại đất nước Việt Nam trong sự toàn vẹn cho chính quyền hợp pháp của nó. Họ lợi dụng một trận thua, trong khi thực tế họ chưa hề thua cả cuộc chiến. Họ đã lợi dụng một trận thua để chia cắt đất nước chúng tôi phối hợp với những người cộng sản đặt người dân Việt Nam trước một sự đã rồi”.

         Điều bà Ngô Đình Nhu vạch trần sự kiện Thủ tướng Pháp Mendes France lấp liếm không chịu trao lại đất nước Việt Nam cho chính quyền hợp pháp thời ấy dẫn tới việc ký kết Hiệp Định chia đôi lãnh thổ Việt Nam vào năm 1954, gợi nhớ tới những lời oán than được ghi lại trong lịch sử đương thời. Sau thế chiến hai, trong khi Anh quốc đi bước trước về việc trao trả độc lập cho hầu hết các thuộc địa của họ thì thực dân Pháp vẫn tiếp tục ù lỳ. Đến đây, những người theo dõi cuộc phỏng vấn nhận ra sự thông minh, nhạy bén và quyết đoán của bà Nhu khi giành gần phân nửa thời lượng để trình bày những điểm then chốt mà bà thừa biết trong phần hỏi đáp bà sẽ không có cơ hội nhắc tới. Tiếp theo, bà nhấn mạnh rất nhiều lần tới một loại chính quyền hội đủ những yếu tinh đặc biệt. Đó là “chính quyền chính danh”, Bà không chỉ nhắc suông mà còn giải thích cặn kẽ thế nào là một “chính quyền chính danh” và dưới mắt các nước phương Tây, cụ thể Hoa Kỳ, họ nhìn các quốc gia nhược tiểu ra sao?

         Bà nói: Bây giờ tôi phải giải thích sự phản bội ấy, phản bội đối với quyền lực chính danh và tôi cũng phải giải thích vì sao quyền lực chính danh lại đóng một vai trò quan trọng như vậy? Đối với Tây Phương, các ông biết quá rõ tầm quan trọng của một quyền lực chính đáng. Nhưng các ông cư xử, các ông hành động (xin lỗi tôi nói ‘các ông’ vì tôi muốn nói chung toàn thể Tây Phương), không riêng Hoa Kỳ. Thật sự Tây Phương các ông  hành xử như th chúng tôi thuộc thế giới thứ 3, không hề có khái niệm về quyền lực chính danh. Như thể, với chúng tôi, thì bất cứ ai cũng làm lãnh đạo được.

         Nhưng thực ra tôi còn một cái đầu lành mạnh, để nếu muốn, Thánh Thần có thể thể hiện qua đó. Có một cái đầu lành mạnh nghĩa là gì? Nghĩa là quyền lực đó phải chính danhQuyền lực chính danh tức là được bầu lên một cách đúng đắnTức là quyền lực đó phải chấp nhận sự đối đầu hòa bình với những người tiền nhiệm mình và với bất kỳ ai chấp nhận để cho dân chúng chọn lựa, không dùng vũ lực.

         Ở Việt Namquyền lực duy nhất đáp ứng được những điều kiện đó là chính phủ của Tổng thống Ngô Đình Diệm bởi vì ông là người duy nhất chấp nhận sự đối đầu hòa bình với Quốc trưởng Bảo Đại, người đứng trước ôngVà sau ông ấy, không một ai, sau vụ ám sát ông, dám chấp nhận đối đầu hòa bình với người được bầu lên thay thế ông.

         Trong trường hợp ông qua đời, theo đúng Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hoà do chính ông soạn thảo. Cho nên, khi người ta nói rằng: Hồ Chí Minh đã buộc được Bảo Đại thoái vị thì điều đó có nghĩa là ông ta đã kéo theo toàn bộ sự mục nát, bởi vì Bảo Đại đã quay trở lại bốn năm sau đó để thách thức ông ta. Bởi vậy quyền lực chính danh duy nhất ở Việt Nam chính là quyền lực do chính Tổng thống Ngô Đình Diệm nắm giữVà chính quyền lực đó là quyền lực duy nhất đã bị Hoa Kỳ chặt đầu. Vì sao? Vì sao có cái vận rủi giáng lên nước Mỹ và những người đứng đầu nước Mỹ sau những gì họ đã làm cho Việt Nam.

         Bây giờ tôi phải giải thích vì sao lại có cái vụ chặt đầu? Tôi xin lỗi khi phải ghi nhận điều này”.

         (Chúng tôi không rõ vì thực tâm muốn hiểu hay chỉ vì bất bình khi nghe bà Nhu hơn một lần nhắc tới chuyện “Mỹ chặt đầu” khiến người phỏng vấn xen vào nêu câu hỏi: “Bà có thể gọi đó là cái chết được không?” Và đây là câu trả lời của bà Nhu: “Cái chết? Không. Ý tôi là Việt Nam đã bị chặt đầu”.

         Người phỏng vấn nói tiếp: “Như vậy cách nói rõ ràng hơn là, Bà nên giải thích vì sao lại có cuộc đảo chính hoặc vì sao người đứng đầu chính phủ bị giết”?  Bàtrả lời:

         “Vâng. Nhưng tôi muốn nói như thế này: Vì tôi coi quyền lực chính danh của Việt Nam là cái đầu của Quốc Gia. Và nếu anh phản đối thì sau vụ Vịnh Con Heo, vụ Tường Bá Linh, vụ Hoả Tiễn Cuba. Sau ba vụ này mà ta gọi là sai lầm đó , chính quyền Mỹ tin rằng họ cần phục hồi lại uy tín bằng đất nước tôi?

         Nhắc tới vụ Hoả Tiễn Cuba, người ta có thể ngạc nhiên vì vụ đó lúc nào cũng được mô tả như một chiến công. Nhưng tôi không nghĩ thế. Ngay cả chính quyền Hoa Kỳ cũng hiểu đó không hề là một chiến công. Phần tôi, tôi cho rằng Mỹ đã bị Liên Xô đánh lừa. Liên Xô vốn không có khả năng bảo vệ Cuba. Vì thế tôi cho rằng, lúc đó ngưi Mỹ đã bị Liên Xô lừa đảo, giản dị vì Liên Xô không có khả năng bảo vệ Cuba, mà lại có thể đạt được một sự trao đổi đ Mỹ rút đi vài hoả tiễn… mà thực chất không ai biết là đồ thật hay chỉ là đồ tồi tàn bằng thiếc?

         Sau những lời lẽ hàm ý mỉa mai, bà Nhu cho rằng: vì tất cả những thất bại và sai lầm đó, chính phủ Mỹ hồi ấy đã không thể cưỡng lại vì đã bị cám dỗ bởi ý nghĩ nên sử dụng lá bài duy nhất có thể thắng bằng cách ép Việt Nam, đổ thêm quân vào. Khi nói Việt Nam như một “lá bài thắng” bà cho rằng, chắc hẳn nhiều người sẽ ngạc nhiên vì đối với hoàn cảnh Việt Nam lúc ấy, Hoa Kỳ luôn coi như một cái gì đã mất, một mớ hỗn độn, v.v… Bà cho rằng điều đó không đúng. Bằng chứng là lá bài thắng nằm ở chỗ người Mỹ đã tìm mọi cách để  nhảy vào, dù phải giết người để thực hiện bằng được. Bà nhấn mạnh: “Khó ai có thể tin rằng: với bản chất duy vật của họ -như người Mỹ vốn thế- họ sẽ làm tất cả những điều đó chỉ để nhảy vào một nơi đã mất”. Bà nói tiếp: “Như vậy bằng chứng đã rõ ràng, Những bằng chứng đối với chính phủ Mỹ nằm ở chỗ khi ấy chúng tôi đã bình định toàn cõi miền Nam bằng Quốc Sách Ấp Chiến Lược. Dù vậy, sau này khi thấy mình đã thất thế trong cuộc chiến tranh du kích của cộng sản, người Mỹ bắt đầu ngả theo dư luận là nhà Ngô, tức Tổng Thống Ngô Đình Diệm và chồng tôi cần phải ra đi để họ thay thế bằng những khuôn mặt cam tâm chấp nhận sự can thiệp của họ.

         Và dĩ nhiên chúng tôi không chấp nhận sự can thiệp ấy. Giản dị vậy thôi. Để phản ứng lại, người Mỹ nương theo truyền thông Tây Phương mô tả chúng tôi như những kẻ độc tài, trong khi trên thực tế chúng tôi chưa bao giờ vi phạm Hiến Pháp của mình, một bản Hiến Pháp… nhờ được tu chính năm 1962 có quyền chất vấn công khai hành pháp. Đứng trước những vấn đề tối quan trọng của đất nước, Hiến pháp Việt Nam còn cho phép tổ chức Trưng Cầu Dân Ý khi cần... Vì thế, hoàn toàn thiếu công bằng và trung thực khi cho rằng chúng tôi độc tài, trong khi…. không hề có bằng chứng nào cho thấy chúng tôi vi phạm hay làm điều gì sai trái đối với Hiến Pháp của chúng tôi”.

         Trước khi mời người phỏng vấn nêu ra những câu hỏi, bà Nhu đã lần lượt nhắc tới biến cố Phật Giáo dẫn tới cuộc thảm sát anh em Tổng thống Diệm kéo theo sự sụp đổ của nền Đệ Nhất Cộng Hoà Việt Nam. Dịp này bà đề cập trường hợp TTK Liên Hiệp Quốc U Thant đã gửi một Phái Bộ của tổ chức này qua Sài Gòn để tìm hiểu Sự Thật về biến cố Phật giáo*, từ đấy thúc đẩy Hoa Kỳ vội vã bật đèn xanh cho Dương Văn Minh và nhóm phản tướng làm cuộc đảo chánhnhư một cách để cứu vãn thể diện.

Bà cũng đề cập điều gọi là “sự phản bội thứ 2” xảy ra ngày 27-1-1973 tại Paris, quy tụ 12 quốc gia gồm các cường quốc Anh, Pháp, dưới sự lãnh đạo của Hoa Kỳ để ký kết Hiệp Định Paris bảo đảm trao cho người dân Việt Nam quyền được chọn “Quyền Lực Chính danh” của họ dưới sự giám sát quốc tế. Tuy nhiên, theo bà, Hiệp Định này không hề được tôn trọng. Lý do, vì căn nguyên bí ẩn nào đó, người ta đã giao cho tướng Dương Văn Minh vai trò đại diện cho Việt Nam Cộng Hoà, người mà chỉ vài năm sau đó đã đầu hàng cộng sản!

         3. Tóm Lược Nội Dung Phần Hỏi/Đáp Trong Cuộc Phỏng Vấn

         a/ Câu hỏi 1Bà đã có mặt liên tục từ 1954/1963 thời Đệ Nhất Cộng Hoà Việt Nam, xin bà cho biết Tổng thống Diệm là người như thế nào? Trong 9 năm cầm quyền ông có thay đổi gì không?

         Tóm lược phần trả lời: Với thái độ tự tin, kiên định, bà Nhu nói: “Trong suốt 9 năm cầm quyền, trước sau như một, ông không hề thay đổi. Đ có một nhận định chính xác về ông, tôi có th nói: Ông là người Công Chính được hiểu theo nghĩa diễn tả trong Kinh Thánh“. Điều đó có nghĩa: Ông có thể sai lầm, nhưng sẵn sàng sửa chữa ngay khi nhận ra. Đấy là lý do tôi cho rằng, việc Tây Phương kết án ông, dung túng cho bọn đàn em ám sát ông, không cho ông cơ hội trả lời hay tự bào chữa là một tội ác. Vị Đại Sứ đầu tiên là Đại sứ Nolting đã bị bãi nhiệm một cách phi lý và vô l chỉ vì ông ấy không chịu làm theo đường lối sai trái nên bị thay thế bằng người khác. Khi Tổng thống Diệm nêu câu hỏi: Tôi phải làm gì, nói gì với nhân vật mới này thì được trả lời: cứ im lặng. Tất cả chuyện này là do truyền thông, báo chí dàn dựng. Cứ để chúng tôi lo…”.

         b/ Câu hỏi 2: Ấn tượng bà ra sao đối với họ, Cách riêng, Đại Tá Lansdale?

         Bà Nhu hỏi lại trước khi trả lời: Ông muốn biết về ấn tượng của tôi đối với người Mỹ? Ban đầu tôi có cảm tình với họ. Tôi nhìn họ như những con người chân thành, có thể dễ dàng hợp tác, không có vấn đề gì. Riêng ĐT Lansdale, thú thật tôi không biết nhiều, chỉ gặp vài lần. Điều tôi biết chắc là Tổng Thống Diệm rất có thiện cảm với ông ĐT này. Có điều những người Mỹ tử tế, trong số có cả ông Nolting, sau này đều bị bãi nhiệm!

         c/ Câu hỏi 3: “Ngay từ đầu bà được biết đến như một Đệ Nhất Phu Nhân của Việt Nam, Bà có thể xác định vai trò của bà như thế nào không?

         Bà trả lời đại khái: Điều này khá phức tạp. Câu trả lời đầy đủ có lẽ cần phải diễn giải bằng cả một cuốn sách. Anh muốn biết về vai trò của tôi ư? Quả thật không dễ. Có thể tưởng tượng tôi giống như một con mèo con, được Thượng Đế cưng chiều theo cách riêng của Ngài. Vào một thời điểm bất ngờ, Ngài nắm gáy tôi ném vào một đấu trưng toàn những sư tử hung dữ. Nhưng có lẽ nhờ tôi sinh ra dưới cung sư tử nên dù chỉ là con mèo con, tôi không sợ, tự tin mình có thể sống chung với chúng!”

         d/ Câu hỏi 4: “Còn việc truyền thông Tây Phương bôi bác bà. Thí dụ như họ mệnh danh bà là “Dragon Lady – Bà Rồng” bà có bình luận gì không?

         Bà trả lời: Tôi tin rằng khi họ gọi tôi kiểu đó, đơn giản chỉ vì họ thấy tôi mạnh mẽ, không sợ hãi. Và điều đó đúng, vì cá tính tôi là thế. Dĩ nhiên chồng tôi rất không vui về chuyện đó. Một bên là Tổng thống Diệm, anh trai ông và một bên, tôi là vợ ông. Có lần ông cho rằng cả anh trai ông và vợ ông đều là những người vô tư, ngây thơ, sống giữa rừng; nghĩa là không có ý thức đầy đủ về thực tế đời sống. Lao vào cuộc chiến mà không hề có cảm giác mình đang đối diện với những con thú hung bạo! Có lần anh ấy nói với anh trai mình là Tổng thống Diệm: ‘Lẽ ra anh nên đi tu như ý nguyn ban đầu thì hơn”. Rồi quay qua tôi, nói: ‘Còn em, chính xác em nên ở nhà với tư cách một bà nội trợ hiền lành thì hợp vi em hơn’. Tôi nghĩ chồng tôi có lý. Nếu cảnh ngộ không xô đẩy tôi, để mặc tôi quyết định, chắc chắn tôi sẽ làm theo lời khuyên của chồng tôi là trở về nhà nấu nướng, may vá, đan nát, nuôi dạy con cái. Bởi đó là những gì tôi thật sự yêu thích trong cuộc sống.

         Nhưng rồi nghĩ lại, tôi còn đất nước của tôi, nên khi nhiều người tìm đến khuyến khích, mời gọi, tôi chợt nhận ra nếu tôi không làm cũng sẽ chẳng có ai làm. Và khi tôi làm lại có chuyện dèm pha, ngăn cản. Tôi mong họ cho biết lý do, nhưng họ im lặng, và có lẽ vì thấy tôi cứng đầu, không dễ thuyết phục nên họ bới móc gán cho tôi là Dragon Lady (Bà Rồng).

         Còn về chuyện tôi rời đt nước tôi là do lời mời của báo giới Mỹ. Họ khuyến khích tôi nên đi để giải thích trên các diễn đàn báo chí ở Mỹ. Nhưng khi tôi vừa đặt chân đến Belgrade vào thời điểm đó, tôi nhận được thông báo của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ khuyến cáo là tôi không nên tới Mỹ vì an ninh của tôi không được bảo đảm! Như vậy là khi khuyến dụ tôi, mục tiêu của họ chỉ là muốn tôi  rời khỏi Việt Nam mà thôi! Nên khi biết tôi đã rời Việt Nam họ bảo tôi “đừng đến Mỹ” vì không có gì bảo đảm cho an ninh của tôi!  Và như vậy là cả thế giới đều biết là Mỹ không có khả năng bảo vệ cho sự an toàn của một người phụ nữ yếu đuối trên lãnh thổ của họ!?

         Người phỏng vấn hỏi tôi: – Như vậy có phải thời điểm ấy rơi vào khoảng tháng 10 năm 1963 phải không? Tôi đáp: “Chính xác!”

         – Từ chuyện y, bà đã cảm thấy vỡ mộng với người Mỹ rồi phải không?

         – Vào thời điểm ấy, họ mời tôi. Nhưng ngay sau khi biết tôi đã ra khỏi đất nước tôi, họ lại cư xử với tôi như vậy. Tất nhiên tôi đã bị vỡ mộng! Và phải chăng vì thế, báo chí Mỹ xem thường tôi và gọi tôi là Dragan Lady, bởi vì tôi đã thách thức họ?

         đ/ Câu hỏi 5: Thưa bà, còn chồng bà thì sao? Bà có thể cho một định nghĩa về vai trò của ông như thế nào?

         Bà Nhu trả lời: Ông ấy là tất cả ở Việt Nam. Ông tổ chức điều hành đất nước khi Tổng Thống vắng mật. Và khi Tổng Thống trở về, mọi thứ đều đã sẵn sàng. Phải nói thật là, nếu không có ông ấy, Tổng Thống sẽ gặp khó khăn trong việc điều hành việc nước. Vì vậy khi có yêu cầu Tổng Thống phải đưa chồng tôi ra khỏi Việt Nam, chính Tổng Thống đã coi đề nghị này là ngu ngốc! Tôi hiểu rõ chồng tôi là loại người đi trước thời đại. Một ngày nào đó người ta sẽ hiểu ông. Phần tôi, tôi không thể nói gì hơn.

         e/ Câu hỏi 6Xin bà cho biết một chút về cuộc khủng hoảng Phật Giáo năm 1963. Trong thời gian đó có một câu nói được cho là của bà: bà tỏ dấu vui mừng vì các nhà Sư “tự nướng mình”!  Xin một lời bình luận của bà.

         Bà Nhu trả Lời: Những người chấp nhận bị đánh thuốc mê, và bị xối cả galon xăng lên đầu thiêu đến chết!… vì những quyền lợi mơ hồ… thì những người hiểu biết phải có một phản ứng nào đó để ngăn cản họ? Với tôi, trong trường hợp ấy “chế giễu” là điều duy nhất tôi có thể làm khi ấy. Bởi vì chừng nào việc đó còn được coi như một điều tuyệt đối đúng, đáng được ca ngợi thì tất nhiên sẽ luôn có người điên cuồng về thứ “Vinh Quang Giả Tạo” sẵn sàng chấp nhận lao vào làm tiếp, thì với hoàn cảnh, vị trí một người cương trực tôn trọng sự thật như tôi biết làm gì khác hơn?

         f/ Câu hỏi 7Theo nhận định của Bà, ai đứng sau vụ Phật Giáo?

         Bà Nhu trả lời: Tôi tin rằng ban đầu là những người cộng sn. Tuy nhiên, nếu chỉ có thế sẽ không thể tác động quy mô như mọi người đã thấy. Theo tôi, nếu không có sự can thiệp của Mỹ, nhất là sự chuẩn thuận của Tổng thống Hoa Kỳ khi ấy là ông Kennedy, mọi chuyện chắc chắn sẽ khác.

         G/ Câu hỏi 8Ai chịu trách nhiệm về cái chết của chồng bà?

         Trả lời: Các ông đã tiến hành rất nhiều cuộc điều tra, viết hết cuốn sách này đến cuốn sách khác, và điều đó chính Hoa Kỳ đã làm nhưng họ vẫn không thể tìm ra manh mối. Theo tôi, điều đó cũng có nghĩa là họ thực hiện những cuộc điều tra ấy chỉ để đánh lừa công luận. Điều này khá giản d vì nếu quả thật họ thật sự muốn biết ai chịu trách nhiệm, tôi tin chắc họ sẽ tìm ra. Phần tôi, tôi không muốn buộc tội ai cả. Tôi không muốn đi vào chi tiết, nhưng bằng chứng thì vẫn ở đó. Người chịu trách nhiệm là chính quyền Kennedy với sự a tòng của csvn đã khiến nguyên thủ quốc gia Việt Nam Cộng Hoà Ngô Đình Diệm và em trai ông bị ám sát. Và như thế, theo cách nhìn của tôi: họ đã chặt đầu Việt Nam!

         Bề ngoài thì Tổng thống Kennedy phải chịu trách nhiệm. Tuy nhiên, s thật, tôi không biết. Dĩ nhiên, thâm tâm tôi rất muốn biết.

         H/ Câu hỏi 9Thưa bà Nhu. Vào năm 1963 có tin đồn rằng chồng bà điên loạn! rằng ông ấy cuồng bạo lực! rằng ông ấy nghiền thuốc phiện! Bà có ý kiến hay muốn bình luận về các tin đồn này không?

         Trả lời: Vâng. Họ đã nói nhiều điều về chồng tôi. Thậm chí họ còn nói rằng ông ấy là kẻ nghiện ma túy và đủ thứ như vậy”, (Đến đây bỗng dưng nét mặt bà Nhu thay đổi, cặp mắt bà quắc lên khác thường, toàn thân hướng về phía trước, có thể là chiếu vào người vừa nêu câu hỏi khiến bà bất bình) Bà cất tiếng, cung giọng như đanh lại. “Nhưng bạn thấy đấy. Bất cứ ai có thể nói mọi điều chống lại tôi, tôi không quan tâm. Nhưng, tôi là người vợ rất biết và hiểu chồng mình. Vì thế khi nghe những điều xúc phạm đến chồng tôi, thật sự tôi không thể chịu đựng hay tha thứ được. Tại sao? Anh biết đấy, vì tôi biết và rất hiểu chồng tôi. Ông ấy có một ý thức và tinh thần trách nhiệm thật cao cả, và cũng thấu rõ mình bị hiểu lầm.

         Sự tự tin của chồng tôi vốn được vun bồi từ niềm tin nơi Thiên Chúa và chính mình. Thế mà lại bị xem là điên rồ chỉ vì ông phải đối mặt với Hoa Kỳ? Tôi muốn nói thẳng với anh là với một niềm tin kiên vững nơi Đấng Tối Cao như vậy thì thử hỏi quyền lực của con người trần thế có nghĩa gì? Nhưng vì không ai hiểu biết cặn kẽ chồng tôi là ai nên họ đã nói ra rất nhiều điều hàm hồ. Trong suốt nhiều năm trời, cá nhân tôi có thể chấp nhận mọi sự. Nhưng việc họ tìm mọi chuyện để hạ thấp nhân cách của chồng tôi, quả thật tôi không thể chịu nổi. Nhưng bây giờ, sự trả thù đang đến. Với tất cả những người đã tấn công ông ấy. Khi sự thật được biết đến về điều ông ấy đã tìm ra về điều gì thật sự là ‘sự điên rồ’ của ông ấy, họ sẽ phải xấu hổ. Họ muốn nuốt lại tất cả những gì họ đã trót nói ra. Bởi vì điều ấy sẽ cho thấy họ đã ngu ngốc đến mức nào?!

         Khi họ hiểu được con người ấy. Giờ phút đó đang đến.

         I/ Câu hỏi 10Cũng có những tin đồn rằng vì ông bà bị người Mỹ phản bội sâu sắc nên ông đã có những hành động tiếp cận với những người Cộng sản Bắc Việt. Bà có điều gì bình luận về điều này không?

         Trả lời: Giờ phút đó đang đến. -Tiếp cận với cộng sản ư? Sự thật là vào thời điểm có tin đồn là lúc chúng tôi đang thắng cuộc chiến. Nếu chúng tôi không ở thế thượng phong trong cuộc chiến, chính quyền Mỹ sẽ không bao giờ tính chuyện ép chúng tôi phải chấp nhận cho họ tăng quân số tại Việt Nam. Và cũng vì biết chúng tôi thắng, những người cộng sản không dám leo thang, Họ chỉ có hai lựa chọn. hoặc leo thang, nhưng không dám, hoặc  thương lượng. Vì vậy, chính phía cộng sản đã gửi người đến với chúng tôi. Bởi vì khi ấy chồng tôi đã tìm ra giải pháp: tạo điều kiện cho người dân của ông ấy trực diện và sống cùng chiến tranh, đồng thời chống lại chiến tranh.

         Chính vì thế những người cộng sản thấy không thể làm điều gì khác, họ phải gửi người đến nói chuyện với chồng tôi, và cũng vì thế, người Mỹ đã xoay ngược lại để chống ông ấy, coi như th chính chồng tôi là người chủ động đi bước đầu.

         Trả lời câu hỏi ‘ông ấy đã nói gì với họ’, bà Nhu cho hay: khi ấy chúng tôi đã tạo mọi sự dễ dàng cho họ. Đầu tiên họ muốn biết “Chương trình Chiêu hồi – Open Arm Program” là gì, chúng tôi cho họ hay: Thực tế hai từ “Chiêu Hồi” có nghĩa là chương trình mời gọi sự trở về, lấy ý từ chuyện người cha trong Phúc âm sai gia nhân làm thịt Con Bê Béo – Le Veau Gras để mừng người con sau một thời gian xa nhà trở về.

         K/ Câu hỏi 11Bà nghĩ điều gì sai? Và tại sao lại dẫn tới một kết cuộc bất hạnh như vậy vào năm 1963?

         Trả lời: Tất cả là… Nói thế nào nhỉ?…. Có lẽ tất cả là do sự kiêu ngạo. Hoa Kỳ tin rằng họ nắm giữ Chân Lý khiến họ mang sẵn tư tưởng khinh mạn, xem thường đối với chúng tôi. Họ quá duy vật để có thể hiểu. Thậm chí chính tôi cũng không thể buộc tội hay cay đắng đối với họ. Tôi cũng phải nói ngay cả đến người dân của chúng tôi cũng không thể hiểu, và có thể nói rất nhiều người không hiểu.

         Vì duy vật, họ cho rằng chồng tôi điên rồ vì xem thường toàn bộ sức mạnh vật chất ấy và bám chặt vào giải pháp của mình. Nhưng theo tôi, đó chỉ là: sự hiểu lầm xuất phát từ thái độ kiêu ngạo của một phía, và một dạng thiếu trí tuệ của phía kia. Bởi vì đối với người Mỹ, tôi tin rằng đó là sự kiêu ngạo, nhưng đối với chính người dân của chúng tôi, tôi cho rằng đó chỉ là sự thiếu hiểu biết mà ra.

         L/ Câu hỏi cuối: Thưa bà Nhu, cuối cùng bà có điều gì để nói thêm không?

         Trả lời: Vâng. Cám ơn anh. Thông điệp cuối cùng mà tôi thật sự muốn gửi đến nhân dân Mỹ chỉ là: Các ông đừng bao giờ yêu cầu người Mỹ của các ông biểu diễn những màn đu dây trên không mà không cho họ tấm lưới an toàn. Nói cách khác, đừng cố giành lại uy tín đã mất từ Việt Nam bằng cách xây dựng một sức mạnh thuyết phục đáng sợ trong khi coi thường Luật của Chúa Kitô nhất là Lời Dạy của Ngài.

         4. Đôi Điều Lạm Bàn Về Cuộc Phỏng Vấn Hi Hữu Này

         Có vài nguồn tin nói rằng, thuở sinh thời, trong những năm lưu vong bên trời Âu, bà Quả phụ Ngô Đình Nhu có một cuộc sống vương giả nhờ tiền thù lao hậu hĩ qua những cuộc phỏng vấn dành cho giới truyền thông quốc tế, cách riêng Hoa Kỳ. Lại cũng có không ít người cho hay bà Nhu chỉ chấp nhận một cuộc phỏng vấn duy nhất dành độc quyền cho nhóm ký giả Hoa Kỳ vào năm 1982. Đó cũng là cuộc phỏng vấn cá nhân chúng tôi vừa được coi và ghi lại thành văn bản, kèm theo đôi lời bàn thêm trước khi gửi qua các diễn đàn để rộng đường dư luận. Lý do khiến bà nhận trả lời cuộc phỏng vấn này là để có đủ phương tiện đưa mấy người con qua thăm thân nhân tại một số quốc gia Âu Châu.

         Vào những năm cuối thế kỷ 20, tôi từng may mắn được đọc hồi ký ngắn của Luật Sư Trương Phú Thứ tường thuật lại mảnh đời ẩn dật, giản dị của Bà Quả Phụ Ngô Đình Nhu trong thời gian sống tại một chúng cư ở Paris, Pháp Quốc. Theo tường thuật của LS họ Trương, bà Nhu được một mạnh thường quân tặng hai căn hộ trong chung cư, một để ở và một cho thuê làm phương tiện sinh sống. Theo tác giả, tuy đã bước qua tuổi 70 nhưng sức khỏe của bà vẫn còn khá tốt và nhan sắc tuy trang điểm sơ sài, nhưng vẫn mang vẻ đẹp quí phái như xưa.

         Vẫn theo hồi ký của LS Trương Phú Thứ, khi hỏi về sinh hoạt hàng ngày, bà Nhu cho hay, mỗi sáng dù Chúa Nhật hay ngày thường bà đều thức rất sớm, có mặt trước giờ Lễ tại một Nhà Nguyện cạnh chúng cư để chuẩn bị mọi thứ cho việc cử hành Thánh Lễ. Như chỉnh lại vị trí ghế ngồi cho Linh Mục, trải khăn mới phũ bàn thờ, bày biện đồ Lễ, gồm chén dĩa Thánh đựng Bánh/Rượu, thắp nến, sắp xếp mọi thứ sẵn sàng cho vị Linh Mục già tới dâng Lễ. Sau khi kết lễ, bà lo tắt nến, dọn dẹp mọi thứ trên bàn thờ, cất vào chỗ cũ, kiểm lại những hàng ghế do giáo dân vừa dự Thánh lễ, trước khi đóng cửa rồi đi bộ về nhà tự mình lo ăn sáng. Sau đó, nếu không có người quen hẹn đến thăm, bà dành trọn thì giờ viết lách, viết thư cho các con, đọc sách, nhất là Kinh Thánh Cựu, Tân Ước.

         Nhiều năm trước, khi hai con Ông Bà Nhu là Ngô Đình Quỳnh và Ngô Đình Lệ Quyên ra mắt cuốn “La Républic Du VietNam Et Les Ngô Đình” ở Paris, anh Phạm Bá Hân, một người bạn hiện ở North Carolina là phái viên địa phương đài SBTN vốn biết tôi có chương trình Hội Luận hàng tuần trên đài này, đã đề nghị phỏng vấn tôi về tác phẩm trên đây. Dĩ nhiên tôi vui vẻ nhận lời, Cuộc phỏng vấn dài trên một tiếng, phát hình trong 10 tuần liên tiếp, mỗi tuần khoảng từ 8 đến 10 phút, Sau này được gom lại thành 4 Parts. Part 1, tóm lược công trình 9 năm gầy dựng nền Cộng Hoà Việt Nam của nhà Ngô. Part 2 về nội dung hồi ký “Viên Sỏi Trắng” của Bà Nhu. Part 3 về lá thư mới nhất của ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu gửi các bạn hữu thân thiết của ông ở Paris trước biến cố 1963. Và Part cuối là cảm nghĩ chung của người đọc tác phẩm “La Républic Du VietNam Et Les Ngo Dinh”.

         Lý do khiến tôi phải nhắc tới cuộc phỏng vấn do anh Phạm Bá Hân thực hiện vì trong cuộc phỏng vấn nhiều kỳ này, mỗi lần tôi nhắc tới danh tính Ông Bà Ngô Đình Nhu và những gì liên hệ, đài SBTN đều trích đoạn hình ảnh bà Nhu trả lời nhóm phóng viên Mỹ phỏng vấn bà năm 1982. Những hình ảnh, tiếng nói của bà Nhu trong bộ phim do SBTN lưu trữ đều rất đẹp, sáng sủa, rõ ràng, kể cả phần phụ đề cũng hay và chính xác hơn bộ phim phỏng vấn tôi coi lần này. Có lẽ vì cuốn phim sau được thâu qua thâu lại nhiều lần và phần phụ đề Việt ngữ kém hơn lần trước nên phẩm chất bị thay đổi chăng?

Miền Nam California, Chúa Nhật, ngày 7-6-2026
Trần Phong Vũ

_______________________________

         Một may mắn tình cờ là vào khoảng năm 2018, sau khi tủ sách Tiếng Quê Hương xuất bản cuốn “Việt Nam, Nỗi Đau và Niềm Hy Vọng”, tác phẩm thứ tư của tôi, tôi được anh bạn Nguyễn Văn Thc, dịch giả các tác phẩm “Sao Chúa Mãi Im” và “Bên Dòng Sông Hằng,” từ  nguyên tác Nhật ngữ của nhà văn Viễn Đằng Chu Tác, cho hay hiện anh đang giữ “Bản Tường Trình  của Phái Bộ Liên Hiệp Quốc Đi Tìm Sự Tht Tại Nam Việt Nam Năm 1963″ nguyên văn Tiếng Anh “United Nation Fact-Finding Mission To South Viet Nam – 1963”. Anh hứa sẽ gửi bản vi tính cho tôi và hỏi nếu tôi có ý định ấn hành song ngữ Việt Anh, anh sẽ khởi đầu việc chuyển ngữ.

         Mấy ngày sau tôi nhận được bản vi tính gửi qua email. Đọc xong tôi rất mừng vì ngoài phần chính là nội dung Bản Tường Trình còn kèm theo một số tư liệu  hiếm quí như Lá Thư của c Tổng thống Ngô Đình Diệm gửi ông U Thant, Tổng Thư Ký LHQ thỉnh cầu tổ chức quốc tế này gửi một Phái Bộ qua điều tra để tìm hiểu S Thật về những biến cố gần đây tại miền nam Việt Nam cùng với hồi âm của ông U Thant. Quan trọng hơn nữa còn có lá thư của Thượng Nghị Sĩ Thomas J. Dodd, đảng Dân Chủ thuộc UB Tư Pháp  Thượng Viện Mỹ gửi ông James O. Eastland, Chủ Tịch UB  Nội An Thượng Viện Mỹ với một nội dung đầy khích lệ. Tuy vậy, phải ba năm sau, được sự khuyến khích của một số bằng hữu ngoài Công Giáo, trong số có các thức giả như Giáo sư TS Trần Huy Bích, phụ trách mảng Văn Học Trung Hoa tại Thư Viận Đại Học UCLA, Đốc S Hành Chánh Nguyễn Đắc Điều và nhà văn Phạm Tín An Ninh, người cùng định cư bên Na Uy với dịch giả Nguyễn Văn Thực, tôi mới quyết định ấn hành.

         Vì in song ngữ Việt-Anh, ngoài nội dung chính của Bản Tường Trình kèm một số tài liệu liên hệ do dịch giả tìm thêm, cùng với văn thư trao đổi giữa TT Ngô Đình Diệm và TTK/LHQ U Thant, văn thư của TNS Thomas J. Dodd gửi TNS James O. Eastland, Chủ Tịch UB An Ninh TV HK, Lời Mở Đầu của đại diện Nhóm Ch Trương gm nhà báo Vi Khiêm Nguyễn Văn Liêm, dịch giả Nguyễn Văn Thc và cá nhân tôi, Trần Phong Vũ, nên sách ấn hành khổ lớn, bìa cứng, dày 720 trang. Ấn bản đầu in 1000 cuốn gửi tặng 100 Thượng Nghị Sĩ thuộc Thượng Viện Hoa Kỳ đương nhiệm, 100 Dân Biểu đương nhiệm thuộc Hạ Viện Hoa Kỳ, khoảng ngót 300 không lựa chọn trong giới nhân sĩ, trí thức và truyền thông báo chí Việt Mỹhoàn toàn miễn phí, bao gồm ấn phí và cước phí bưu điện.

         Trong thư gửi TNS Chủ tịch UB An Ninh Thượng Viện, TNS Thomas J. Dodd đã hết lời xưng tụng giá trị và tính trung thực của Bản Tường Trình. Do đó ông đề nghị Thượng Viện in ra 100 bản để gửi tặng tất cả các thành viên trong Thượng Viện Hoa Kỳ để lưu ý về sự bất nhất, thiếu trung thực của truyền thông, báo chí giòng chính thời bấy giờ.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *