Y sĩ Trung Tá Hoàng Như Tùng – người phụ trách tẫn liệm và chôn cất Tướng Nguyễn Khoa Nam

Y Sĩ TrungTá Hoàng Như Tùng

– Sinh ngày 08-10-1931.

– Mất ngày14-06-2021 tại Texas, Hoa Kỳ.

– Xuất thân : tốt nghiệp Y khoa đại học đường Sài Gòn.

– Ông là Y Sỹ Trưởng Quân Y viện Phan Thanh Giản – Cần Thơ, người đã can đảm ra lệnh đem thi hài Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam về Quân Y viện Cần Thơ tẫn liệm đúng lễ nghi quân cách của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa dành cho một quân nhân anh dũng hy sinh đền nợ nước, khi đối phương đã vào tới Cần Thơ và Sài Gòn đã sụp đổ.

– Ông tập họp quân nhân dưới quyền và làm lễ hạ kỳ tại Quân Y viện Cần Thơ, dưới sự có mặt của đối phương tiếp quản, sau khi đã giới thiệu họ với thuộc cấp và thông báo: “Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, vị anh hùng của chúng ta đã tự sát” (nguyên văn lời ông nói), và yêu cầu mọi người dành một phút mặc niệm, để tưởng nhớ Tướng Nam, đối phương có mặt tiếp quản lúc đó cũng im lặng.

– Khi bị đối phương hỏi vì sao tổ chức tang lễ cho Tướng Nam và chôn ở Nghĩa trang Quân đội, Y Sỹ Trung Tá Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, Hoàng Như Tùng, đã thẳng thắn trả lời: “Đời ông ấy để cho lịch sử xử”.

– Ông đã cùng một Y sỹ quân y khác phẫu thuật lấy đầu đạn M79 chưa nổ trong hốc mắt của một thương bệnh binh VNCH, việc làm này chính phủ VNCH đã tặng ông Nhân Dũng Bội Tinh cho lòng can đảm.

– Ông đi tù cải tạo trên 10 năm, và là một trong những Sĩ Quan QL.VNCH qua Mỹ theo diện HO trễ nhất.

(Nguồn: FB)

**********

Viết Về Một Vị Chỉ Huy Đáng Kính : Y Sĩ Trung Tá Hoàng Như Tùng

HOÀNG DUNG

Nhân ngồi tưởng niệm 45 năm ngày mất nước, tôi được đọc bài nói chuyện của y sĩ trung tá Hoàng Như Tùng về tướng Nguyễn Khoa Nam.  Bài viết đã gợi cho tôi nhiều hồi tưởng và cảm nghĩ.  Dĩ nhiên, bản thân và nhân cách của tướng Nguyễn Khoa Nam cũng như cái chết của ông đã đặt ông lên ngôi cao của những anh hùng.  Nhiều tác giả, cũng như những người cộng sự của ông đã viết về tướng Nam.  Nhưng riêng tôi, tôi cảm thấy tôi cần phải viết đôi giòng về tác giả bài nói chuyện kể trên, y sĩ trung tá Hoàng Như Tùng, hiện đang cư ngụ tại Houston.

Tôi được chỉ định về làm việc tại Quân Y Viện Phan Thanh Giản Cần Thơ khỏang cuối năm 1973, sau khi mãn khóa tu nghiệp Thần Kinh Tâm Lý.  Lúc đó, bác sĩ Tùng làm chỉ huy trưởng, nhưng nhiệm vụ của anh là chỉ huy bao quát đủ mọi thứ để điều hành bệnh viện nên chúng tôi làm việc trực tiếp và gần gũi nhiều hơn với  y sĩ thiếu tá Nghiêm Xuân Tuân, chỉ huy phó kiêm trưởng khối chuyên môn.

Anh Tuân là người đẹp trai, giỏi chuyên môn, nói chuyện duyên dáng, chỉ huy khéo léo nên chúng tôi làm việc rất thoải mái.  Mấy sĩ quan độc thân chúng tôi ở một dãy nhà nhỏ trước cổng trại được anh cắt ra một thương binh thặng số lo vệ sinh và nấu ăn.  Dù rất bận rộn về việc công cũng như tư (phòng mạch anh đông khách nhất Cần Thơ), thỉnh thoảng anh cũng theo chúng tôi đi đánh mạt chược “cho mấy cậu có cơ hội gỡ gạc ” (nhưng thường là nước chảy chỗ trũng).

Vì trực tiếp dưới quyền anh Tuân nên suốt hơn một năm làm việc, ít khi tôi được tiếp xúc gần gũi với anh Tùng, tuy anh cũng ở trong khuôn viên bệnh viện, cách khu độc thân khoảng hơn 200 thước.  Chiều về, hết giờ làm việc, tụi tôi chơi domino, thường thấy hai ông bà kê ghế ngồi tâm tình dưới gốc cây trước nhà.

Không gần gũi nhiều, nhưng vì anh Tùng quá hiền và bộc trực, nên thỉnh thoảng chúng tôi nói chuyện về anh, thường chỉ là những chuyện nho nhỏ  về tính hiền lành của anh (được vui nhộn hóa để cười đùa với nhau).  Chẳng hạn, chuyện một hôm anh  vào làm việc với cái mặt hầm hầm, nói với lính:” Kêu ngay bác sĩ Lâm lên đây” (y sĩ thiếu tá Lâm, trưởng khu ngoại thương, khác với bác sĩ Trần Mộng Lâm, khoa nội thương).  Một lúc sau, bác sĩ Lâm vào văn phòng của ông.  Hai người đóng cửa nói chuyện với nhau một hồi,  thấy bác sĩ Lâm mặt đỏ gay vùng vằng đi ra.  Lúc sau, bác sĩ Tùng cũng đi ra nhưng mặt lại buồn thiu, mắt đỏ hoe (anh em bàn nhau chắc là anh vừa cãi nhau thua).

Một chuyện khác do bác sĩ Phan Vỹ, một đàn anh nhiều lớp của tôi, kể lại:  Hồi xẩy ra vụ biến động Miền Trung năm 1966,  tướng Nguyễn Chánh Thi theo mấy ông “thầy” nổi loạn, quân y viện Nguyễn Tri Phương đóng sát Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1.  Quân Y Viện bị một cổ đôi tròng,  theo Thi hay theo Kỳ ? Theo Thi thì chắc chắn hậu vận không khá, mà theo Kỳ thì tai họa ngay trước mắt.  Chỉ huy trưởng là bác sĩ T. vào Sài gòn khai bệnh ở luôn, đỡ phải chọn lựa.  Chỉ huy phó Hoàng Như Tùng ở lại, dĩ nhiên  sau đó lãnh đủ và được đưa vào Sài gòn để rồi ra Phú Quốc. Nhưng anh lại quen biết tướng Loan, được tướng Loan đưa về Sài gòn bằng máy bay của ông.  Ít lâu sau anh được cất nhắc làm chỉ huy trưởng QYV Phan Thanh Giản và lên trung tá.  Anh Vỹ vừa kể lại cái hoạn nạn trên trời rơi xuống của anh Tùng, bạn anh, vừa cười ngất.

Tuy nhiên, đổi về Cần Thơ trễ, nên muốn mở phòng mạch thì hết chỗ, chỉ huy trưởng của tôi phải qua quận Bình Minh bên Vĩnh Long mở phòng mạch buổi sáng.  Đường xá xa xôi, lại phải qua phà, anh phải đi rất sớm, khoảng 5 giờ sáng để về trước 9 giờ.  Mọi chuyện bình thường cho tới giữa năm 1974, tướng Nam về làm tư lệnh Quân Khu IV, ông này lại hay có thói quen thỉnh thoảng 8 giờ sáng bất chợt đến thăm các đơn vị xung quanh.  Vì các bác sĩ bệnh viện bắt đầu làm việc lúc 9 giờ cho nên, đó là lần đầu tiên vị  chỉ huy trưởng của tôi sang thăm khu độc thân, gặp mấy chúng tôi ưu ái dặn dò là nếu có tin tướng Nam ghé thăm trước 9 giờ, tất cả phải quân phục chỉnh tề sang làm việc “lấy đông làm vui”.  Cũng may, tướng Nam phải đa đoan về chiến sự nên chỉ đến thăm vào chiều ngày 30 tháng tư, 1975.  Vả lại, ông đã áy náy quá đáng, vì bệnh viện làm việc hữu hiệu và tướng Nam rất có cảm tình với Quân Y.  Hồi ở Nhảy Dù, ông đã rất coi trọng anh Trần Văn Tính, y sĩ trưởng của ông nên đã kéo theo anh Tính khi ông về nắm sư đoàn 7.  

Trở lại những ngày cuối tháng tư 1975.  Đó là những ngày sôi động,  nhưng tình hình ở Cần Thơ lại yên tĩnh.  Quân ta vừa mới thắng ở Chương Thiện, kéo về được một khẩu 160 ly.  Quốc lộ 4 vẫn thông thương và có vẻ như tướng Nam muốn đánh đến cùng.  Tuy nhiên, sáng ngày 30/4, khi chúng tôi đang ngồi ăn sáng thì nghe trên đài tướng Dương Văn Minh ra lệnh buông súng. Kể từ lúc đó, chúng tôi mới bắt đầu hoang mang và dự cảm được những ngày đen tối sắp tới.  Trở về bệnh viện, ông chỉ huy trưởng Tùng lại có vẻ bình tĩnh, trấn an anh em, nghĩ rằng hòa bình đã tới, mọi chuyện sẽ không đến nỗi nào.  Anh nói tối hôm qua, đề đốc Đặng Cao Thăng gọi cho anh rủ đi nhưng anh không đi.  Anh Lâm nội khoa cằn nhằn “Thế mà anh không nói gì cho anh em biết”.

Buổi chiều ngày 30, khi các anh khác đã về nhà, tướng Nam vào thăm Quân Y Viện, anh Tùng kêu mấy thằng độc thân đi theo anh đón tiếp.  Anh dẫn tướng Nam đi thăm tất cả các khu trong nhà thương.  Tướng Nam lặng lẽ, ít nói, nhưng vẫn trả lời khi có thương bệnh binh hỏi.  Tôi chỉ nhớ một câu “Tôi ở lại với anh em”. 

Tướng Nam về xong, chúng tôi mò qua doanh trại sát cạnh là Liên Đoàn 74 Quân Y.  Liên đoàn trưởng, bác sĩ Lưu đã đi, để lại văn thư chỉ định y sĩ thiếu tá Nguyễn Khoa Lai, chỉ huy trưởng Trung Tâm Tiếp Huyết  thay thế.  Bác sĩ Lai cũng là người họ hàng của tướng Nam. Khác với tướng Nam nghiêm nghị ít nói, bác sĩ Lai lại  là người xuề xòa, vô tư.  Chúng tôi cùng bác sĩ Lai đánh mạt chược cò con, nhưng đầu óc rối tung, đâu có ai để ý đến ăn thua.  Khoảng 8, 9 giờ tối, bác sĩ Lai nhận được một cú điện thoại của những “người anh em bên kia”.  Có lẽ đã được báo trước, cú điện thoại rất vắn tắt, anh Lai đứng lên nói là họ nhờ anh Lai làm trung gian để tiếp xúc với tướng Nam và anh phải đi.  Trước biến cố lịch sử này, anh Tựu, y sĩ của liên đoàn, xung phong làm tài xế cho anh Lai.  Sòng mạt chược tan và chúng tôi về ngủ.

Những gì xảy ra trong đêm 30 tháng tư, chúng tôi không rõ, chỉ biết là sáng hôm sau, khi ngủ dậy, chúng tôi  được anh Tùng cho biết là khoảng 3 giờ sáng, anh bị Bệnh Viện Dân Y gọi điện thoại đánh thức dậy để sang mổ cho bác sĩ Nguyễn Khoa Lai, bị bắn thủng ruột, còn bác sĩ Tựu thì bị bắn chết, xác bỏ ở một góc đường.  Nhiều năm sau, gặp lại bác sĩ Tùng, tôi cũng quên không hỏi thêm chi tiết về những việc này.  Tôi nghĩ khi hai anh Lai và Tựu trở về vào ban đêm, quân ta đã buông súng nên Việt Cộng đã vào thành phố, hai anh lại chạy xe Jeep nên bị chúng bắn.

Vừa nghe xong tin hai anh Lai và anh Tựu bị nạn, chúng tôi càng bàng hoàng hơn khi nghe tin hai tướng Hưng và Nam lần lượt tự sát.  Anh Tùng sau khi mổ cho anh Lai xong, lại tất tả sang Quân Đoàn và cho chở tướng Nam về Quân Y Viện.  Thi hài ông được đặt ở Phòng Nhận Bệnh.  Chúng tôi, quân nhân cơ hữu và một số thương bệnh binh, tự động đứng sắp hàng lần lượt chào kính vĩnh biệt vị tư lệnh. Ông nằm trên brancard, mặc quân phục chỉnh tề, nét mặt thanh thản, trên tóc còn vương vài vệt máu.  

Khoảng 10 giờ sáng hôm đó, một toán Việt Công khoảng 6, 7 người mặc thường phục vào QYV tiếp xúc với anh Tùng. Những người nói trên chắc chỉ là những người của một toán tiền sát vào thăm dò bệnh viện trước nên hai bên không nói chuyện nhiều và khoảng nửa giờ sau, chỉ huy trưởng Hoàng Như Tùng tập họp tất cả binh sĩ dưới quyền ở sân cờ, giới thiệu những người “anh em bên kia” (!).  Sau đó, anh ra lệnh làm lễ hạ kỳ và rồi, anh chính thức báo tin “thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, vị anh hùng của chúng ta đã tự sát” (nguyên văn lời anh), yêu cầu  mọi người đứng yên, bắt đầu một phút mặc niệm dành cho tướng Nam.  Tôi liếc nhìn mấy tên Việt Cộng xem phản ứng của họ, họ cũng lặng lẽ đứng yên.

Chiều hôm đó, tôi nhớ là một chiều mưa, anh chỉ huy trưởng và dược sĩ thiếu tá Mai Bá Vị lo liệu chu đáo lễ an táng cho tướng Nguyễn Khoa Nam và anh Tựu tại Nghĩa Trang Quân Đội.  Anh Tùng đã kể lại là bác sĩ Lê Văn Thuấn, chủ tịch Hội Hồng Thập Tự Cần Thơ biếu hai quan tài tốt nhất.  Bác sĩ Thuấn cũng là một nhân sĩ trong tỉnh, từng được Cộng sản móc nối, nên chiều ngày 1/5, ông có vào QYV trấn an các anh em và khuyên “nên theo giòng nước mà đi”.  Dù lập trường của ông ba phải, nhưng ông đã tỏ ra quí trọng tướng Nam.  

Sáng ngày hôm sau, 2 tháng 5,  đoàn tiếp thu chính thức của VC do bác sĩ Tám Thiện và chính ủy Chín Quảng vào Quân Y Viện. Họ tập hợp chúng tôi nói chuyện tại phòng họp.  Tám Thiện khệ nệ đeo K54, trấn an mọi người xong thì Chín Quảng lên tiếng khoe khoang những hiểu biết về chủ nghĩa Cộng Sản.  Nhưng sau đó, buổi nói chuyện riêng của họ với anh Tùng chắc chắn nghiêm trọng hơn, vì buổi tối, anh Tùng mò qua trại độc thân nói chuyện với chúng tôi, mặt anh buồn buồn “chúng nó embêter moa quá”.  Người Cộng sản ngoài việc buộc tội anh theo Mỹ Ngụy, lại còn tra hỏi và đe dọa anh về việc anh chôn cất và tưởng niệm tướng Nam. Dù bản tính dễ dãi, anh vẫn thẳng thắn trả lời là “đời ông ấy để cho lịch sử xử”.   Một người hồn nhiên và nhân hậu như anh tất nhiên đã rất thất vọng về những người như thế.  Có lẽ anh đã không muốn nói cho chị biết sợ chị buồn, đành chạy qua tìm mấy thằng độc thân chúng tôi chia sẻ và chúng tôi đã chỉ biết ngồi yên, không biết nói gì..

Sáng hôm sau, 3/5,  một lần nữa, một cảnh thương tâm đã diễn ra, một hình ảnh mà tôi không bao giờ quên là những người chiến thắng đuổi hết những thương bệnh binh dù nặng hay nhẹ ra khỏi bệnh viện, chúng tôi bất lực nhìn theo những thân hình gầy guộc, băng bó còn loang vết máu dìu nhau và cõng nhau ra khỏi bệnh viện mà rơi nước mắt. Thú thật đó là lần đầu tiên tôi được thấy và trải nghiệm được bộ mặt thực của người Cộng sản. Trùng hợp là buổi chiều hôm đó, anh bác sĩ Tám, người miền Nam đi nhậu với chúng tôi, và anh có trách là tôi Bắc Kỳ di cư biết Việt Cộng như thế sao không nói gì cho anh em trong Nam biết. Tôi chỉ biết cười trừ.

Đuổi hết những thương bệnh binh, chúng tôi biết thân phận nên cũng rời khỏi bệnh viện.  Trước khi rời bệnh viện, bộ đội vào lục xét khu độc thân, lấy tài sản những người đã bỏ đi.  Ngoài cái tủ của anh Bình, anh Thăng, không biết chúng lấy được những gì, còn có anh dược sĩ Nguyễn Văn Hầu, cuối tháng tư lòi ra là Việt Cộng nằm vùng.  Nhưng  chẳng may hôm 30 lại đi đâu họp mấy ngày để lại chiếc xe Honda và mấy lạng vàng trong tủ.  Bộ đội hỏi chúng tôi, chúng tôi khai không biết anh đi đâu, chắc là di tản. Tài sản của anh trở thành “tài sản của nhân dân”.  Mấy hôm sau anh về khiếu nại với ban chỉ huy nhưng chắc vô vọng nên anh hỏi chúng tôi mấy anh bộ đội nào trong nhà thương vào lục soát.  Dù chúng tôi biết ai là “nhân dân” nhưng dại gì mà khai.  Anh chửi thề tùm lum.  Đó là cái tin vui duy nhất giữa giờ tuyệt vọng của chúng tôi.

Sau khi rời Cần Thơ về Sài Gòn, tôi đã không nhận được tin anh Hoàng Như Tùng cho đến hơn hai chục năm sau, sau khi anh đã ra tù và sang Mỹ. Tôi rất mừng là sau cả chục năm tù đày, phong thái anh vẫn như xưa. 

Tôi đã viết về vị chỉ huy trưởng cũ của tôi. Tuổi tác và cấp bậc khiến tôi không được gần gũi và biết nhiều về anh, nhưng trong suốt hơn một năm làm việc dưới quyền, tôi đã không nghe một lời tai tiếng, không một ai than phiền, có chăng chỉ là những chuyện vui nhỏ về tính tình hiền lành của anh. Cái gọi là khuyết điểm duy nhất theo tôi là bản chất hồn nhiên và cách suy nghĩ thẳng tuột của anh.  Tháng tư năm 75, anh lựa chọn ở lại, không thể bỏ đơn vị,  giản dị như anh đã từng ở lại Huế năm 1966.  Tướng Nam và anh Tựu mất, trong một hoàn cảnh hỗn loạn, anh đã lo lắng chu đáo lo tang sự cho hai người như lo lắng cho một người thân.  Chỉ có anh mới quyết định cho đơn vị làm lễ hạ kỳ và mặc niệm một cách vô tư vì theo anh, đó là bổn phận của người đơn vị trưởng và của một quân nhân.  Dưới sự đe dọa, anh vẫn thẳng thắn nói ra những gì anh nghĩ là đời tướng Nam sẽ để cho lịch sử xử.  Những người Cộng sản đã trách mắng, bôi lọ và sau đó đã đày đọa anh cả chục năm trời  về những chuyện đó nhưng  tôi nghĩ anh không hề hối hận.

Đó là những gì tôi biết về vị chỉ huy trưởng của tôi, y sĩ trung tá Hoàng Như Tùng.  Một quân nhân gương mẫu, một cấp chỉ huy đáng kính, một con người đôn hậu và … theo cá nhân tôi, một tâm hồn rất trong sáng hồn nhiên.

(Nguồn: Diễn Đàn Cựu Sinh Viên Quân Y Hiên Dịch)

**************

Tưởng nhớ Tướng Nguyễn Khoa Nam

Hoàng Như Tùng

Tướng Nam bên nội thuộc gia tộc Nguyễn Khoa là một họ lớn từ đời Nguyễn Hoàng, thời nào cũng có người tài ba giúp nước. Bên ngoại là họ Nguyễn Phước, hệ vua Minh Mạng nhà Nguyễn.Từ khi ra trường võ bị ông là sĩ quan tài ba trong chiến tranh, chức vụ cuối cùng là Tư lệnh vùng IV chiến thuật kiêm Quân đoàn IV quân lực VNCH.

Ông là quân nhân gương mẫu tài đức song toàn hiếm thấy của quân đội. Ông cũng là người có khiếu về hội họa, âm nhạc và là một Phật tử thuần thành, hiểu sâu về triết lý của thiền. Ông đã thừa hưởng những di truyền tốt đẹp cả bên nội lẫn bên ngoại. Một người bạn thân của ông đã mô tả ông là “con giòng cháu giống” như người Pháp nói “Bon sang ne sait pas mentir.” Khách quan hơn, xin mượn lời một phóng viên kiêm sử gia Pháp là Pierre Darcourt: “Điều đầu tiên làm cho ta chú ý đến ông là ông có vẻ mặt của một chiến sĩ cao quí.”

Còn riêng tôi, duyên nào lại gặp tướng Nam vào những giờ bi đát của lịch sử tại vùng IV chiến thuật?

Tôi vốn là người ở cùng làng với ông, làng Vỹ Dạ, nơi mà tộc Nguyễn Khoa nhiều người cư ngụ. Thuở nhỏ tôi học cùng trường với ông, trường trung học Khải Định Huế, sau ông 4 lớp. Bẵng đi thật lâu tôi mới gặp lại vào tháng 11-1974 khi ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh vùng IV còn tôi thì đang phục vụ tại quân y viện Phan Thanh Giản Cần Thơ. Tôi cảm thấy vui vì được làm việc với người đàn anh đồng hương. Tôi định đến dinh để kính chào thăm viếng nhưng chưa kịp thực hành ý định thì Ban Mê Thuột mất, quân đòan II rút lui hỗn lọan, quân đoàn I vào tay quân cs, chiến tranh lan đến quân đoàn III.

Tướng Nam rất phẫn uất. Ông đã trả lời nhà báo Pierre Darcourt: “Mọi người đang nổi giận, quân đội đang bị hạ nhục.”

Ngày 28-4-1975, gặp tướng Pazzi trong đoàn ngọai giao Pháp tại Cần thơ, tướng Nam nói “Ông làm chứng giùm tôi, quân đoàn IV chúng tôi không thua, chánh trị Saigon đã trói tay chúng tôi, bắt buộc chúng tôi phải thua.”

Tình hình quân sự biến đổi quá nhanh, tôi hoang mang nên tìm đến gặp vị tư lệnh để xin ý kiến.

Câu đầu tiên ông hỏi tôi:
“Quân y có việc gì đó?”

Tôi đáp:
“ Thưa thiếu tướng tình hình đất nước quá xấu. Lãnh thổ quân khu IV có kế hoạch gì không?”

Ông bình tĩnh trả lời:

“Đừng lo, mình vừa đi họp với phái bộ tòa đại sứ Pháp. Sẽ có giải pháp ngọai giao, miền Tây không mất đâu, còn đầy đủ quân số tác chiến.”

Tôi xin phép ra về, không hiểu sao ông lại hỏi:

“ Nếu phải đánh nhau, Quân y tính sao?”

Tôi đáp:
“Xin tuân lệnh.”
Ông nói tiếp:
“Quân y cần gì?”
Tôi thưa:
“Nếu phải chiến đấu thì QYV không có phương tiện phòng vệ để chống lại pháo 122 ly của địch. Xin thiếu tướng cho công binh xây gấp hầm nổi kiên cố để làm phòng mổ và một máy phát điện dự phòng.”
Ông đáp:
“Tôi sẽ ra lịnh thi hành gấp. Có thể sẽ chuyển về Cần Thơ.”

Hầm giải phẫu nổi xây gần xong thì mất nước.

Sáng ngày 30-4-1975 Tướng Nam buồn bã thi hành lệnh thượng cấp. Đại tá Nguyễn đình Vinh, tham mưu trưởng quân đoàn, nghiêm trang nói to:
“Binh nghiệp chúng ta chấm dứt từ giờ phút này, xin quí vị dành cho thiếu tướng tư lệnh và tư lệnh phó lời chào kính cuối cùng.”

“Nghiêm!”

Rồi tan hàng, rã ngũ.

Phần tôi nhiệm vụ chưa hết, tôi trở về đơn vị tiếp tục phần hành chuyên môn vì thương binh vẫn còn nhập viện, lòng buồn vô hạn, ngày mai không còn tự do, cs sẽ dành cho người thua trận những gì? Riêng với các tướng Hưng, tướng Nam và các tướng lãnh khác không di tản, họ sẽ ra sao? Suy nghĩ mông lung mà lệ chảy lúc nào không hay.

Suốt ngày 30-4 vẫn chưa thấy bóng dáng VC. Cần Thơ yên tĩnh một cách khác thường. 5 giờ 30 chiều QYV được tin tướng Nam sắp đến thăm nhà thương bịnh binh. Ông vẫn mặc quân phục tác chiến, áo mũ vẫn còn thêu hai sao đen. Ông hỏi tôi:
“Anh còn ở lại?”
Tôi thưa:
“ Dạ, giống như thiếu tướng vậy.”
Ông nói:
“Anh đưa tôi đi thăm anh em thương binh.”
Hai chúng tôi lặng lẽ đi bên nhau, lòng chĩu nặng. Nhà thương vắng hoe, bịnh nhơn còn lại khoảng 200 người nằm rải rác khắp các trại, những người khác đã tự động về nhà. Ông thăm không sót một ai. Ngay cả trại dành cho thương binh cs ông cũng vào đứng trầm ngâm, không nói một lời. Ôi nhơn hậu!
Tiễn ông ra xe, tôi cầu mong chuyến về dinh bình an. Nếu gặp VC sự thể sẽ ra thế nào?

Đêm 30-4 không yên tĩnh như suốt ngày vừa qua. Quân nhân chưa rã ngũ mang súng bắn chỉ thiên loạn xạ, như để trút hết uất ức, căm thù. Người ta tưởng tướng Nam và tướng Hưng đánh úp VC.

Về khuya tiếng súng im. Đêm rơi vào im lặng, đêm dài tưởng chừng như bất tận. 11 giờ đêm tướng Hưng bắn vào tim quyên sinh tại nhà, vợ con có mặt. Phu nhơn tướng Hưng báo tin ngay cho tướng Nam.

Vào khoảng 6 giờ sáng QYV Phan Thanh Giản được điện thoại từ dinh tư lệnh cho biết tướng Nam đã tuẫn tiết bằng súng lục Browning.

Tôi tuy đã dự đoán trước việc này nhưng vẫn bàng hoàng, đau thương trước cái chết của người anh hùng. Bằng xe Hồng Thập Tự, chúng tôi rước xác thiếu tướng về để làm thủ tục khai tử, khâm liệm và an táng. Lần này đón thi thể của vị tướng tư lệnh là đủ mặt nhân viên QYV còn ở lại đơn vị. Ai nấy đều xúc động, rưng rưng nước mắt.

BS trực Trần quốc Đông (hiện ở Úc) làm tờ y chứng. Thủ tục khám nghiệm đã xong, QYV xúc tiến tang lễ. Kiểm điểm tư trang của người quá cố chỉ thấy:-Một cuốn kinh Phật nhỏ đựng trong một túi nylon.-Một khẩu súng lục hiệu Browning 7.2 mm-Một thẻ bài kim khí cá nhân.

Ba món này đã được bỏ vào quan tài để làm vật lưu dấu phòng thất lạc thi hài người chết.

Toàn thành phố Cần Thơ xúc động vì hai tướng Hưng, Nam tuẫn tiết. Hội Hồng thập tự, do BS Lê văn Thuấn làm chủ tịch, biếu hai quan tài loại tốt nhứt, dành cho tướng Nam và BS Nguyễn văn Tựu, y sĩ đại úy thuộc quân đoàn IV.

Thi thể tướng Nam được trang trọng đặt nằm trên một brancard có trải drap trắng. Ông nằm như ngủ, mặt hiền từ trắng xanh, tay chân còn mềm. Bên cạnh là thi hài của bác sĩ Tựu.Bàn thờ hai vị được thiết lập đơn sơ nhưng trang nghiêm, có nhang thơm nến cháy. Toàn thể QYV buồn bã nghiêng mình tiễn đưa vị anh hùng và người thầy thuốc chết vào giờ thứ 25 của cuộc chiến.

Nắp áo quan đóng lại. Anh em sĩ quan, trong đó có tôi, khiêng quan tài tướng Nam và BS Tựu ra xe dân sự tiến về phía nghĩa trang quân đội Cần thơ. Hướng dẫn xe tang và chỉ huy lễ hạ huyệt do thiếu tá dược sĩ Mai bá Vỵ sĩ quan CTCT thi hành. Một bán tiểu đội cơ hữu của QYV phụ trách việc đào huyệt. Rất may tang lễ được hoàn tất trước khi người của chế độ mới vào tiếp thu BV.

Trước khi bước vào phần kết thúc tôi xin phép được sơ lược nêu lên vài điều đặc biệt trong cái chết của tướng Nam.

1) Thứ nhứt, có một sự trùng hợp giữa tướng Nam và cụ Phan Thanh Giản, kinh lược sứ miền Tây năm 1867, hai vị cùng trấn nhậm miền Tây, hai vị cùng tuẫn tiết khi không bảo toàn được lãnh thổ, và lễ an táng tướng Nam được cử hành tại QYV mang tên Phan Thanh Giản.

Tuy nhiên cũng có một điểm khác biệt. Vì không giữ được 3 tỉnh miền Tây, mặc dầu đã tự sát, cụ Phan đã bị vua Tự Đức và triều đình giận dữ và cho đục tên cụ trên bia tiến sĩ. Còn tướng Nam thì muốn đánh trả quân thù nhưng bị thượng cấp trói tay.

2) Tướng Nam tuy đã chết nhưng hùng khí vẫn còn làm quân địch lo sợ. Họ nghĩ là ông chưa chết, tử thi an táng không phải thật. Họ định quật mồ nhưng đã không làm được. Dân chúng Cần Thơ tin là ông vào lập chiến khu ở trong bưng để chờ ngày phục quốc. Những ai có mặt ở quân khu IV vào những ngày đó đều biết.

3) Chiều 30-4 ông đi thăm các chiến sĩ đang bị thương tật ở BV Phan Thanh Giản, sáng hôm sau, 1 tháng 5, ông là một tử sĩ được chính BV này rước về làm tang lễ. Chiều hôm trước ông đi thăm thương bệnh binh, sáng hôm sau anh linh ông đi thăm các tử sĩ tại nghĩa trang Quân đội Cần Thơ, và ông an nghỉ nơi đây cùng với họ gần 10 năm, cho đến ngày cải táng.

4) Các tướng lãnh tuẫn tiết như tướng Phú, tướng Hai, tướng Vỹ, tướng Hưng có thân nhân lo về chung sự, trong niềm thương đau và không khí gia đình ấm cúng. Riêng tướng Nam, suốt đời binh nghiệp ông sống độc thân, lấy quân đội làm đại gia đình, lấy đơn vị làm tiểu gia đình. Và cuối cùng ông được quân đội và chiến hữu lo tròn tang lễ với lễ nghi quân cách, ấm cúng tình huynh đệ chi binh.

5) Việc cải táng phục tang cho ông mang nhiều chi tiết ý nghĩa. Tháng 2 năm 1984 người em dâu tướng Nam, vợ của cựu thượng nghị sĩ Nguyễn khoa Phước, bào đệ của ông, là giáo sư Kim Đính về Cần thơ bốc mộ và hỏa táng. Những gì QYV Phan Thanh Giản bỏ vào quan tài khi khâm liệm vẫn còn đủ: thẻ bài cá nhơn, cuốn kinh Phật, khẩu súng Browning đã rỉ sét. Khi qua phà Cần thơ bà lặng lẽ khấn vái rồi thả xuống sông Hậu nửa số tro như là thủy táng cho ông để kỷ niệm vùng đất ngày trước ông trấn nhậm, nửa kia đem về thờ ở chùa Già lam, Saigon. Mỗi lần có dịp về Saigon tôi thường đến thắp nhang tưởng niệm.

Tướng Nam đã đi vào lịch sử bằng nhiều bút tích ghi lại biến cố 30-4-75, và không ít thi sĩ đã viết về Người, mà thơ là tiếng nói trung thực nhứt của tâm hồn. Để kết thúc tôi xin mượn bài thơ sau đây của một quân y sĩ quân lực VNCH là BS Hà thúc Như Hỷ viết truy điệu người anh hùng:

Một mai sau
Và mãi mãi muôn đời
Nguyễn khoa Nam
Tên Người còn nhắc nhở
Người anh hùng vị quốc vong thân
Sanh vi tướng, tử vi thần
Một cái chết muôn ngàn lần sống
Một cái chết cúi đầu giặc cộng
Để miền Nam kiêu hãnh ngẩng mặt lên

Cho Hương giang rửa sạch ưu phiền
Và Tiền giang triền miên thương tiếc.”


Hoàng Như Tùng 

nguyên CHT QY Viện Phan Thanh Giản, Cần Thơ.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *