THEO QUÁCH TẤN, TÌM VỀ NÚI CŨ XEM MAI NỞ!

******

Thầy Thích Phước An đã viên tịch.

Trái tim thầy Phước An đã ngừng đập vào trưa nay, 11 giờ 50 phút, ngày 09.02.2026, nhằm ngày 22 tháng Chạp năm Ất Tỵ.
Tôi đọc tin này bên trang nhà báo Trần Ngân Hà, mà nghe lòng đau buồn quá thể.
Làm “bạn facebook” với thầy mười năm nay, với bao lần thầm hẹn lòng, sẽ ra thăm thầy ngoài Nha Trang, thế mà rồi, chưa thực hiện được thì thầy đã nhẹ nhàng, thong dong về cõi thanh tịnh vĩnh cửu.
Đưa tiễn người đi, con đăng lại những bài viết xưa, những khi nhận được sách thầy gởi cho đọc.
Con sẽ mãi nhớ người, người thầy tinh thần của con, người thầy rất hiền hòa, bao dung, ấm áp.
Người là ngọn đèn soi, trên con đường con học Phật!

******

I/ HT. THÍCH PHƯỚC AN

Không phải tác phẩm văn chương có giá trị nào cũng đều được người đời biết tới. Tác giả, cũng như thế. Có nhiều người viết rất hay, nhưng vì đức khiêm nhường, hoặc vì nhiều lý do đặc biệt, nhiều hoàn cảnh đặc biệt, mà họ bị chìm đi, bị ẩn đi, giữa một đời sống, giữa một xã hội, đang ngày càng nhiều hơn những hỗn tạp và nhiễu loạn.

Thầy, Hòa Thượng Thích Phước An cũng thế. Thầy sinh năm 1949, đi tu lúc bảy tuổi. Sau năm 1975, thầy về ở hẳn tại chùa Hải Đức, Đồi Trại Thủy, Nha Trang, cho đến nay.

Thầy có rất, rất nhiều bài viết, không chỉ hay mà còn có giá trị về Phật Học, Phật Pháp. Hoặc đơn giản hơn, đôi khi, chỉ là kể chuyện về người xưa như Quách Tấn, Tuệ Sỹ, Phạm Công Thiện, là những tác giả, những bậc thầy rất thân thiết với thầy Thích Phước An; hoặc chỉ là bình thơ xưa, mà người đọc, nghe trong đó, cả một trời quê hương bao la, một trời tâm tình bát ngát, và một tấm lòng yêu muôn kiếp nhân sinh.

Và thầy viết sách, cho đến nay, theo tôi biết, đó là những tác phẩm, như: Đường Về Núi Cũ Chùa Xưa, Đức Phật Trên Cõi Phù Du; và đặc biệt là tác phẩm Hiu Hắt Quê Hương Bến Cỏ Hồng.

Xin giới thiệu đến các bạn một bài viết trong hàng trăm bài viết vừa hay lại vừa cảm động của thầy, được thầy viết và đăng vào mùa Xuân năm 1996, tức cách đây tròn ba mươi năm, trên tạp chí Hoa Sen, Hoa Kỳ.

PHẠM HIỀN MÂY

******

II/ THEO QUÁCH TẤN, TÌM VỀ NÚI CŨ XEM MAI NỞ

1.

Tìm về núi cũ xem mai nở
Mộng bén ngàn xa hạc điểm canh

(Quách Tấn)

Trong một bài viết về tác phẩm Nước Non Bình Định của Quách Tấn, cố học giả Nguyễn Hiến Lê có nói rằng, ông vốn rất mê các cửa biển miền Trung. Nhưng Nước Non Bình Định của Quách Tấn, chỉ dành có mười tám trang để viết về biển, nên đọc xong mười tám trang đó, ông còn cảm thấy thèm. Ngược lại, trong chương viết về núi non, Quách Tấn lại dành đến tám mươi trang. Và Nguyễn Hiến Lê đã tóm lược tám mươi trang mà Quách Tấn viết về núi như sau:

Tám mươi trang mà có tới trên trăm ngọn núi. Tuy không cao lắm nhưng “hùng dũng hiểm tuấn”. Nhiều ngọn núi hình dáng rất kỳ dị như ngọn Mã Thiên Sơn. Đứng phía này mà ngó thì rất ngạo (ngạo đây, đoán là ngạo nghễ – PHM), hung tợn như “há miệng mắng trời”, nhưng đứng phía khác thì trông lại rất hiền lành, lễ độ. Có phía nhìn thấy như ông Phật ngồi, có phía lại như hổ nằm, mà từ trên cao nhìn xuống thì trông như cánh buồm. Có núi hình dáng không kỳ dị, mà sắc thì diễm ảo như núi Xương Cá. Những buổi trưa nắng gắt ở xa, trông vào thấy sát khí bốc lên ngùn ngụt. Còn vào những đêm trăng sáng, những buổi sớm tinh sương, thì long lanh lóng lánh như hạt kim cương.

Và trong quyển hồi ký viết vào những ngày cuối đời, Nguyễn Hiến Lê vẫn nhắc lại: Nhất là cảnh núi mà tôi tin chắc rằng không ai viết hay hơn Quách Tấn được.

Trong hơn một trăm ngọn núi mà Quách Tấn đã viết trong Nước Non Bình Định, có một ngọn chạy dọc phía sau làng quê của tôi. Hồi nhỏ tôi nghe dân làng gọi là núi Bà. Sau khi đọc Nước Non Bình Định của Quách Tấn, thì tôi mới biết núi còn có tên là Bố Chánh Đại Sơn.

Gọi Bố Chánh Đại Sơn là đúng với cách đọc của chữ Hán cũng như chữ Việt, núi non hùng vĩ vô cùng. Quách Tấn mô tả: Núi chiếm một vùng rộng có đến trăm dặm vuông. Núi ngó ra biển, hùng vĩ, hoành tráng.

Núi có nhiều ngọn cao chất ngất, như Hòn Hèo ở phía Đông Nam, hòn Hang Rái ở phía Đông Bắc, hòn Chuông ở phía Tây. Tôi bắt đầu nhìn ngắm được ngọn núi Bà là vào những năm 1953 đến 1954, tức là những năm cuối cùng của cuộc chiến tranh chống Pháp.

Đầu làng tôi có một cây cầu gỗ bắc ngang qua sông. Dân phía bên này và bên kia sông đều đi lại bằng chiếc cầu gỗ này. Nhưng chiếc cầu đã vô tình trở thành tai họa giáng xuống dân làng, vì ngày nào máy bay Pháp cũng đến dội bom xuống chiếc cầu.

Tôi còn nhớ như in, hễ cứ nghe gà gáy canh đầu, là mẹ tôi đánh thức tôi dậy cùng với dân làng đi lên đèo Tó Mọ để tránh bom đạn. Đèo này nằm sâu trong dãy núi Bà, nên dân làng phải ráng sức để khi đến nơi thì trời vẫn còn tối, vì ban ngày, để máy bay thấy thì sẽ rất nguy hiểm.

Tôi lúc ấy còn quá nhỏ, nên khi bắt đầu leo núi thì mẹ tôi phải cõng tôi trên vai để đi cho kịp với mọi người. Vào những đêm trời có trăng, vừa leo núi tôi lại còn nhìn thấy mặt trăng mọc ngay trên đỉnh núi. Mặt trăng lúc ấy trông buồn bã làm sao:

Đêm đêm nằm đợi canh gà giục
Mảnh nguyệt rừng xa bạn cố tri

(Lánh Cư – Quách Tấn)

Bây giờ thỉnh thoảng tôi vẫn thích đọc lại hai câu thơ ấy của Quách Tấn, đọc để nhớ lại tuổi thơ của một thời ly loạn. Vào mùa đông hay tháng giêng, tháng hai, lúc trời còn gió chướng, từng cơn gió rét buốt từ đèo Tó Mọ đổ xuống cánh đồng Dạy, cánh đồng nằm kề cận làng tôi, buổi chiều đi học về, tôi và những đứa trẻ cùng làng phải cắm đầu mà chạy để tránh cái rét như cắt da ấy. Những lúc đó, tuổi thơ tôi đã cảm nhận một cách mơ hồ rằng, con người hoàn toàn xa lạ và bơ vơ trước vũ trụ bao la kia.

Lớn lên, xa quê hương, mỗi khi có dịp trở về để đi qua cánh đồng lộng gió ấy, tôi còn phải chịu đựng một cơn gió rét buốt khác nữa, cơn gió dâu bể của cuộc đời.

Nhiều thế hệ tiếp nhau sanh ra, lớn lên, âm thầm đi, âm thầm sống, và âm thầm trở về nằm yên dưới rặng núi này:

Gò xanh vun nấm cỏ
Ghi dấu thời gian qua
Chửa nhạt niềm tâm sự
Âm thầm xuân nở hoa.

(Quách Tấn)

Mười năm, hai mươi năm hay ba mươi năm, chỉ dài đối với một đời người, nhưng với một dòng sông hay một rặng núi thì quá ngắn để mà ta có thể thấy sự thay đổi của nó. Bởi vậy mỗi lần trở về, tôi thấy núi vẫn xanh và những đám mây trắng vẫn bay trên đỉnh núi như ngày nào. Thế là, tôi thường tự nhủ, núi đứng đó không phải chỉ để nhìn “sóng lớp phế hưng” của cuộc đời, mà chừng như dãy núi còn biết lắng nghe tâm sự của bao thế hệ, đã đến, đã đi, đã về, từ rặng núi này nữa:

Chửa nhạt niềm tâm sự
Âm thầm xuân nở hoa.

Chắc Quách Tấn cũng đã nhiều lần đứng nhìn những nấm mồ nơi rặng núi của quê nhà, nên ông mới có một nỗi buồn heo hút đến như vậy.

2.

Tâm sơn dục minh đức
Lưu huân vạn do diên
Ai loan cố đồng thượng
Thanh âm triệt cửu thiên

(Ở trong núi nuôi dưỡng các đức tánh sáng chói
Hương thơm tỏa ra hàng vạn dặm
Rồi cũng giống như con chim Loan cất tiếng kêu buồn thảm trên cây ngô đồng
Âm thanh của nó vọng đến chín từng trời.)

Ta có thể mượn bài thơ này của Kumarajiva (Cưu Mala Thập), để thấy núi non hết sức quan trọng trong bước đi. Có phải chăng, những thành tựu tâm linh lớn nhất của con người, xưa đến nay, đều phát xuất từ núi rừng cô tịch?

Quách Tấn dường như đã linh cảm được, con người của thực dụng hôm nay đã dần đánh mất núi non trong hồn mình, thế nên, ông đã đem hết khả năng, để làm sống lại cái đẹp của núi non. Quách Tấn đã bắt đầu việc làm sống lại đó, bằng một truyền thuyết dân gian đầy thơ mộng, về hai rặng núi ở quê nhà ông như thế này:

Truyền rằng xưa kia, lúc mà ông Trời bà Đất không còn khắng khít với nhau, ông bay lên cao, bà hạ xuống thấp, bỏ nước non mây gió bơ vơ. Ông Khổng Lồ lo việc xếp đặt núi non cho có thứ tự. Sau khi xếp xong các dãy núi ở Bình Định, ông Khổng Lồ lựa hai hòn núi cân đối, quảy lên vai rồi nhỏng nhảnh đi chơi. Nhìn núi nhìn mây, cao hứng quên phứt gánh núi trên vai, đòn gánh chệch, đôi gióng nghiêng, đôi núi lăn cù xuống đất.

Núi rớt thình lình, Khổng Lồ vừa giật mình vừa mất thăng bằng, suýt ngã. Để khỏi té, ông liền bấm chặt một chân xuống đất, một chân bước dang ra trước mặt để chống. Tuy không té ngã, nhưng bị cụt hứng, ông tức mình bỏ núi lại đó, gánh gióng không mà đi đến nơi khác. Hai hòn núi bỏ lại đó, chính là hòn Trà Sơn và hòn Khánh Long.

Vì núi được sanh ra bởi ông Trời và bà Đất, nên ta phải leo lên núi cao thì mới thấy hết cái đẹp của trời đất: Lẫn trong màu sắc của ruộng đồng mênh mông, từng chùm, từng khoảnh nổi lên màu lục đậm của cây, màu xam xám hoặc đo đỏ của chợ quán, nhà cửa, chùa đền, hoặc ẩn hiện dưới bóng mây làn khói (Nước Non Bình Định). Cái giây phút ấy, thì những gì tù túng, chật chội của mặt đất, dường như cũng tan biến hẳn. Ta có cảm giác rõ rệt là càng lên cao bao nhiêu thì con người mới cảm thấy mình là một với đất trời bấy nhiêu.

Tại một hòn núi khác, Quách Tấn kể, để giúp hành khách qua lại khỏi bị nạn cọp vồ, một nhà sư trụ trì nọ, đã tổ chức việc đưa đón như sau: Hành khách đến chân đèo thì dừng lại đợi nhau. Khi đã được năm ba người, nhà sư sẽ đến đưa họ qua đèo. Không giáo, không mác, cũng không trống, không phèng, nhà sư thong thả đi trước, tay gõ mõ miệng tụng kinh, hành khách nối đuôi theo, khoan thai trật tự. Sang tới phía bên kia, nếu có khách thì nhà sư sẽ trở lại, đưa qua đèo tiếp. Cứ thế, hết ngày này đến này kia. Ai cúng ít nhiều chi đều được, mà không cúng, cũng không sao. Trước kia, hổ bắt người, nhiều lắm. Từ khi có sư đưa đón, người người qua lại đều vô sự.

Bây giờ, nghe câu chuyện trên, hẳn có người cho đó là chuyện hoang đường, không thật. Quách Tấn cũng biết thế, nên ông viết: Đó là chuyện cũ ngày xưa, ngày nay, người không còn sợ cọp như trước, trái lại, cọp hẳn phải sợ lòng người, nên tiếng mõ câu kinh, không cần thiết nữa.

Cuối dãy núi Bà, có một ngôi chùa cổ gọi là chùa ông Núi. Có nhiều truyền thuyết kỳ lạ kể về hành tung của ông Núi lắm. Ví dụ như: Ông Núi dùng vỏ cây làm y phục, tham thiền nhập định suốt ngày đêm trong hang đá. Trong hang, ngoài ông, còn có hai con cọp mun hiền lành. Chỉ khi nào cần lương thực thì Ông Núi mới gánh một gánh củi xuống để ở ngã ba đường. Người quanh vùng đem gạo muối ra, tự đổi củi đem về nhà chụm. Đến chiều tối hôm sau, ông Núi mới xuống lấy gạo muối, rồi lặng lẽ lên núi trở lại. Ông Núi tiếp tục sống như vậy trong nhiều năm.

Đến khi Trương Phúc Loan chuyên quyền, khắp nơi đều sống trong cảnh đói khổ loạn lạc. Một hôm, những người tiều phu lên núi đốn củi, họ tò mò vào hang thì không còn thấy ông Núi đâu nữa. Bấy giờ họ mới biết, ông Núi đã bỏ đi. Chẳng ai biết ông đi đâu.

Hơn ba trăm năm sau, Quách Tấn đến viếng Chùa. Ông dường vẫn như nghe được bước chân ông Núi vang vọng khắp núi non. Dọc đường, khi đi cũng như khi về, thường nghe các mục đồng, các ngư phủ, với một giọng thật thà, đôn hậu, hát những câu hát về ông Núi. Khi thì thánh thót:

Cây che đá chất chập chùng
Biển giăng dưới núi chùa lồng trong mây
Bụi đời không gợn mảy may
Chút thân rộng tháng ngày dài thảnh thơi.
Khi lại ngầm chứa nỗi u hoài:

Ông Núi đi đâu
Bỏ bầu sơn thủy
Đủ nhân đủ trí
Thêm vĩ thêm kỳ
Chùa xưa nhạt bóng tà huy
Xuôi lòng non nước nặng vì nước non.

Những câu núi cũ, “chùa xưa”, được Quách Tấn lặp đi lặp lại nhiều lần trong thơ, đã nói được hết nỗi bơ vơ của ông, khi phải sống trong thế giới hiện nay. Một thế giới đã gần như quên hẳn một Trần Thái Tông, cùng với Đức Sơn Thiền Sư, đứng ngắm trăng trước sân chùa Thanh Phong và nghe gió lùa qua núi vắng. Một Nguyễn Trãi ngậm ngùi tiễn Đạo Kiêm Thiền Sư về núi với lời chúc “về non ta lại có thiền tâm.”

3.

Trong một bài nhận định về thơ của Quách Tấn cách đây hơn ba mươi năm, Phạm Công Thiện đã viết một câu hay tuyệt: Tôi tưởng chừng những tiếng thơ trên, đã xuất phát từ trung tâm của vũ trụ, xa lắm, xa lắm. Những từ xa lắm, xa lắm của Phạm Công Thiện, dĩ nhiên phải cần hiểu theo nghĩa bóng.

Có những bài thơ của Quách Tấn mà mỗi lần đọc lên, tôi khó có thể nghĩ rằng ông đã viết chúng tại Quy Nhơn hay Nha Trang. Chúng cho tôi một cảm giác, ông là ẩn sĩ, đang sống tại một ngôi chùa cổ ở thảo nguyên hay núi cao nào đó, xa lắm với chốn trần gian bụi bặm này. Vì chỉ trong cô đơn heo hút như vậy, thì ông mới lắng nghe hết được nỗi buồn sầu thảm của vũ trụ mênh mông:

Sông dài bãi vắng núi chênh vênh
Chùa khuất sau mây tiếng trống rền
Gió nước nôn nao lòng đãi độ
Lạnh lùng sương xuống bóng trăng lên

(Đọng Bóng Chiều – Quách Tấn)

Và cũng tại nơi thâm sơn cùng cốc này, trong một thoáng giây ngắn ngủi, Quách Tấn chừng như đã thấy được cánh cửa của vô hạn:

Thoáng tiếng chuông chùa vọng
Bóng đèn khuya rung rinh
Nao nao lòng giống quạng
Hơi thu tràn hư linh

(Thâm U – Mộng Ngân Sơn – Quách Tấn)

Rồi tôi tưởng tượng rằng, một hôm, ẩn sĩ ấy, đã bị buộc phải xuống núi. Sống giữa cuộc đời, nhưng lòng ông lúc nào cũng ngóng vọng về nơi xa xôi ấy:

Mây nước nhiễm phong trần
Nơi đâu tình cố nhân
Những đêm buồn tỉnh giấc
Chùa cũ tiếng chuông ngân

(Tình Cố Nhân – Mộng Ngân Sơn – Quách Tấn)

Ông nhớ rõ từng lời kinh tiếng kệ, nhớ giọt trăng tà đọng lại trên hành lang heo hút lúc đêm sắp tàn nơi ngôi chùa cổ:

Lặng lẽ chiên đàn nhả khói hương
Trăng tà đôi giọt rụng lan can
Chùa xa riêng cảm đêm thu quạnh
Vần kệ ngân đưa giấc mộng tàn

(Đọng Bóng Chiều – Quách Tấn)

Và nhớ những chiều núi non sau cơn mưa, còn đẹp hơn cả một giấc mộng:

Mưa tạnh non cao đọng bóng chiều
Hồi chuông chùa cũ vọng cô liêu

(Chưa xuất bản – Quách Tấn)

Hai câu thơ có sức hoài niệm lạ thường. Gần một thế kỷ đã đi qua, ngoảnh nhìn lại, chẳng còn nhớ gì hết, ngoài một chút núi non tịch mịch trong lòng của thi nhân. Chắc chắn, những bài thơ trên của Quách Tấn không phải là sự rung động ngẫu nhiên hay nhất thời của một nghệ sĩ, mà nó đã được hun đúc sâu xa bởi một khát vọng. Khát vọng, mà đã hơn một lần, Quách Tấn từng tâm đắc: Làm thơ là để gởi tấm lòng vào thiên cổ, chứ không phải để phấn sức tài ba trong nhất thời. Đây là lời của Trần Tử Ngang (một nhà thơ Trung Hoa thời Sơ Đường), mà tôi đã học thuộc lòng từ khi mới tập làm thơ. Ngày xưa tôi làm thơ là để lòng vào thiên cổ, nhưng từ ngày tôi nhận thấy văn chương là pháp môn, là đạo, thì tôi làm thơ, viết văn để giải thoát tâm hồn.

Vậy, Quách Tấn đã đạt được khát vọng ấy trong thi ca của ông chưa? Đọc bài thơ sau đây, ta sẽ rõ:

Mây thu chớp nhẹ cánh thư hồng
Hắt ánh tà huy trắng mặt sông
Bờ dạt sóng lau vờn ngọn bấc
Đợi đò lặng lẽ bóng sư ông.

Và theo như Phạm Công Thiện từng nói, thì: Hiện nay Quách Tấn đã đi gần tới tiêu đích của mình.

4.

Vào những tháng cuối năm bảy mươi lăm, bảy mươi sáu và bảy mươi bảy của thế kỷ trước, theo như tôi biết, đó là những năm tháng buồn bã nhất trong cuộc đời của Quách Tấn. Bạn bè cũ, một số đã ra đi, một số còn ở lại thì sợ tai vách mạch rừng, nên ít ai dám lui tới để trò chuyện, tâm sự, mặc dù có quá chừng chuyện để mà tâm sự với nhau.

Lúc ấy, anh Tuệ Sỹ vẫn còn ở Nha Trang, chùa cũng chẳng còn chuyện gì để làm, nên anh Tuệ Sỹ và tôi vẫn thường xuống thăm Quách Tấn, và thỉnh thoảng, ông cũng lên chùa thăm lại. Những lần viếng thăm qua lại như vậy, đã an ủi Quách Tấn được phần nào, nhất là trong hoàn cảnh cô đơn và đầy bất an như lúc ấy.

Một bữa, Quách Tấn có trao cho anh Tuệ Sỹ và tôi một bài thơ:

Bạn thơ nay chẳng còn ai
Tới lui trò chuyện chỉ vài nhà sư
Chung trà hớp ngụm vô tư
Chia tay nhìn bóng thanh hư gởi lòng

Riêng đối với Tuệ Sỹ, mặc dù tuổi tác chênh lệch nhau đến gần nửa thế kỷ, nhưng Quách Tấn vẫn một mực quý trọng tài hoa và nhất là tư cách của Tuệ Sỹ. Tôi nhớ có một lần, ông đã nói với tôi rằng, ở Việt Nam có hai tác phẩm viết về Tô Đông Pha (một đại thi hào đời Tống của Trung Quốc), một của Nguyễn Hiến Lê và một của Tuệ Sỹ. Nhưng theo ông, Nguyễn Hiến Lê chỉ mới đứng từ xa mà nhìn ngọn Lê Sơn, còn Tuệ Sỹ mới đích thực vào được “thâm xứ” ấy.

Quách Tấn là một nhà thơ rành rẽ về thi ca Trung Quốc, nên lời nhận định của ông, tất phải thấu đáo và giá trị. Nhân đó, tôi cũng cho ông biết rằng, vì Tuệ Sỹ là một nhà thơ, một nhà thơ mà viết về một nhà thơ thì tất nhiên phải hay hơn một học giả viết về thi ca rồi.

Quách Tấn rất đỗi ngạc nhiên khi biết Tuệ Sỹ cũng có làm thơ. Lâu nay, ông chỉ biết Tuệ Sỹ là một nhà Phật học và là một dịch giả.

Khi Đào Duy Anh, lần đầu tiên từ Hà Nội vào Nha Trang đến thăm Quách Tấn, ông hỏi ý kiến Quách Tấn, ai là người mà ông nên đến thăm? Quách Tấn trả lời ngay, Tuệ Sỹ, chỉ có Tuệ Sỹ là người đáng thăm nhất.

Và ông Đào Duy Anh đã leo núi lên thăm Tuệ Sỹ. Trong cuộc trò chuyện hơn hai tiếng đồng hồ tại chùa Hải Đức, tôi vẫn còn nhớ như in chi tiết, lúc còn ngoài Bắc, Đào Duy Anh rất thích tác phẩm Essay in Zen Buddhism của Đ.T. Suzuki mà không có để đọc. Mãi đến khi vào Nam, thì ông mới đọc được bộ Thiền Luận do Tuệ Sỹ dịch từ tiếng Anh của Đ.T. Suzuki, một tác phẩm lừng danh, và đã từ lâu, chinh phục được thức giả phương tây. Ông công nhận đây là một sự muộn màng rất đáng tiếc.

Khi tiễn Đào Duy Anh xuống núi, cứ một đoạn, là Đào Duy Anh đứng lại, bắt tay anh Tuệ Sỹ, những cái bắt tay thật chặt. Cứ như vậy, ông bắt tay cho đến khi xuống cuối dốc chùa mới thôi. Điều ấy chứng tỏ, Đào Duy Anh rất trân trọng và rất vui, với cuộc gặp gỡ này.

Sau đó, vì không chịu đựng nổi không khí ngột ngạt ở thành phố, nên Tuệ Sỹ đã đi làm rẫy tại một khu rừng hẻo lánh ở thị trấn Vạn Giã, gần đèo Cả, cách Nha Trang khoảng sáu mươi cây số. Đây cũng là thời gian anh làm thơ nhiều nhất. Hầu hết những bài thơ nói lên tâm sự u uẩn của chính mình và cho cả quê hương đất nước, đều được anh làm tại nơi núi rừng heo hút này. Tỷ như:

Quê người trên đỉnh Trường Sơn
Cho ta gởi một nỗi hờn thiên thu

(Tự Tình – Tuệ Sỹ)

Hoặc:

Trong mắt biếc mang nỗi hờn thiên cổ
Vẫn chân tình như mưa lũ biên cương

(Những Năm Anh Đi – Tuệ Sỹ)

Đúng là tâm hồn của kẻ sĩ, nếu có hờn có trách thì cũng chỉ hờn trách chính mình thôi, còn đối với mọi người, đối với cuộc đời, thì vẫn yêu thương nồng nàn.

Làm rẫy một thời gian thì Tuệ Sỹ bỏ vào Sài Gòn, dấn mình vào một cuộc lữ khác. Cuộc lữ này, vẻ như, gió mưa nhiều hơn những cuộc lữ trước đó.

Ít lâu sau, Quách Tấn cũng rơi vào trường hợp tương tự, nhưng ông chỉ bị một thời gian ngắn thôi, có lẽ do ông đã đến tuổi thất thập cổ lai hy chăng?

Quách Tấn hiện đang đi chơi xa và không bao giờ trở về nữa. Tôi vẫn tưởng tượng, ông đứng nhìn một cây mai nở rộ trên một hòn núi cao nào đó, điều mà khi còn sống, ông rất khát khao nhưng không bao giờ thực hiện được, như có lần ông đã đọc cho tôi nghe hai câu thơ của ông:

Tìm về núi cũ xem mai nở
Mộng bén ngàn xa hạc điểm canh.

Còn Tuệ Sỹ thì vẫn chưa về. Những lúc ngồi một mình nhớ Quách Tấn và Tuệ Sỹ, tôi cứ bâng khuâng tự hỏi: Tại sao có những người muốn đem hết cả tấm lòng của mình, để hiến dâng cho cuộc đời, mà họ vẫn bị cuộc đời đối xử một cách bất công?

Vì tài hoa của họ chăng? Chữ tài đi liền với chữ tai một vần chăng? Xưa nay, đa phần, ai cũng nghĩ như vậy nhưng theo tôi, quan niệm đó chỉ đúng một phần thôi, vì, có biết bao nhiêu người tài hoa ở những nơi khác trên đời này, họ vẫn có hoàn cảnh, họ vẫn có điều kiện để đem tài hoa của họ, dâng hiến cho cuộc đời mà?

Có một bài thơ của Quách Tấn, tôi nghĩ có thể tạm giải thích được, ít nhất là trong trường hợp của Quách Tấn và Tuệ Sỹ. Bài thơ ấy như thế này:

Bao phen bến hẹn đổi dời
Làng phong tao vẫn con người thủy chung
Gió lau thổi lạnh sóng tùng
Hương xưa thắm lại cụm hồng ngày xưa.

Phải chăng vì muốn thủy chung với cụm hồng ngày xưa ấy, mà Quách Tấn và Tuệ Sỹ phải chấp nhận số phận lao đao của mình?

******

III/ KẾT

Dù chưa gặp người ngoài đời bao giờ, nhưng đọc những bài viết của thầy Phước An, tôi nhận ra, người là một bậc tu hành đáng kính với tâm tánh: từ tốn, ấm áp, tĩnh tại.

Đọc văn của người, tôi tuyệt nhiên không thấy những xao động, những vọng động, càng không thấy sự vội vã, sự cuồng si, mê tưởng. Văn của người như mặt nước hồ, nhẹ nhàng, không chút gợn, giữa mùa thu yên ả.

Đọc văn của người, tôi nhận ra, điều gì cần tới, nó sẽ phải tới, không cách chi cản được. Tới đủ rồi, cần ngưng, khắc sẽ phải ngưng, không cách gì thay đổi. Như tụ rồi tan. Như nở rồi tàn.

Như người ta, hữu hạn trăm năm, một kiếp!

**

Giọng văn của người hiền lành, khiêm cung, nhưng vọng lại là sự lớn lao, sự kỳ vĩ trong nghĩ suy, trong tư tưởng. Như núi cao, tự giấu mình đi bằng cách cho cây, cho cỏ, leo lên, từ ngọn xuống đến chân, cắm rễ cho thiệt sâu, vươn cành nhánh cho thiệt dài, trổ sắc màu cho thiệt xanh, để bốn mùa hiu hiu gió mát, để bốn mùa ngăn nước ngàn tuôn, để bốn mùa mây trời phiêu lãng.

Mỗi khi lòng tôi bất an, tôi lại đi tìm những bài viết của thầy Phước An để đọc. Pháp danh của thầy là Phước An, đôi lúc, tôi nghĩ vui vui, đọc được văn thầy, ấy là mình có Phước.

Phước ấy, chính là được An!

Sài Gòn, ngày không còn thầy.

Phạm Hiền Mây

(Nguồn FB)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *