Kính thưa các vị khách quý, các bậc trưởng thượng và những bạn bè thân hữu đang có mặt trong khán phòng chiều tối hôm nay.
Lời đầu tiên, tôi xin được gửi tới toàn thể quý vị lời chào trân trọng nhất và lòng biết ơn sâu sắc vì đã dành thời gian đến đây, để cùng tôi lật mở những trang sách vốn được viết nên không phải bằng mực, mà bằng những mảnh vỡ ký ức, bằng máu, nước mắt và cả tình yêu sâu nặng nhất của cuộc đời tôi.
Nhiều người hỏi tôi: “Cuốn sách ‘My Little Cricket‘ là một câu chuyện cổ tích phải không?”. Tôi luôn trả lời rằng: Không. Đây không phải là một câu chuyện cổ tích. Đây là một sự thật nghiệt ngã của số phận, nhưng trong chính sự thật ấy, một tình yêu đã được thử thách và tỏa sáng.
Cuốn hồi ký này kể về Vy Dân – đứa con trai bé bỏng mang hình hài yếu ớt như một con dế mèn của tôi, và hành trình của hai mẹ con chúng tôi xuyên qua chiến tranh, ngục tù, sự ly tán đằng đẵng và cuối cùng là cái chết của một con người vốn đã mỏng manh yếu ớt về thể xác.
Kính thưa quý vị,
Hơn 40 năm trước, tại vùng đất Đà Lạt lập cập lạnh, tôi đã sinh ra Vy Dân trong cảnh nghèo khó tột cùng của đất nước những năm hậu chiến. Một đứa trẻ thiếu cân, suy dinh dưỡng, chưa một lần được biết đến tấm tã lành hay hơi ấm của chiếc lò sưởi. Cha của Vy Dân đã phải đi bán từng giọt máu của mình để đổi lấy vài hộp sữa, chút thức ăn cho hai mẹ con. Khi đó, chúng tôi còn quá trẻ, nhưng chúng tôi có nhau và có một tình yêu mãnh liệt vì chung một lý tưởng chống CS độc tài
Nhưng giông bão đã không buông tha chúng tôi. Khi Vy Dân mới hơn 1 tuổi, tai họa ập đến. Tổ chức chống Cộng của chúng tôi bị tan vỡ,Cả cha và mẹ đều bị bắt. Đứa con thơ dại của tôi, thay vì được ẵm bồng trong vòng tay ông bà, đã phải theo mẹ bước vào phòng giam tối tăm, chật hẹp và dơ bẩn
Giữa bức tường đá xám xịt của nhà tù, thế giới của con tôi chỉ có màu áo tù sờn rách, có những con vắt đen bám vào chân mẹ ngoài đồng,những bữa ăn thiếu thốn qua ngày. Và những cơn sốt cao không một viên thuốc đã hành hạ thân xác con tôi mòn mỏi.
Thế nhưng, chính trong cái nơi tăm tối ấy, con dế mèn của tôi đã dạy cho tôi biết thế nào là sự kiên cường. Đôi tay con bị bại liệt, vô dụng, nhưng đôi chân con lại vô cùng mạnh mẽ. Con đã dùng đôi chân gầy guộc ấy để ôm lấy eo mẹ, dùng bàn chân nhỏ bé để lau nước mắt cho mẹ, cầm lược chải tóc cho mẹ, và đấm lưng cho mẹ sau những giờ lao động khổ sai kiệt sức. Vy Dân chính là đốm lửa duy nhất giữ cho tôi lòng ham sống, để tôi không buông xuôi trước nghịch cảnh. Mặc dù có những lúc tôi cũng yếu đuối chỉ muốn thắt cổ chết cả hai mẹ con, để thoát khỏi ngục tù khổ nạn nhưng cái đập chân hoảng sợ của Vy Dan đã làm tôi bừng tỉnh. Tôi ôm con tức tưởi Chúng ta phải sống để trở về con trai à.
Rồi một ngày, cuộc chia tay thắt lòng đã diễn ra. Để cứu mạng sống của con, để con có cơ hội được chữa bệnh, tôi đã phải quyết định trao con vào tay một tổ chức nhân đạo phương Tây khi con mới 9 tuổi, với một niềm hy vọng là con sẽ có cuộc sống tốt đẹp hơn , sẽ được chửa bệnh, được học hành, nhưng phải đánh đổi bằng nỗi đau của sự chia cắt mà một đứa trẻ chín tuổi lúc bấy giờ không thể nào hiểu được. Con đã khóc, con nói con không cần thiên đường, con không cần quần áo đẹp, con chỉ cần mẹ. Nhưng vì tương lai của con, tôi đã phải đẩy đứa con tật nguyền của mình đi xa nửa vòng trái đất.
Mười lăm năm đằng đẵng mất liên lạc, mười lăm năm tôi sống trong nỗi dằn vặt nhớ thương con Cho đến một ngày, nhờ sự kỳ diệu của lòng nhân ái và công nghệ, chúng tôi tìm thấy nhau. Vy Dân của tôi lúc này đã là một chàng trai 24 tuổi, đôi chân đã biến dạng hoàn toàn không thể cử động, cách giao tiếp duy nhất là thè lưỡi cho câu trả lời “yes và ngậm miệng cho câu trả lời “No
Nhưng quý vị có biết điều gì đã khiến tôi khóc nghẹn không? Ở đất nước Thụy Sĩ xa xôi ấy, con tôi đã dùng hai ngón chân còn chút cảm giác duy nhất của mình, tỉ mẩn click chuột suốt nửa tiếng đồng hồ chỉ để gõ một dòng chữ gửi cho mẹ: “Je t’aime maman” – Con yêu mẹ. Vy Dan không hề oán trách số phận,con sống bình an giữa những người tử tế, con chịu khó học hành trong khả năng giới hạn của mình, Con đã tự tay thiết kế những tấm thiệp Giáng sinh, bán ở chợ trời vào mỗi cuối tuần để gom góp từng đồng xu, với ý chí mạnh mẽ là phải về lại Việt Nam tìm Mẹ, tự chi trả cho chuyến bay trở về Sài Gòn để đoàn tụ với mẹ sau 15 năm xa cách. Chuyến đi 10 ngày năm ấy chính là khoảnh khắc hạnh phúc nhất, trọn vẹn nhất trong cuộc đời của hai mẹ con chúng tôi. Con đã chứng minh cho tôi và cả thế giới thấy rằng: Hình hài con có thể tật nguyền, nhưng ý chí và tâm hồn con chưa bao giờ bị bẻ gãy. Con giống như biểu tượng của tuổi Tỵ mà con mang – một chú rắn không chân nhưng vẫn có thể bò qua năm cánh rừng, bảy ngọn núi bằng sức mạnh tinh thần bphi thường của lòng dũng cảm
Kính thưa quý vị,
Hôm nay, khi tôi đứng đây để ra mắt cuốn sách này, để kể một câu chuyện về thằng bé đã vượt qua nghịch cảnh để lớn lên, mặc dù Vy Dân của tôi bây giờ không còn nữa. Con đã nhẹ nhàng trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 47 tại Thụy Sĩ, nhẹ nhàng như một tiếng thở dài, như một cơn gió thoảng qua. Con đã rời bỏ chiếc xe lăn, rời bỏ cái thân xác đau đớn để bay về phía cuối cầu vồng, nơi có người cha thân yêu đang chờ đón con, nhưng tôi không nói về cái chết để bi thảm câu chuyện mà nói về Vy Dan đã sống như thế nào trong 47 năm qua.Nó là thằng bé tuyệt vời, nó cho ta biết thế nào là nghị lực là niềm tin là hy vọng yêu thương để luôn hướng về phía trước. Có một sự thật là sau ngày nó mất, người ta tìm thấy trên computer nó một email viết dang dở với dòng chữ Con yêu Mẹ ở dòng cuối cùng chưa kịp bấm sent
Tôi viết cuốn sách này, trước hết là để giữ một lời hứa với con. Tôi đã hứa sẽ trở lại Thụy Sĩ vào mùa thu để mang cho con một chiếc lá vàng. Và tôi đã trở lại, dù con không còn ở đó, tôi đã đến “Khu rừng ký ức” nơi tro cốt của con hòa vào thiên nhiên để thắp nén hương và nói lời xin lỗi muộn màng đến con.
Tôi viết cuốn sách này, còn vì một món nợ ân tình lớn lao. Tôi muốn cúi đầu cảm ơn đất nước Thụy Sĩ, cảm ơn tổ chức Terre des Hommes, cảm ơn những người hộ lý, những tình nguyện viên như vợ chồng Lucine, Martin… những người xa lạ khác màu da, khác tiếng nói, nhưng đã chăm sóc đứa con bất hạnh của tôi bằng cả trái tim và tình yêu thương vô điều kiện cho đến hơi thở cuối cùng. Họ đã chứng minh cho tôi thấy: trên thế giới này, lòng nhân ái không có biên giới.
Và cuối cùng, tôi muốn gửi gắm cuốn sách này đến quý vị độc giả. Tôi không muốn quý vị đọc nó để thương hại cho số phận của mẹ con tôi. Tôi mong rằng, khi khép lại những trang sách này, quý vị sẽ tìm thấy một chút niềm tin, một chút hy vọng, và một sự trân trọng sâu sắc hơn dành cho những người thân yêu đang ở bên cạnh mình. Cuộc sống này có thể đầy rẫy bất công và nghiệt ngã, nhưng chừng nào chúng ta còn tình yêu thương, chừng đó chúng ta còn lý do để sống và vượt qua tất cả.
“Có những giọt nước mắt không cần thông dịch.
Có những tình yêu không cần ngôn từ.
Và có một tình yêu của người mẹ vượt lên trên tất cả.
Mỗi người ra về sẽ mang một cuốn sách trên tay, như một quà tặng của Mẹ con dế mèn, giữ dùm tôi ký ức không thể bị lãng quên, một câu chuyện đã chạm vào trái tim của mọi người có mặt ở đây.
Ngọc Ánh
(Nguồn: Người Phương Nam)


Pingback: SONG THAO – Đọc “con Dế Mèn Của Mẹ” Của Ngọc Ánh – Phạm Tín An Ninh