Tưởng nhớ Thầy Nguyễn Hữu Thứ

( nhân ngày giỗ thứ 20 của Thầy 29.8.2005 – 29.8.2025)

Phạm Tín An Ninh

Năm 1961, Luật sư Nguyễn Hữu Thứ được bổ nhậm về làm Biện Lý Tòa Sơ Thẩm Khánh Hòa, nhờ đó mà trường Võ Tánh Nha Trang có thêm một giáo sư nổi tiếng về tài năng và đức độ. Nhưng có lẽ đa số học sinh Võ Tánh không được biết nhiều về Thầy. Một luật gia từ năm 1945, và cũng là một trong những vị hiệu trưởng đầu tiên của trường Quốc Học Huế nổi danh, khi trường này còn mang tên Khải Định. Có biết bao nhân tài thành đạt sau này là học trò của Thầy, đặc biệt từ những thập niên 1940-1960.

Thầy Nguyễn Hữu Thứ sinh năm 1918 (Mậu Ngọ) tại làng Phổ Trạch, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên. Thân sinh là cụ ông Nguyễn Hữu Tuân, một nhà nho, và cụ bà Công Tôn Nữ Thị Tỵ, thuộc Phủ Quận Công Miên Quân. Sau khi rời trường làng, lên trung học Thầy được nhận vào ký túc xá trường Quốc Học, lúc ấy có tên là Lycée Khải Định. Ban điều hành và thầy cô giáo phần đông là người Pháp. Thi đậu Thành Chung năm 1939 và Tú Tài (Toán) năm 1942, Thầy ghi danh vào Viện Đại Học Đông Dương ở Hà Nội, và đậu Cử nhân Luật năm 1945. Thời gian ở Hà nội là những năm Thầy hăng say hoạt động trong các phong trào ái quốc, hướng đạo.

Trở về Huế, Thầy được tuyển vào Tòa Sơ Thẩm Huế giữ chức Phó Biện Lý. Đồng thời giữa những đợt hô hào “xếp bút nghiên để ủng hộ Nam bộ kháng chiến”, các kỳ thi tuyển mùa khai giảng 1945 được tổ chức cho các lớp Đệ Thất và Đệ Tam chuyên khoa, Thầy ghi danh dạy Công Dân Giáo Dục các lớp Đệ Tam, Đệ Nhị và môn Kinh Tế Học cho lớp Đệ Nhất. Thầy dạy nhưng không nhận thù lao vì thấy trường lúc ấy còn nghèo nàn, thiếu thốn.

Qua nhiều biến cố chiến tranh, quân Tàu sang giải giới quân Nhật, rồi sau đó là chiến tranh với Pháp, ngày 19.12.1946 trường Khải Định đóng cửa để “toàn quốc kháng chiến”. Năm học 1947-1948, đại bộ phận trường Khải Định phải tản cư. Khi dân chúng tránh bom đạn lần lượt hồi cư về Thành, trường đã bị Tây chiếm, Thầy về làng và bị Tây bắt giữ một thời gian. Đầu niên khóa 1948-1949, do lời mời khẩn thiết của chính quyền, đặc biệt là thầy Ưng Quả, nguyên Giám Đốc Học Chánh Trung Phần, Thầy nhận ra làm hiệu trưởng trường Khải Định (Quốc Học), đang trong giai đoạn hết sức khó khăn, phải mượn một dãy lầu của trường Đồng Khánh mở các lớp Đệ Nhị Cấp.

Với bầu nhiệt huyết của một thanh niên trí thức ở tuổi 30, Thầy đã bắt tay vào công việc ổn định trường lớp, củng cố đội ngũ giảng huấn và thổi một luồng gió mới sôi nổi vào sinh hoạt học đường. Thầy mời được những vị giáo sư nổi tiếng, như LM Cao Văn Luận, giáo sư Nguyễn Khắc Du về dạy ở Khải Định. Thầy đòi quân đội viễn chinh Pháp phải trả lại trụ sở Việt Anh để mở rộng lớp học. Cuối niên khóa 1949-1950, các học sinh lớp cuối của trường Khải Định bước vào kỳ thi tú tài toàn phần đầu tiên của nước Việt Nam theo chương trình chuyển ngữ tiếng Việt của giáo sư Hoàng Xuân Hãn. Sau đó, Thầy xin thôi chức hiệu trưởng để trở lại ngành Tư Pháp, theo đúng chuyên nghiệp của Thầy, và cũng để có thêm quyền hạn để đối phó với những áp lực khác.

Hai niên khóa làm hiệu trưởng ở tuổi thanh xuân, ngoài việc đã để lại cho trường Khải Định nhiều thành quả hết sức tốt đẹp, Thầy Nguyễn Hữu Thứ còn mang theo một thành tích đặc biệt khác: đó là cô nữ sinh Đồng Khánh, qua học Khải Định với Thầy, trở thành cô Tú sau kỳ thi năm ấy và sau đó là bạn, là người tình trăm năm và cũng là đồng nghiệp của Thầy: Cô Thân Thị Giáng Châu. Cô cũng từng làm hiệu trưởng trường Đồng Khánh và khi cùng Thầy vào Nha Trang, Cô đã dạy ở trường Nữ Trung Học. Năm 1961, được bổ nhậm về làm Biện Lý tại Tòa Sơ Thẩm Khánh Hòa, Thầy liền được mời vào dạy ở trường Văn Hóa Quân Đội (lớp đêm) và Trung học Võ Tánh. Tại đây, Thầy cũng đã gặp một số giáo sư nguyên là những học trò cũ của Thầy từ trường Quốc Học.

Thầy dạy Công Dân Giáo Dục và Sử Địa cho các lớp Đệ Nhị, Đệ Nhất. Tôi được học Thầy hai niên khóa, lớp Đệ Nhị C (62- 63) và Đệ Nhất C (63- 64). Cung cách của Thầy tỏa ra một cái gì rất đặc biệt. Thông minh, trí thức với đội kính cận, trẻ trung với mái tóc cắt ngắn dựng ngược, viền thêm nét cứng rắn cho một khuôn mặt vốn đã góc cạnh, biểu trưng tính cương nghị, liêm khiết. Nhưng để quân bình với nét uy nghiêm trên khuôn mặt là nụ cười luôn tươi tắn, nhận hậu, hiền hòa.

Phương pháp dạy của Thầy cũng rất đặc biệt, luôn gây sự chú ý và thích thú cho đám học trò. Sách giáo khoa dường như chỉ là phụ, Thầy luôn trau dồi cho học sinh những kiến thức mới, không những trong phạm vi sử học, mà còn về thời sự, đời sống, văn học, phim ảnh, thể thao. Kiến thức của Thầy thật uyên bác và trí nhớ phi thường. Thầy kể rất chi tiết về những sự kiện lịch sử đặc biệt đã xảy ra trên thế giới, Thầy thường điểm qua những phim hay đang chiếu tại các rạp ciné Nha Trang, đặc biệt các phim có dính dáng đến lịch sử. Thầy rất tâm đắc tác phẩm Gone With The Wind (Cuốn Theo Chiều Gió) của Margaret Mitchell được dựng thành phim. Khi phim này trình chiếu ở rạp Tân Tân, có lẽ cả lớp tôi đều đi xem do lời giới thiệu rất lôi cuốn của Thầy, và để sau đó có thể bàn bạc, trả lời những câu hỏi của Thầy. Không những Thầy thuộc lòng cả câu chuyện mà còn nhớ tên từng tài tử thủ vai các nhân vật trong truyện. Lúc ấy, đám học trò chúng tôi thường đến các rạp ciné xin những tờ quảng cáo, giới thiệu các phim mới, để có thể thảo luận với Thầy. Thầy rất tận tình và thích thú giải đáp mọi thắc mắc của đám học trò.

Ngoài ra Thầy rất quí các tập san Thế Giới Tự Do. Thầy bảo trong đó có rất nhiều thứ để học hỏi, mở mang kiến thức. Vì vậy, trong lớp không ai dám dùng báo Thế Giới Tự Do để bao bìa sách vở. Sẽ bị thầy la. Thầy rất thích thể thao, đặc biệt là môn bóng bàn. Đến Nha Trang, Thầy đã gầy dựng hội quán Câu lạc bộ quần vợt. Thầy đã tổ chức nhiều trận đấu thể thao. Bóng tròn: tiếp đội bóng Sài gòn, đội bóng Ninh Hòa, Diên Khánh. Bóng bàn: tiếp nhiều đội từ xa đến và đưa đội Nha Trang, những cây vợt khá như Nga, Hinh, Có…đi thi đấu ở nhiều tỉnh khác, trong đó có Biên Hòa.

Bên cạnh niềm say mê thể thao mà Thầy nghĩ là giúp cho thanh niên sống lành mạnh, Thầy còn nỗ lực tổ chức các cuộc gặp gỡ hữu nghị liên lớp, liên trường, liên tỉnh. Ngoài ra thầy còn đề nghị mở các giải hùng biện, tham gia các tổ chức nhân đạo. Thầy tích cực xây dựng Thanh Thương Hội Khánh Hòa. Rất năng nổ trong việc vận động, lạc quyên, gây quỹ để tổ chức nhiều cuộc cứu trợ đồng bảo thiểu số hay các vùng bị thiên tai trong tỉnh. Thầy được lãnh giải thưởng quốc tế Humanitarian Award của Jaycee International.

Thầy là người rất quý bạn bè, học sinh và kỷ niệm. Ở tuổi nào Thầy cũng có mở các tập lưu niệm. Trong đó có bút tích ngây ngô của bao thế hệ học trò nhỏ dại được Thầy lưu giữ cần trọng cho đến lúc lâm chung. Có người học trò của Thầy đã được ba lần viết trong tập lưu bút của Thầy. Khi còn là học sinh của Thầy, khi trở thành giáo sư đồng nghiệp của Thầy, và cuối cùng là hiệu trưởng của trường Quốc Học mà ngày xưa Thầy đã từng giữ chức vụ này.

Đến đâu. Thầy cũng đảm trách dạy môn Công Dân Giáo Dục. Thầy khao khát được nhìn thấy đất nước, sau thời Pháp thuộc, qua bao cuộc chiến tương tàn, có được những công dân tốt, giàu kiến thức, tính trong sáng, lòng can đảm, khí khái, nặng tinh thần dân tộc và yêu quê hương, tổ quốc. Thầy luôn luôn lo cho thế hệ thanh niên lớn lên, giúp cho họ sống vững chãi, biết phục vụ nhân quần xã hội trong tinh thần từ bị bác ái. Những học sinh của Thầy, qua nhiều thế hệ, đã có biết bao nhiêu nhân tài, cấp chỉ huy lỗi lạc, không chỉ vì thuộc những bài Công dân giáo dục của Thầy, mà còn vì ảnh hưởng từ chính con người, cung cách của Thầy, một kẻ sĩ của dân tộc. Trong việc dạy, Thầy tận tâm, dễ dãi. Với học sinh, Thầy luôn khen nhiều hơn chế, khuyến khích nhiều hơn phạt. Học sinh rất ngưỡng mộ kiến thức thâm hậu, một bộ bách khoa tự điển trong trí nhớ siêu việt của Thầy, nhưng Thầy không bao giờ tỏ ra tự cao, xa cách, mà trái lại, thường giữ một phong cách bình dân, gần gũi với đám học trò.

Bên trong con người có dáng dấp uy nghiêm, cương nghị lại là một tâm hồn rất nghệ sĩ. Thời gian ở Nha Trang. Thầy cũng thường lui tới gặp gỡ đàm đạo với nhà thơ Quách Tấn và đặc biệt là nữ sĩ Tương Phố Đỗ Thị Đàm, mà Thầy gọi là “một cô dâu quí, đa tài của xứ Huế”. Thấy ái mộ nữ sĩ Tương Phố ngay từ khi Thầy còn đang học trung học, được giáo sư Ưng Quả dạy văn học sử đối chiếu với Pháp. Lúc nói đến mỗn phải lãng mạn, thầy Ưng Quả nói một cách đặc biệt về nữ sĩ Tương Phố. Thầy thuộc rất nhiều bài thơ của bà.

Chỉ ở Nha trang bốn năm, đến năm 1965 Thầy trở lại Huế, lần lượt đảm nhận nhiều chức vụ quan trọng ở Tòa Sơ Thẩm Huế và dạy tại các trường Quốc Học, Nguyễn Du, Nữ Hộ Sinh Quốc gia và Lớp Khả năng Luật Khoa. Mùa hè năm 1970, Thầy được Bộ Tư Pháp đề cử đi du hành quan sát các tổ chức Tư Pháp Hoa Kỳ và Anh quốc. Nhân dịp này Thầy viếng thăm Pháp, Ý và Tòa Thánh La Mã.

Cả đời đảm trách những chức vụ cao trong ngành Tư Pháp và Giáo Dục, nhưng Thầy Cô có một đời sống rất bình dị, thanh bạch, luôn xử sự khiêm cung. Ai ai cũng kính mến, cảm phục. Thầy đã chọn một châm ngôn để sống: “Hoạt động – Giúp ích – Lạc quan”. Thầy giải thích:

– Hoạt động: Vì có làm mới có được những gì mình muốn, làm cũng là một cách giải trí, không còn thì giờ làm bậy.

– Giúp ích: Triết gia Jeremy Bentham nói rằng: nên xây dựng hạnh phúc của mình trên hạnh phúc người khác bằng cách giúp đỡ họ.

– Lạc quan: Mưu sự tại nhân thành sự tại thiên. Biết đâu không phải là một trường hợp tái ông đắc mã hay thất mã, nên lạc quan là thượng sách.

Sau tháng 4.75, thầy bị đi “cải tạo” hơn năm năm rưỡi tại Ba Lạch (trên đường mòn Hồ Chí Minh), rồi chuyển đến Bình Điền (thượng nguồn sông Hương). Thầy bị cưỡng bách lao động cực nhọc, nên ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe. Ngay sau khi được thả về Thầy phải mổ hai mắt do bị đục thủy tinh thể, và sau này phải trải qua nhiều cuộc phẫu thuật để nạo tiền liệt tuyến, chữa ruột sa, lấy túi mật. Trước biến cố kéo theo bao nghịch cảnh, Thầy vẫn ung dung, như chưa hề ảnh hưởng đến tâm hồn trong sáng, vị tha của Thầy.

Thầy Cô có ba người con trai và một cô con gái. Tất cả học hành rất giỏi và thành đạt. Trước năm 1975, Thầy cho hai người con trai lớn, Nguyễn Hữu Châu Thụy và Nguyễn Hữu Châu Thi sang du học ở Tây Đức. Người trai út, Nguyễn Hữu Châu Thiều, tốt nghiệp Đại học Y Huế sau 1975, hiện là bác sĩ phục vụ tại bệnh viện Phan Rang.

Năm 1991, Thầy Cô cùng cô con gái út, Nguyễn Hữu Châu Thúy, sang định cư ở Canada theo diện đoàn tụ gia đình. Và cũng từ đó xuất hiện ở Thầy chứng bệnh nan y Parkinson. Nền y khoa tiên tiến ở Bắc Mỹ không thể chữa khỏi mà chỉ ức chế được căn bệnh của Thầy trong mười năm. Từ đầu năm 2000, bệnh tình của Thầy dần dần trở nặng. Tháng 6.2004, người con trai bác sĩ của Thầy sang Canada đưa Thầy Cô về Phan Rang chăm sóc, nhưng bệnh tình của Thầy ngày một nặng thêm. Đến ngày 29.8.2005, Thầy đã trút hơi thở cuối cùng, ra đi về cõi vĩnh hằng, để lại bao thương tiếc cho gia đình bạn bè và nhiều thế hệ học trò của Thầy. Lễ hỏa táng được tổ chức ngày 01.9.2005 tại Nha Trang. Thầy hóa thân tại thành phố mà Thầy đã từng ở đây chỉ có bốn năm, nhưng rất gắn bó với mọi người, đặc biệt là những học trò nhỏ của Thầy.

Dù chỉ dạy ở trường Võ Tánh có bốn niên khóa, nhưng Thầy đã để lại cho đồng nghiệp và nhất là những học sinh của Thầy, hình ảnh một vị thầy tài ba chính trực và nhân hậu, một gương kẻ sĩ mẫu mực. Thầy đã ra đi, không còn trên trần thế, nhưng những lời dạy dỗ và đặc biệt phong cách sống cao đẹp và khuôn mẫu của Thầy vẫn còn mãi lưu lại trong sự thừa tiếp của các thế hệ môn sinh.

Phạm Tín An Ninh
(1C/VT63)

———–

Tham khảo:

Một thời Quốc Học (Nguyễn Hữu Thứ)
– Lưu Hương (Nhóm cựu học sinh Quốc Học)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *