Má quyết định tìm cách đi thăm nuôi anh Ba Tuấn dù chưa có giấy phép thăm nuôi từ trại gởi về. Từ lúc bị chuyển từ trại cải tạo ở Long Khánh lên trại cải tạo Bù Gia Mập ở Phước Long năm 1977, cứ mỗi hai tháng là gia đình nhận được giấy phép thăm nuôi từ trại gởi về. Lần này thì đã hơn bốn tháng mà vẫn chưa nhận được gì cả. Anh Ba Tuấn mang lon chuẩn úy, và vừa được tin thăng lên Thiếu úy nhưng chưa có giấy tờ chính thức thì miền Nam bị mất. Anh đang học nửa chừng lớp mười hai năm 1972 thì phải nhập ngủ theo lệnh đôn quân.
Anh Ba Tuấn trình diện Ủy Ban Nhân Dân phường Châu Thành ở Vũng Tàu theo giấy gọi của chính quyền cách mạng lâm thời. Khu vùng III chiến thuật là khu những người có dính líu tới chính quyền Sài Gòn, bên quân đội hay bên hành chánh, đều bị những người cộng sản Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đối xử với sự thù hằn rõ rệt như một sự trả đũa. Đây là vùng có căn cứ rất mạnh của Việt cộng với các địa danh được biết tới trong chiến tranh như Chiến khu D, Đồng Xoài… Những tên du kích cộng sản non choẹt trong rừng ra thường có thái độ hống hách, hằn học, xấc láo và thù hận đối với những người ra trình diện theo chỉ thị của chính quyền cách mạng lâm thời, thường là đáng tuổi cha anh của chúng. Sự thù hằn này thấy rõ trong chính sách cải tạo hà khắc của chính quyền cách mạng địa phương gồm những tên Việt cộng nằm vùng tại Vũng Tàu và các tay du kích trong rừng nay ra nắm chính quyền.
Hơn bốn tháng qua mà không nhận được tin gì từ anh Ba Tuấn, má bắt đầu lo sợ, không biết có chuyện gì xảy ra, nhất là lúc này nơi biên giới phía tây đang không được yên vì cuộc chiến giữa cộng sản Việt Nam và lực lượng Khmer Đỏ của Kampuchea. Khi má biết được là có một người vợ của một sĩ quan đang ở cùng trại cải tạo với anh Ba Tuấn có được giấy thăm nuôi, mà nhà chị cũng ở khu chợ Vũng Tàu gần nhà tôi, má vội đến hỏi thăm. Má xin chị giúp đỡ, cho một người trong gia đình giả bộ là em chị theo chị để lên trại thăm nuôi. Chị rất tốt bụng, đồng ý giúp đỡ. Chúng tôi chuẩn bị đồ ăn tiếp tế cho anh trong cuộc đi thăm nuôi không có giấy phép này mà không hề hay biết những khó khăn mà tôi vượt thoát được. Phải, tôi là người được chọn để đi thăm nuôi.
Phước Long là một tỉnh nằm trên đuôi ở phía Nam của dãy Trường Sơn, giáp biên giới với Kampuchea, cách Sài Gòn khoảng 100km về phía Bắc. Phước Long, là khu rừng núi khét tiếng mà ngày xưa được gọi là Bà Rá, được biết đến như là một ổ của bệnh sốt rét và các bệnh nhiệt đới với núi rừng rậm rạp. Chúng tôi phải đi Bình Dương trước, ngủ ở bến xe Bình Dương một đêm, rồi từ Bình Dương đi Phước Long ngày hôm sau.
Núi Bà Rá ngày ấy
Sau khi chiếm lấy Sài Gòn và sử dụng hết số xăng dầu dự trữ của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, nay đối diện với tình trạng xăng dầu cạn kiệt và nguồn cung cấp xăng dầu hiếm hoi, các phương tiện chuyên chở tư nhân dưới danh hiệu hợp tác xã được nhà nước cho phép tu sửa các xe chạy bằng xăng dầu thành các phương tiện vận tải chạy bằng… than. Các phương tiện chuyên chở này nuốt con đường 200km từ Vũng Tàu đi Bình Dương hết 10 tiếng đồng hồ.
Ngày đầu, chúng tôi gồm có vợ của anh sĩ quan cải tạo và đứa con nhỏ của chị, cùng tôi lên đường đi Bình Dương từ rất sớm. Đến Bình Dương thì đã quá 2 giờ trưa, quầy vé đã đóng cửa nghỉ. Mỗi ngày chỉ có 2 chuyến xe đi Phước Long từ Bình Dương nên vé thường bán hết trong buổi sáng, và phòng vé đóng cửa nghỉ từ lúc đó. Chúng tôi nhập bọn với những người không mua được vé trong ngày đang xếp hàng giữ chỗ trước quầy vé. Chúng tôi mướn một manh chiếu nhỏ trải xuống đất để giữ chỗ của mình. Có giữ được chỗ thì chúng tôi mới có hi vọng mua được vé đi Phước Long vào sáng sớm ngày hôm sau. Sau khi thu xếp ổn thỏa, chúng tôi thay phiên nhau đi tắm rửa và phải luôn có ít nhất một người lớn ngồi trên chiếu để giữ chỗ, tránh những kẻ chen ngang.
Trong phạm vi bến xe không có nhà tắm cho dịch vụ tắm rửa nên chúng tôi phải đi ra khu nhà dân chung quanh bến xe để tắm và đi vệ sinh. Chúng tôi không dám ngủ ở nhà trọ nơi bến xe vì phải luôn có mặt trước quầy vé để giữ thứ tự của mình. Đêm đó ba người chúng tôi, hai phụ nữ và một em bé năm tuổi, chập chờn ngủ trên tấm chiếu cũ trước phòng bán vé, không mền mùng chiếu gối gì cả, và phải ôm khư khư hành lý trong tay vì trộm cắp nơi bến xe hoành hành dữ dội lắm.
Sáng sớm hôm sau, chúng tôi mua được vé đi Phước Long. Khi chúng tôi đến trại cải tạo thì đã quá mười hai giờ trưa. Từ nơi xe đò ngừng để thả khách xuống đến nơi tiếp tân của trại cải tạo là một khoảng đường dài. Dọc đường đi, tôi thấy bóng dáng những người tù cải tạo thấp thoáng trong cánh đồng khoai mì, hướng tầm nhìn về phía chúng tôi khi chúng tôi đi ngang qua. Ngay sau cánh đồng khoai mì là rừng, xanh thẩm, đen tối, âm u và đầy đe dọa. Ở những khoảng không có mặt cán bộ, mấy người cải tạo tìm cách tiếp xúc với người đi thăm nuôi để được biết ai may mắn được gia đình lên thăm nuôi. Tôi cũng xoay xở nhắn được với một người cải tạo có biết anh Ba Tuấn để cho anh biết là tôi có lên thăm anh dù không có giấy phép.
Khoảng một tiếng đồng hồ sau khi chúng tôi đã đến khu tiếp tân và vẫn còn đang chờ cán bộ ra làm giấy tờ đăng ký thăm nuôi thì một người tù cải tạo đến để tìm gặp tôi. Anh không nói gì nhiều, chỉ cho biết là anh Ba Tuấn không thể ra gặp tôi lúc này nên đã nhờ anh ra để giúp tôi. Anh bảo tôi đi theo anh, vẫn không nói gì nhiều. Anh dẫn tôi ra khỏi khu tiếp tân, băng qua cánh đồng khoai mì, đi vào rừng. Sau khi tìm được một chỗ vừa ý dưới một gốc cây to ở một khoảng rừng thưa, anh lôi ra một miếng poncho nhựa, trải miếng poncho lên mặt đất, bảo tôi ngồi xuống rồi bắt đầu giải thích tình hình cho tôi rõ.
Sau khi chiến tranh bộc phát giữa Việt Nam với Khmer đỏ, vì tình hình biên giới không ổn định nên các cuộc thăm nuôi định kỳ đều bị ngưng lại, ngoại trừ vợ thăm chồng thì vẫn được cho phép. Nếu gia đình của người cải tạo đến thăm không có giấy phép và bị bắt gặp thì cả người đi thăm và người được thăm đều bị nhốt dưới hầm tối, riêng biệt. Người đi thăm sẽ được thả cho về ngày hôm sau nhưng người cải tạo sẽ bị trừng phạt nhốt dưới hầm ít nhất là một tuần lễ.
Anh Ba Tuấn sợ tôi bị bắt và nhốt dưới hầm nên nhờ người bạn tù này ra khu tiếp tân trước khi cán bộ đến làm giấy tờ, và dẫn tôi vào trốn trong rừng. Anh bạn tù giải thích cho tôi biết là anh có thể tự do đi lại đây đó vì anh đang được cho làm việc nhẹ, nhưng anh sẽ phải trở về trại liền để trình diện với cán bộ. Anh để lại cho tôi một ít đồ ăn khô, và nói tôi phải cố gắng đừng để bị muỗi cắn. Anh dặn dò tôi trước khi anh đi về trại là anh sẽ trở lại để đưa tôi trở về khu tiếp tân khi tình thế an toàn. Rồi anh lẫn vào rừng, biến mất.
Tôi không biết phải làm gì ngoại trừ kiên nhẫn ngồi chờ anh trở lại. Tôi kéo tay áo xuống, nhúc nhích động đậy tay chân thường xuyên để tránh bị muỗi cắn. Tôi chờ, và chờ, và chờ…
Mặt trời vừa xuống. Vầng trăng tròn vành vạnh đang lên, vầng trăng mười sáu. Rừng xanh chung quanh tối hơn, đe dọa hơn với những tiếng động xa lạ mà chúng ta không hề nghe được nơi phố chợ. Ánh trăng loang loáng nhuộm bạc mọi thứ, cành lá, cây cỏ, mặt đất gập ghềnh nơi khu rừng thưa khiến cảnh vật thêm huyền hoặc mờ ảo. Tôi không biết tôi chờ bao lâu, nhưng với tôi thì như vô tận, như mãi mãi… Rồi ánh trăng dần dần bị mây đen che khuất. Không khí trở nên nặng nề ngột ngạt đầy hơi ẩm. Cánh rừng thưa nay phủ một màu tối đen đầy đe dọa đáng sợ chứ không còn loang loáng màu bạc. Thiên nhiên đang chuẩn bị cho một cơn mưa lớn. Tôi cảm thấy rất sợ. Sợ rừng. Sợ màn đêm. Sợ bóng tối. Sợ mưa. Sợ ma. Và sợ một mình…
Tôi gần như nhảy dựng lên khi tôi nghe một tiếng động lạ ngay bên cạnh tôi. Người tù cải tạo đã trở lại, đem theo đồ ăn nóng mà anh Ba Tuấn đã nấu cho tôi. Anh bảo tôi ăn hết đồ ăn, rồi anh sẽ đưa tôi trở về khu tiếp tân vì cán bộ đã làm xong thủ tục đăng ký thăm nuôi khi trời còn sáng và đã trở về trại để ăn cơm, không còn ở khu tiếp tân nửa. Trước khi trở về trại, anh cho tôi biết anh sẽ để tôi ở lại nơi khu tiếp tân và anh Ba Tuấn sẽ trốn ra khu tiếp tân sau khi cán bộ đã điểm danh người đi thăm nuôi vào ban tối trước khi đi ngủ.
Khi về đến khu tiếp tân, anh dẫn tôi đến một gian phòng nhỏ vách bằng tranh trong dãy phòng phía bên trái. Nơi tiếp tân để gia đình người thăm nuôi và người cải tạo gặp gỡ nhau có ba dãy nhà tranh dài quay thành hình chữ U, được ngăn ra làm nhiều phòng nhìn ra một cái sân chung. Mỗi phòng nhỏ xíu được ngăn cách với nhau bằng tấm phên tranh. Phòng thì nhỏ, chỉ có được một cái giường bằng tre, và một khoảng trống không lớn lắm, rồi tới cái cửa ra vào làm bằng phên tre. Anh dẫn tôi vào phòng kế phòng cuối ở dãy bên trái và căn dặn tôi ở đó để chờ anh tôi, không được đổi qua phòng khác vì anh Ba Tuấn sẽ đến phòng này để tìm tôi. Anh chỉ dẫn tôi cách tránh cán bộ để không bị bắt khi họ ra nơi tiếp tân để điểm danh người đi thăm nuôi trước khi đi ngủ. Theo chỉ dẫn của anh thì tránh cán bộ cũng không khó lắm vì tụi cán bộ thường làm việc theo trình tự nhất định: tập trung điểm danh trước, rồi khám xét các phòng, bắt đầu từ dãy bên phải, và tất cả đều làm dưới ánh đèn dầu tù mù. Sau khi căn dặn cặn kẽ, anh để tôi ở lại căn phòng nhỏ đó và trở vào trại.
Lại chờ đợi! Tôi ngồi trên chiếc giường tre nhỏ, hồi hộp chờ cán bộ ra điểm danh. Khi nghe có tiếng lao xao, tôi lén nhìn qua kẻ vách và thấy mọi người đang tập trung ở sân giữa, còn tên cán bộ thì gọi tên từng người theo danh sách đăng ký. Xong phần điểm danh, tên cán bộ bắt đầu đi xét các phòng, dãy bên phải bị xét trước. Tôi ước tính thời gian hắn ở trong phòng để lục xét, rồi khi hắn ta xét đến dãy giữa, tôi lợi dụng thời gian này mà đi ra nhập vào nhóm người đang đứng đợi ở giữa sân. Sau khi tên cán bộ thi hành xong nhiệm vụ, hắn trở vào trại, mọi người về phòng mình.
Một lúc sau thì trời bắt đầu mưa. Căn phòng dột khắp nơi! Tôi mặc áo mưa poncho vào, ngồi ở một góc giường ít dột nhất mà chờ anh tôi. Khi anh tôi ra đến chỗ tôi chờ thì chắc có lẽ đã khuya. Bây giờ thì mưa rơi rất nặng hạt. Hai anh em tôi lựa chỗ ít dột nhất mà ngồi, mỗi người một góc giường. Anh hỏi thăm về chuyện gia đình như, làm sao mà chúng tôi đối phó với hiện tình của gia đình khi ba tôi đang học tập cải tạo ở miền Bắc và anh đang trong trại ở trong Nam. Hỏi chỉ để mà hỏi vậy thôi vì anh đã biết mọi việc trong gia đình trong những lần thăm nuôi trước rồi.
Mưa xối xả. Tiếng mưa nghe như bầu trời sắp sập xuống. Những chỗ dột thấm ướt cả sàn phòng. Thỉnh thoảng nghe vọng lại tiếng ầm ì mà tôi tưởng là tiếng sấm nhưng anh Ba Tuấn nói không phải, mà là tiếng đại bác nơi biên giới. Đêm thật dài và đẫm ướt trong tiếng mưa rào, ở một nơi trú ẩn thật hoang sơ, xa cách mọi tiện nghi văn minh phố chợ, trên một vùng núi non rừng rú xa lạ… Tất cả những điều này làm cho đêm thăm nuôi đó cứ như một giấc mơ chứ không phải là một thực tại tối đen ướt át đối với tôi.
Chúng tôi không có ngủ nghỉ gì được cả vì hầu như mưa suốt đêm.
Tiếng gà gáy xé rách không gian yên tỉnh để báo bình minh đang đến, mặc dầu chung quanh vẫn còn tối đen như mực. Đã đến lúc anh Ba Tuấn phải trở về trại. Anh nói đi nói lại với tôi là không được cho bất cứ ai lên thăm anh nếu không có giấy phép. Anh giải thích là không phải anh sợ bị nhốt dưới hầm tối, mà là anh sẽ không thể chịu đựng được khi biết người nhà bị nhốt dưới hầm, dù chỉ một đêm. Rồi anh lẫn vào bóng đêm biến mất. Khi trời sáng hẵng, tôi nhập bọn với những người thăm nuôi khác để ra bắt xe đò về Bình Dương trước khi cán bộ ra làm việc.
Anh Ba Tuấn được chuyển về trại Hàm Tân, tỉnh Bình Tuy năm 1980 và được thả về năm 1981. Anh bị tù đày tất cả sáu năm, hai năm ở Long Khánh, ba năm ở Phước Long và một năm ở Hàm Tân. Và anh chỉ mang lon chuẩn úy.
Năm 1983, ba tôi được chuyển từ trại Hà Nam Ninh ở miền Bắc về trại Hàm Tân trong Nam, ở cùng một trại nơi con trai mình đã ở vài năm trước đó. Ba tôi được cho về năm 1985. Ông quyết định không đi Mỹ theo chương trình HO dù ông có tên trong danh sách HO thứ ba do chính phủ Mỹ đưa ra. Ông chọn đi Úc theo bảo lãnh của các con.