Mấy Dấu Thư Hương

      No Comments on Mấy Dấu Thư Hương


* Phạm Quốc Bảo.


Lời mở đầu:
Trước hết, xin mạn phép được ghi nhận ở đây rằng kể từ mấy năm nay khi tôi bước vào lớp tuổi 80, trong những người bạn cũ thường gặp gỡ có hai nhân vật là anh Đào Ngọc Phong, cùng học ban Triết Tây, một bạn cùng thời Văn Khoa nhưng học ban khác là anh Nguyễn Thanh Sơn, người có ký ức về các sự kiện đã qua đặc biệt nhớ vào chi tiết, đâu vào đó..và mới nhất, có anh Nguyễn Hiền định cư bên Hòa Lan ( Holland, Âu châu), hiện đang chủ trương website CÁI ĐÌNH.  Cả ba nhân vật này đã bổ túc một số chi tiết để nội dung bài dưới đây được  chính xác và phong phú hơn. Trân trọng cảm ơn.

I-
Hôm thứ Năm mùng 9 tháng Tư năm 2026, tôi nhận được điện thư (email) của chị Phạm Minh Tâm [1] ở bên Úc Đại Lợi gửi qua. Chị vốn là một trong những thân hữu cũ  cùng học tại Văn Khoa Sài Gòn từ mấy năm đầu thập niên 1960. Cho đến nay, nhóm này họa hiếm chỉ còn lại chừng độ bốn năm người định cư rải rác ở Pháp – Úc – Hoa Kỳ.
Thi thoảng trong năm khi có một vài sự kiện nào xem ra đánh động tâm tư tới những vấn đề cần trao đổi, chị Tâm  mới liên lạc để chia xẻ với bằng hữu, trong đó có tôi. Lần này, điện thư của chị có tiêu đề “chữ nghĩa”; tôi xin chép ra đây mấy ý chính, như một cách mào đầu câu chuyện mà tôi muốn đề cập tới trong bài này:
“… Email vừa gửi đã quên chia sẻ chút chuyện vui về chữ nghĩa bên nhà bây giờ: Họ cứ tỉnh bơ theo nhau dùng mà bất phân nghĩa lý. Chẳng hạn, chữ thập niên và thập kỷ [2].
–       Thập niên là khoảng 10 năm giữa hai mốc thời gian cố định…Chẳng hạn, thập niên 1990 hay 90 là từ năm 1991 đến năm 1999.
–       Thập kỷ là 10 thế kỷ. Từ điển cả Hán lẫn Việt xưa nay đều không có chữ “thập kỷ” này dùng theo nghĩa là khoảng thời gian 10 năm. Vậy mà bây giờ người ta khơi khơi bắt chước nhau thành thói quen viết mới, bỏ chữ “thập niên” thay bằng “thập kỷ”… Anh Phạm Quốc Bảo ơi, nhớ thầy Nghiêm Toản quá. May mà Thầy không còn để bị chứng kiến cái ông tiến sĩ này giảng

Ngoài ra, tôi cũng mới đọc đâu đó một bài “khảo cứu sưu tầm”,  nêu tên một tác-giả a, b, c, đ… nào đó với danh hiệu “nữ nhà văn” …Trách gì cách đây ít lâu có bà Nguyễn Thị Tịnh Thy, nghe nói đang dạy Đại-học Sư-phạm Huế, đã phải viết bài “Hãy cứu lấy tiếng Việt”…Song thực tế với các loại lãnh đạo và trí-thức ( kiểu như nêu ở trên) ấy thì trời cứu cũng chẳng được nữa là!”

*
Cọ sát & phản ứng.

Hằng ngày mà đọc được điện thư nào của mấy thân hữu cũ cùng một thời học với nhau một cách hiếm hoi còn sót lại đến giờ, tôi quý lắm. Lần này cũng vậy,  nhân dịp nhận được điện thư của chị Tâm tôi cũng muốn khề khà , như nhấp một ngụm trà đậm, để tâm tình thoải mái thổ lộ:
Những sai khác đại loại như hai điểm chị Tâm muốn chia xẻ ở trên, thực ra tôi nghĩ rằng chị ấy cũng đã chứng kiến quá nhiều lần rồi, bây giờ đến lúc bực bội quá thì chị phải bật thành cái cớ để gián tiếp thăm hỏi bạn hữu mà thôi. Có lẽ vậy nên  điện thư chị gửi cho tôi mới có nội dung như thế. 
Là người tiếp nhận, tôi đồng ý với phương thức và thái độ phản ứng của chị.
Thực ra hiện tượng xử dụng sai khác về chữ nghĩa đại loại như thế đã thường xuyên xuất hiện liên tục trên mạng lưới truyền thông cả nửa thế kỷ qua, giữa các cộng đồng người Việt trong nước lẫn hải ngoại. Nhưng điểm đáng lưu ý ở đây là thực tế chứng minh rằng những phản ứng xem ra nhiều khi quá gay gắt và được biểu lộ qua những từ ngữ thô tục đến độ…, cá nhân tôi cho rằng không nên như vậy: Thứ nhất là chẳng tạo nên được một lợi ích gì cho ai, nếu không muốn nói là phản ứng như thế chỉ lộ ra những giới hạn về hiểu biết – yếu kém về tư cách của vị thế người phản ứng; hơn nữa, còn đào sâu thêm hố ngăn cách không thể giải tỏa nổi trong giao tiếp giữa người với người, nói chung.
Cuộc sống của bất cứ dân cư nào trên thế giới này cũng luôn thường xuyên sinh động: Mọi sự – mọi vật theo lẽ thường hằng, dù muốn hay không, bắt buộc phải biến đổi, cả ở không gian lẫn trong thời gian. Rồi khi thay đổi như vậy, mọi thứ còn được điều chỉnh bằng chính thực tế ứng dụng để có thể tồn tại trong xã hội và đời sống dân cư, khiến hiện tượng nào không phù hợp, không được đa số chấp nhận nữa thì sẽ tự khắc thui chột đi, hoặc sẽ trực tiếp lại thay đổi bằng cách nào đó để có thể lưu trữ lại.

Văn Khoa sàigòn (1954-67)
đường Nguyễn Trung Trực


* Được cớ khêu gợi tâm tình.


Nhưng có một điểm quan trọng ở đây là cái câu chị Tâm viết: “…nhớ thầy Nghiêm Toản quá.” Một nhắc nhớ gồm chỉ có mấy chữ này nhưng tức khắc trở nên căn cớ đột nhiên ‘ bứt dây động rừng’ khiến ký ức đã được ấp ủ trong tiềm thức của tôi từ lâu, bây giờ chúng cứ thế mà liên tiếp bật dậy, linh hoạt – sống động tuôn trào ngập tràn cả tâm tư của tôi lúc này.
“…thầy Nghiêm Toản?” Cá nhân tôi thì chỉ được nghe nhắc đến tên thầy chứ chưa hề được trực tiếp học thầy…Nhưng dù cho tình cờ mà nghe chị ấy nhắc tới tên thầy, tôi lại như thấy ra rằng chị ấy  muốn nhắc đến cả một thời chúng tôi cùng học ở phân khoa này; trong ấy có cả những năm Dự Bị Văn Khoa lẫn các chứng chỉ như Văn Chương Quốc Âm và Văn Minh Việt Nam mà thầy Nghiêm Toản là một trong những giáo sư đã từng giảng dạy ở phân khoa này. Nếu quả như tôi đoán đúng như vừa thổ lộ ở trên thì niên khóa bắt đầu học ở phân khoa này, ai cũng phải trải qua năm dự bị. Tôi cũng vậy, không khác. Tôi đã ghi danh theo ban Triết để được chính thức chấp thuận vào học tập tại trường này… Và tức khắc, tôi nhớ liền đến linh mục Larre, giáo sư gốc  người Pháp. Đặc biệt là ông thầy Larre giảng bằng tiếng Pháp mà lại được cho dạy Hán văn ở năm dự bị, thời tôi theo học. Và vị phụ tá giáo sư Larre lại là  ông Trần Đức Rật [Nghe nói đúng lúc ấy ông Rật đang được linh mục Larre đỡ đầu để làm tiểu luận cao học.] Đặc biệt hơn nữa, suốt niên học ấy, giáo sư Larre chỉ một mực chọn những bài thơ thuộc dòng  Đường Thi, suốt từ đời Tùy cho đến triều đại Thanh bên Trung Hoa để dạy Hán văn! 

* Mấy nét chấm phá
Nhưng đấy chỉ là sự hiện mở đầu để ký ức tôi bật ra về những nét riêng biệt của những vị giáo sư khác mà tôi đã được thụ huấn thời ấy mà hiện còn đọng lại sắc nét trong kỷ niệm của riêng tôi. Những nét này làm như khi có dịp va chạm tới thì tự nhiên chợt hiện ra vài chi tiết; có khi chỉ là một hình tượng đơn giản với vài câu chú thích mà thôi. Chẳng hạn như:
– Cụ Tú Riễm [3], cái lưng cụ đã gù. Cụ thường bước từ xe xích lô đạp đến đậu ngay trước cửa bước qua thềm là vào tới sảnh đường của khuôn viên trường.
– Hình ảnh vị khoa bảng xưa còn xót lại với trang phục luôn luôn khăn đống – áo the đen dài của cụ Nghè ( tiến sĩ) Nguyễn Sĩ Giác. Cụ đã được người con cả ( trông thoáng qua chúng tôi tạm đoán ra người con này của cụ còn lớn tuổi hơn nhiều so với đa số bọn sinh viên nhóc chúng tôi lúc ấy) chở tới trường, lúc thì bằng xe mobilette, cũng có lúc chỉ bằng xe đạp…
Chưa hết! Ký ức tôi còn lưu trữ những nét khá thú vị và rõ nét về các vị giáo sư khác nữa. Chẳng hạn:
– Thi sĩ Đông Hồ dạy chứng chỉ Văn Chương Quốc Âm có dáng dấp thư sinh nho nhã, bao giờ cũng ăn mặc complê – cravát tề chỉnh và dường như cũng là một trong những vị giảng viên  rất hiếm hồi ấy  đến trường bằng xe hơi nhà.
Gia đình ông có một tiệm sách lấy tên là Yểm Yểm Thư Quán [4]. Sinh viên chúng tôi đến thăm bao giờ cũng phải đợi gần nửa tiếng đồng hồ: Ông bận bộ quốc phục – áo the – khăn mũ , ra ngồi bàn thấp có sẵn bộ ấm tách trà đâu vào đó rồi mới chịu tiếp chúng tôi!
– Học giả Vương Hồng Sển dạy chứng chỉ Văn Minh Việt Nam. Ông kể chuyện về những kinh nghiệm sống động của đời ông rất hấp dẫn bọn sinh viên trẻ chúng tôi, đặc biệt là mỗi khi đề cập đến đồ cổ xưa và sách xưa. Ông sống với vợ là bà Năm Sađéc, một kịch sĩ nổi tiếng thời ấy, tại một nhà vườn rộng xum xuê cây trái trên đường Lê Quang Định bên Gia Định. Sinh viên thường được mời tới nhà ông chơi cả ngày, ăn bánh canh giò heo do bà Năm Sa Đéc tự tay nấu đãi, vừa tản bộ quanh  khu vườn vừa nghe ông lan man kể những chuyện thời ông làm thư ký tòa tỉnh ở miền Nam, hoặc chuyện ông thường gặp may mắn thu thập được nhiều đồ cổ giá trị không ngờ…

* Những tia sáng chợt lóe lên
Tuy nhiên, cũng có những giáo sư khi được nhắc đến thì chỉ còn sót lại trong ký ức của tôi một vài chi tiết mơ hồ; nhưng không ít vị lại có những chi tiết vô cùng quan trọng lắng đọng trong trí nhớ của cá nhân tôi. Chẳng hạn như:
– Giáo sư Trần Văn Toàn đã giảng dạy môn Duy Vật Biện Chứng Thuyết của Karl Marx nhưng ông đã sớm rời trường, độ năm 1965 (?) và nghe nói ông được sang dạy ở một đại học thuộc quốc gia Ma Rốc (Morocco, phía đông bắc Phi Châu), rồi sau đó không trở lại dạy nữa.
– Ở chứng chỉ Triết Trung Hoa, hai vị giáo sư có những chi tiết đặc biệt mà cá nhân tôi còn nhớ đến tận bây giờ:
Thứ nhất là linh mục Bửu Dưỡng. Nghe nói rằng mấy chục năm trước đấy vị giáo sư này chuyên giảng dạy các môn luận lý – đạo đức – siêu hình tại các khóa huấn luyện linh mục trong hệ thống nhà dòng Thiên Chúa giáo. Nhưng thời tôi học thì linh mục Bửu Dưỡng đặc biệt lại sang dạy sách Đại Học (thuộc bộ Tứ Thư: Đại Học – Trung Dung – Luận Ngữ – Mạnh Tử). Theo như ông thổ lộ rằng tâm nguyện ấp ủ từ lâu của ông là truyền đạt lại cho thế hệ trẻ chúng tôi những suy tư của ông về nền triết học Đông phương. Chính nhờ tâm tình này mà tôi đã bỏ ra một niên khóa để lấy thêm 2 chứng chỉ Triết Trung Hoa và Triết Ấn Độ cho có được cơ hội xin làm cao học Triết Đông Phương.
Thứ nhì là  giáo sư Nguyễn Văn Ba. Ông vốn tốt nghiệp bác sĩ tại Pháp nhưng về sống tại Sài Gòn. Lúc dạy chúng tôi, ông đang làm chủ một tiệm thuốc bắc (lâu quá rồi tôi quên mất tên tiệm) nằm trên đường Phan Đình Phùng, khúc giữa hai đường Lê Văn Duyệt và Cao Thắng. Vào độ giữa thập niên 1960, một khu được phép xây cất thành khu biệt thự gọi là Làng Đại Học tại vùng đất phía bên trái dọc theo xa lộ Biên Hòa – vừa qua nhà máy xi măng Hà Tiên, nếu đi từ hướng Gia Định xuống Biên Hòa, thuộc quận ngoại thành Thủ Đức. Vừa qua hai đợt Việt Cộng xóa giao ước để tấn công (gọi là Tổng tấn công) vào dịp Tết Mậu Thân, vào khoảng độ tháng năm – tháng sáu gì đấy, năm 1968, trên đường đi dạy học về, tôi tình cờ gặp thầy Nguyễn Văn Ba đang đứng ngó lơ trước cửa hiệu thuốc bắc mà ông đã chuyển nhượng lại cho con trai ông làm chủ, từ vài năm trước đó. Tôi vội dừng  xe tạt vào kính cẩn chào thầy. Ông bảo tôi vào uống cà phê với ông tại một tiệm ăn Tàu cạnh đấy. Khi nghe tôi thắc mắc: Đại khái đã lớn tuổi lại còn đang loạn lạc mà sao cụ không chịu ở nhà mà lại ra đứng phất phơ giữa nơi phố xá ồn ào náo nhiệt này? Ông ngần ngừ một lát rồi nhẹ giọng tâm sự rằng phải tạm lánh xuống ở đây cả tháng rồi vì giáo sư Nguyễn Văn Kiết ( tốt nghiệp cao học Triết ở Sorbonne – Pháp, đã từng dạy chúng tôi trong chứng chỉ Triết Tây, hiện cũng đang ở trong cùng khu đại học Thủ Đức) đã ngỏ lời rủ ông cùng bỏ Sài Gòn theo Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam nhân dịp này nhưng ông đã không đồng ý bằng cách chỉ yên lặng mà né tránh đi xuống ở dưới phố thị Sài Gòn cho yên thân.

20 tháng Năm 2026;
tái điều chỉnh vào 24 tháng 7 – 2026.

[ tiếp sang Chương HAI]



Chú giải:

[1] Phạm Minh Tâm, tác giả cuốn ” Còn Ai Giữa Mênh-Mông Đời Mình”, Báo Thời Luận Hoa Kỳ xuất bản năm 2023.
[2] Thập kỷ là chuỗi 10 năm đếm theo lịch, từ năm xxx1 tới hết năm xxx0. Thí dụ thập kỷ sắp tới là từ 2031 tới hết 2040. Thời VNCH mình chỉ dùng 1 từ là ‘thập niên’. ‘Thập kỷ’ cũng có dùng, nhưng rất hiếm, thí dụ ta nói ‘xập kỷ nình’ tức là ‘thập kỷ niên’ với nghĩa ‘cũ hàng chục năm’.( Thân hữu Nguyễn Hiền ; www.caidinh.com, bổ túc)

[3] Yiễm Yiễm Thư Trang, dấu ngã, không phải dấu hỏi. Đó là ông Đông Hồ lấy tên con gái thứ 2 (Lâm Mỹ Diễm) để đặt. Diễm thành Yiễm, cho nó lạ. (Thân hữu Nguyễn Hiền bổ túc)
[4] Theo như tài liệu để lại giải thích, việc thi cử thời quân chủ xưa ở Việt Nam gồm ba đợt:Thi Hương được tổ chức ở các vùng miền, thí sinh đậu được gọi là Tú Tài. Thi Hội tại kinh thành, ai qua được là đậu bậc cử nhân. Thi Đình do nhà vua quyết định cho đậu ba cấp tiến sĩ: Trạng Nguyên – Bảng Nhãn (Nhỡn) – Thám Hoa; sau này không còn phân cấp như thế nữa, chỉ còn danh hiệu Tiến sĩ  và Phó bảng mà thôi. Chẳng hạn như cụ Phó Bảng Nguyễn Can Mộng, một trong những vị chủ trì phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục vào đầu thế kỷ 20 ở Hà Nội. Trường hợp có những thí sinh đi thi mà chỉ đậu tú tài, 2 lần đậu tú tài thì dân gian gọi là
ông “Tú Kép”, đi thi 3 lần trở lên mà chỉ đậu được tú tài thì gọi là “Tú Đụp”.



* Phạm Quốc Bảo.





Đại Học Văn Khoa Sài Gòn

II –
                                                           
Cạnh đấy cũng có một số kỷ niệm có nhớ được khá chi tiết hơn của thời học trò trên sáu mươi năm rồi mà nay vẫn còn vang vọng trong tâm tư tôi. Thí dụ:


*  Phong thái độc đáo riêng: Thượng tọa Thích Thiên Ân du học và tốt nghiệp tại một đại học (tôi không còn nhớ tên) bên Nhật Bản vào khoảng vài năm đầu thập niên 1960. Ông được mời dạy trong chứng chỉ Triết học Ấn Độ, và cái đề ông trình bày là Triết học Zen. Cách thế – nội dung lẫn thái độ giảng dạy của ông đã có những nét đặc biệt rất quyến rũ – hấp dẫn bọn sinh viên nam nữ trẻ chúng tôi hồi ấy. Chẳng hạn:
– Thượng Tọa Thiên Ân có nhân dáng khá đặc biệt: Ông khổ người cao lớn, nụ cười luôn nở trên cặp môi dầy, hợp với khuôn mặt và cái đầu to – trán gồ lớn không tóc.., và thêm nữa, hai bàn chân to đến độ trông thô, đặc biệt là cái xương bên cạnh ngón cái đâm ngang trồi ra ở cả hai bàn chân, nên có lẽ vì vậy mà chưa thấy bao giờ ông đi giầy, chỉ dép săng đan (sandals) làm chuẩn. Tổng cộng lại, nhân dáng của ông vừa tự nhiên vừa chân chất của một nông dân mộc mạc gốc người Trung Việt.
Thời tôi học, sĩ số sinh viên ghi danh thường vài chục người nhưng đa số chỉ ghi tên mua tài liệu của giáo sư để học,còn tham dự trực tiếp trong lớp bao giờ cũng một chục ‘mống’ là cùng.
 Mỗi tuần cho cả niên khóa, sinh viên chúng tôi được gặp ông 2 giờ đồng hồ. Ông yêu cầu sinh viên mở tập tài liệu in rô-nê-ô (tức là bản đánh máy vào giấy stencil rồi quay ra đóng lại thành từng tập, do một toán sinh viên nào đó nhận thực hiện rồi bán giá vốn lại cho sinh viên) của ông có tên là Triết Học Zen (triết học Phật giáo truyền thống của dân Nhật Bản). Đọc tới đâu, ông giảng tới đó.
Hết một giờ, nghỉ giải lao, ông thường theo sinh viên ra đứng ngoài lan can trước cửa phòng học. Ai hỏi gì , ông trả lời nấy. Thường có anh sinh viên đang hút thuốc lá, tiện thể mời, ông cũng rất tự nhiên hút. Rồi  trong khi trò chuyện, ông thổ lộ rằng ở quê miền Trung ông vẫn hút thuốc rê vấn.
Sang tới giờ thứ nhì, bao giờ ông lên ngồi xếp bằng tròn thiền luôn trên bàn của giảng viên, cho đến hết giờ, tan học luôn!
Nghe nói đến năm 1967, thượng tọa được mời sang Hoa Kỳ dạy triết lý Phật giáo tại mấy đại học thuộc Nam Cali và chủ trì chùa Việt Nam tại Los Angeles. Giữa năm 1981, tôi sang định cư tại đây thì nghe nói nhà sư Thiên Ân mới mất trước đấy mấy tháng gì đó (?).Trong những bài viết về diễn trình lịch sử của người gốc Việt ở Mỹ có ghi: Thượng tọa Thích Thiên Ân là vị sư đưa được Phật giáo Việt Nam vào học trình đại học Mỹ và học trò tu tập truyền thừa ở Nam Cali.

* Từ Cửa Khổng đến Việt Nho.

Dáng người dong dỏng cao, khuôn mặt lúc nào cũng nghiêng lệch một bên, luôn vận một bộ áo chùng trắng, bước đi khoan thai, thẳng tắp. Linh mục Lương Kim Định có một nhân dáng đặc biệt thanh thoát. Vốn là một tu sĩ Thiên Chúa giáo, nhưng ông lại say mê giảng dạy về tư tưởng Khổng Tử vào thời chúng tôi theo học chứng chỉ triết học Trung Hoa.
Chuông reo, báo hiệu giờ học bắt đầu. Bước vào, đi thẳng lên đến bục giảng, và khi tấm bảng đen đã ở sau lưng, ông ngước mắt lên trần lớp và cứ thế nói thao thao bất tuyệt. Tôi còn nhớ được cái tít ” Mũ Áo Hương Quan” (?) ông đã thuyết giảng là một trong những chương thuộc tập tài liệu giảng dạy niên khóa ấy, mà sau này được ông cho in thành bộ sách có tên là Cửa Khổng. Nhưng đấy chỉ là những suy tư mở đầu để vài thập niên sau đó ông đã hệ thống hóa hoàn tất nội dung độc đáo là VIỆT NHO.
Bên cạnh cái vóc dáng và nội dung tư tưởng ấy, trí nhớ của tôi lại mặn mòi với hiện tượng rất đời thường trong ký ức về ông:
Có một lần, linh mục Kim Định đang say sưa giảng và sinh viên chúng tôi dưới này cũng mê mẩn lắng tai nghe. Ông đang diễn tả nội dung ý nghĩa của hai từ ngữ Âm và Dương, cụ thể hóa ở thân thể của Nam – Nữ. Ông nói đại khái rằng Âm – Dương luôn đi đôi với nhau thành một cặp khắng khít, như hai thân thể người nam với  người nữ, phải  áp lại đằng lưng mới có thể giúp họ nhìn bao quát trọn được cả hai chiều – bốn hướng…Thì một tiếng hô lớn vang lên từ hàng ghế sinh viên ở cuối phòng :
– Thưa Thầy. Thưa Thầy. Con có ý kiến!
Giật mình, ngưng giảng, linh mục Kim Định ngó xuống và mở lời:
– Anh có ý kiến gì?
– Dạ. Thầy nói chỉ có một vế như vậy, sao được! Đàn ông – đàn bà mà chỉ ráp đằng lưng lại không thôi thì làm sao có được Thầy, có được con ngồi đây!
Câu phát biểu ấy vừa dứt. Cả không gian lớp học lặng ngắt… Và chuông reo, hết giờ học!
Sau một thoáng hẫng đi, linh mục Kim Định mới lên tiếng, giọng rất tự nhiên:
– Ờ. Anh nói cũng phải. Nhưng thôi, hết giờ rồi. Đến tuần sau chúng ta thảo luận tiếp. Vậy nhá.
Nói rồi, linh mục tươi cười bước xuống bục giảng, phiêu phiêu đi thẳng ra hành lang. Cả lớp ồn lên, đổ dồn bu lại quanh người phát biểu, mới hay đó là anh Nguyễn Ngu Ý, vừa từ nhà thương điên Biên Hòa về, vẫn còn mặc chiếc áo của bệnh viện trên người!

* Bất ngờ nối kết được ký ức sâu – rộng.

Linh mục Gautier đã là một giáo sư có lẽ vào hàng lớn tuổi nhất thời bấy giờ. Theo thổ lộ mà tôi còn nhớ, có thời ngài đã từng là một linh mục trẻ được theo đoàn của linh mục Teilhard de Chardin [3] sang truyền đạo ở Bắc Kinh (Trung Hoa). Năm tôi theo học chứng chỉ Triết Tây, linh mục Gautier giới thiệu ba triết gia được người đời xưng tụng là ba nhà đại hiền triết cổ Hy Lạp, mở đầu cho dòng lịch sử triết học  phương tây: Socrates – Platon ( Plato) và Aristote ( Aristotle) bằng hình thức giáo dục cổ điển đơn giản nhất là thầy trò trực tiếp vấn đáp đối thoại với nhau về những đề tài tâm lý – đạo đức – khoa học – chính trị. Chính câu nói độc đáo của Socrates ” Hãy tự hiểu biết về mình“[4] hay cuốn sách The Replublic ( mở đầu cho ý niệm Cộng Hòa) và trường học có tên Academus ( mở đầu cho hệ thống đại học và Hàn Lâm Viện của xã hội loài người) của Platon …Mấy sự kiện học hỏi đại loại như trên không những đã để lại trong tâm trí tôi những dấu ấn sâu sắc của thời đại hồng hoang của lịch sử loài người, mà còn nhắc nhớ tôi đến thời ấu thơ: Đêm nào mẹ tôi cũng ru chúng tôi ngủ bằng cách ngồi kể những chuyện thần thoại Hy Lạp hay truyện cổ tích Đông Tây, nhất là cổ tích Việt Nam … Đó là duyên cớ xui khiến năm sau ấy tôi đã quyết định học  để có thể lấy thêm hai chứng chỉ chuyên biệt cho đủ đậu bậc cử nhân giáo khoa Triết Đông phương…
Đã đến tuổi về hưu, lúc ấy linh mục Gautier đang cư ngụ hẳn trong khu dưỡng lão của trung tâm Đắc Lộ sàigòn. Ông có thói quen tự phát hành tập tài liệu giảng dạy quay ronéo của chính ông. Sinh viên nào muốn thì tự động đến thẳng trung tâm Đắc Lộ gặp, trả chi phí do chính tay ông phát ra. Một lần tôi đến mua tài liệu, ông tiễn chân ra khỏi sảnh đường. Vừa đi, hai thầy trò vừa trao đổi vài thắc mắc, ra đến cổng thì gặp một linh mục già lụ khụ đang ngồi nghỉ trên băng ghế đá gần đó. Ông Gautier lên tiếng chào và thuận miệng bảo tôi rằng linh mục ấy vốn có thời gian phục vụ tại Nhà Thờ Lớn Hà Nội trước 1954. Nghe thế, tôi chợt động tâm, dừng lại… và bỗng dưng từ ký ức bật lên, tôi buộc miệng thốt ra thành lời : “Thưa Cha, con không thuộc kinh!”. Chợt nghe được câu đó của tôi, linh mục già đang ngồi cạnh xe lăn ấy sững người, rồi đột nhiên la lớn lên: ” Con đấy à!?” Tôi giật mình ghé lại gần, và nghe linh mục ấy lắp bắp tiếp:
– Con là đứa hồi ấy thường xưng tội là không hề thuộc kinh đó sao?
– Đúng vậy, thưa cha!
Thế là ký ức của tôi ồ ạt trào ra: Số là cuối năm 1950, khi được biết đảng Cộng Sản Đông Dương đã vừa đổi tên thành đảng Lao Động Việt Nam, bố tôi đang đi kháng chiến liền bỏ về Hà Nội (hồi đó gọi là Về Thành hay Dinh Tê). Năm sau, 1951, mẹ tôi mới nhận được tin từ bố tôi và bà đã quyết đinh dẫn một lũ con nhỏ là chúng tôi từ Thanh Hóa về đoàn tụ với bố tôi ở Hà Nội. Tôi được vào học lớp ba trường tiểu học Đỗ Hữu Vị. Nhưng vì cái tội mảng chơi – phá nghịch nhiều quá, bố tôi bắt buộc tôi năm sau phải vào học lớp Nhì tại trường đạo Thiên Chúa Giáo có tên là Dũng Lạc, tọa lạc ngay cạnh Nhà Thờ Lớn Hà Nội. Trường này áp dụng một thứ kỷ luật nghiêm ngặt. Chẳng hạn như học trò vào lớp, việc đầu tiên là phải quỳ lên băng ghế – khoanh tay đọc kinh. Chiều thứ sáu hàng tuần, lớp đóng kín các cửa – chiếu phim Thánh Tử Vì Đạo cho học trò xem. Sáng chủ nhật, học trò mọi lớp đều lần lượt xếp hàng vào nhà thờ xưng tội. Kỳ nào đi xưng tội, tôi cũng chộn rộn lo lắng thổ lộ là không thuộc kinh! Nhiều lần chỉ bộc lộ có một nội dung như thế, khiến vị linh mục ấy phải buột miệng lên tiếng hỏi:
– Thế ở nhà, con có vâng lời cha mẹ không?
– Dạ, có.
– Con có thuận hòa với các anh chị em không?
– Có..Nhưng cũng vài lúc…
– Ồ… Cũng phải đôi lần xung khắc chứ. Đúng không?
– Dạ.
– Vậy là được, con ạ. Vậy cũng là một cách thuộc kinh đấy. Con cứ yên chí nhá. Đừng có phiền muộn gì cả, nhá . Riết rồi trong tương lai con cũng sẽ thuộc kinh thôi mà. Yên tâm đi…

* Ký ức được khơi nguồn loan tỏa – rồi nối kết.

Trong môn luân lý – đạo đức của Triết Tây, tôi có học với giáo sư Peltier. Được biết ông tốt nghiệp tiến sĩ tại Sorbonne, Paris (Pháp quốc) với tiểu luận viết về Descartes. Và ông đã dạy chúng tôi hai triết gia Pháp là Descartes và Kant. Descartes thì đến giờ tôi chỉ nhớ có câu nổi tiếng của ông ta: “Tôi suy tư, vậy tôi hiện hữu.” Còn Immanuel Kant, triết gia người Đức, tôi lại nhớ được một giai thoại có nội dung đại khái: Người ta bảo rằng hàng xóm nhà ông Kant ai nấy đều có thói quen không cần phải ngó vào đồng hồ, chỉ nhác thấy ông ta từ trong nhà ra đến cổng rồi giương cây dù che đầu lên và bắt đầu bước đi thì lúc ấy đúng 8 giờ sáng; còn chiều mà thấy ông ta về tới, cụp cây dù xuống  và bước qua cánh cổng vào nhà, đồng hồ ắt chỉ đúng 7 giờ chiều!
Hai nhân vật tiêu biểu cho quan niệm duy lý một thời ứng dụng vào nền tảng tư tưởng lẫn đời sống của chính họ, như đại khái vừa dẫn chứng ở trên, không biết là tại sao đã tạo một dấu ấn quan trọng rất là bức bách trong suy tư  của cá nhân tôi hồi ấy. Cho đến khi được nghe giáo sư Trần Văn Toàn giảng về Duy vật sử quan của Karl Marx, thì tôi dứt khoát chọn ý định sẽ phải tìm học hỏi về Triết học Đông phương vào niên khóa sau đấy là vậy.[5]
Nhưng hai kỷ niệm sâu sắc riêng với giáo sư Peltier, mà cho đến tận bây giờ tôi vẫn còn nhớ được, như sau:

* Thuở thực hành tiến bộ và tự do. 

Giữa năm 1964, phong trào đòi Tự Trị Đại Học bùng lên tại Sài Gòn [6], và Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn đã tích cực dẫn đầu nhiều cuộc biểu tình đòi xóa bỏ các vết tích thực dân Pháp còn sót lại. Trong đó có những đợt sinh viên tụ họp đòi đổi tên các trường ( chẳng hạn như trường Jean Jacques Rousseau, mấy năm sau đấy đã được mang tên là trường trung học Lê Quý Đôn)…và hạ bệ những tượng – những tên được đặt cho các công viên dính dáng tới văn hóa Pháp mà lâu nay đã trở thành biểu tượng cho chế độ thực dân Pháp đã chấm dứt vào năm 1954 (chẳng hạn như bùng binh Công trường Duy Tân sau này có tên là Công trường Quốc Tế Quân Viện, nhưng cái tên mà dân chúng vẫn thường gọi là  Hồ Con Rùa thì trước sau và đến tận bây giờ vẫn y nguyên. Công trường này nằm ngay bùng binh ngã tư trước trụ sở viện Đại Học Sài Gòn)

Hồ Con Rùa (Sài Gòn)

Lúc ấy, sinh viên Đoàn Văn Khoa đã tham dự tuần hành chung với các phân khoa khác thuộc Viện Đại học Sài Gòn. Đi vận động ở các phòng họp cho sinh viên nghỉ học để đi biểu tình, ban đại diện chúng tôi vào lớp lúc ấy đang có giáo sư Peltier giảng dạy môn Văn chương Pháp. Giáo sư đồng ý cho nghỉ, nhưng các nữ sinh viên từ trường cũ Marie Curie tốt nghiệp tú tài Pháp lên học lại là nhóm phản đối dữ dội nhất. Các cô nhao nhao đòi giáo sư ở lại tiếp tục dạy, nhưng giáo sư Peltier phân trần rằng ban đại diện sinh viên trường được sự đồng ý của vị khoa trưởng lúc ấy là giáo sư Nguyễn Đăng Thục thì theo đúng nguyên tắc, ông phải tuân thủ. Nói xong, ông đứng dậy thu xếp tài liệu và bước ra khỏi phòng.
Nhóm nữ sinh viên gốc Marie Curie vẫn vừa trì níu vừa phát ngôn toàn bằng tiếng Pháp. Một đại diện sinh viên nóng nẩy lớn tiếng dằn mặt:
– Là người gốc Việt, yêu cầu các cô xử dụng Việt ngữ.
Một cô sấn tới níu giáo sư Peltier, miệng vẫn xổ tiếng Pháp. Lập tức cô ta bị một anh sinh viên nổi sùng giơ tay tát thẳng vào mặt! Sự thể ấy xảy ra hoàn toàn bất ngờ. Cô ta sững người rồi bật tiếng khóc. Giáo sư Peltier vừa nắm tay an ủi vừa kéo cô ta ra khỏi phòng học…

* Cảm thông nhờ từng trải

Hè năm sau, 1965, vừa vượt qua được kỳ thi viết – đang đợi vào vấn đáp, tôi đến trụ sở của Chương Trình Công Tác Hè ( gọi tắt là Summer Program 65) của Tổng Hội Sinh Viên. Lúc ấy anh Đỗ Ngọc Yến được bầu giữ chức tổng thư ký Chương Trình, còn tôi là phó trưởng đoàn văn nghệ Đường Sáng đặc trách kế hoạch, mà Vũ Dzũng đang học bên Kiến Trúc làm trưởng đoàn. Sau khi ngỏ lời mừng cho tôi, Đỗ Ngọc Yến lại bảo rằng đoàn văn nghệ cả sáu bẩy chục đoàn viên trên đường lưu diễn những tỉnh miền Trung, đang từ Đà Lạt xuống Phan Rang thì cạn quỹ nên phải trụ lại một đình làng đợi tôi đem tiền gấp ra  cấp cứu. Thế là tôi chỉ xách tay cái túi Air Việt Nam đựng gần nửa triệu tiền mặt, đi nhờ phi cơ quân sự ngay trong ngày. Ra đến Nha Trang, tôi phải tức tốc thuê rạp và nhà trọ sẵn để đoàn ra có chỗ trú ngụ và trình diễn mấy buổi văn nghệ ở thành phố ấy, theo dự trù. Sáng sớm hôm sau, tôi lại lật đật đón xe đò vào Phan Rang. Tìm ra nơi đoàn văn nghệ đang tạm trú, việc đầu tiên là tôi phải kêu 2 xe mì – hủ tíu bán dạo tới để cứu đói đoàn viên; rồi chạy ra bến xe thuê luôn hai chiếc xe đò lớn để sáng sớm mai cùng với cả đoàn về lại Nha Trang. Công tác xong xuôi, tôi mới tức tốc kiếm phi cơ quân sự đi nhờ để có thể gấp trở về Sài Gòn.
Vắng có mấy ngày trời, tôi đã không kịp vào vấn đáp đủ những môn yêu cầu; trong số ấy có giáo sư Peltier: Ông đã về dạy ở Paris, ba tháng sau mới sang lại Sài Gòn.
 Tháng tám năm đó, hai thầy trò gặp nhau để hoàn tất cuộc thi vấn đáp, có nội dung hỏi đáp về hệ thống tư tưởng duy lý với ba tác giả là René Descartes (1596 – 1650) – Blaise Pascal (1623 – 1662) và Immanuel Kant  (1724 – 1804). Xuyên qua những câu trả lời của tôi, giáo sư Peltier tỏ vẻ hài lòng. Trước khi đặt bút cho điểm, một cách cẩn trọng ông hỏi tôi rằng có gì thắc mắc nữa không. Tôi rụt rè thổ lộ, xem ông có còn nhớ vụ tôi đã hiện diện trong đám sinh viên trường trực tiếp vào lớp học yêu cầu ông ấy bỏ dạy giữa chừng để sinh viên ra dự biểu tình hồi năm ngoái hay không. Cúi đầu im lặng giây lát, ông nhẹ nhàng bảo rằng bọn sinh viên chúng tôi đã hành động đúng theo nhu cầu. Với nét mặt biểu lộ niềm xúc động, ông tâm sự rằng vốn là người gốc Đức đã cùng gia đình di cư sang sống và nhập quốc tịch Pháp trong giai đoạn Thế Chiến Thứ Hai, ông thấu hiểu một cách sâu xa hành động và việc thể hiện thái độ lẫn lập trường của bọn sinh viên chúng tôi trong trường hợp ấy…
Còn riêng cá nhân tôi ở giai đoạn học vấn bậc cử nhân, đấy là niên khóa duy nhất tôi phải đậu kỳ hai./.


Chú giải:

[3] Pierre Teilhard de Chardin( 1 May 1881 – 10 April 1955) trích Wikipedia.
[4] “Connais – toi toi-même”:  ” Hãy tự hiểu biết về mình”-
[5] Triết Tây: Duy Tâm (thực ra là Duy Trí – Duy Lý với Descartes và Kant) và Duy Vật với K.Marx.
Trong đấy đáng kể nhất phải kể đến Blaise Pascal (1623 – 1662) nói: “Con người là một cây sậy, thứ yếu ớt nhất trong thiên nhiên, nhưng là cây sậy có suy tư”( L’homme est un roseau , le plus faible de la nature, mais c’est un roseau pensant; Man is a thinking reed)
[6] Phong Trào Tự Trị Đại Học phát khởi ngay sau biến cố 1 tháng 11 năm 1963, một trong những nhân vật dẫn đầu là giáo sư Nguyễn Đăng Thục lúc đó đang là khoa trưởng Văn Khoa Sài Gòn. Đến năm 1965, khoa trưởng đầu tiên được các giáo sư trong Hội Đồng Khoa bầu lên là giáo sư Nguyễn Khắc Hoạch. Chứ trước đó, khoa trưởng các phân khoa thuộc Viện Đại học Sài Gòn đều do Bộ Quốc gia Giáo dục chọn và viện trưởng chuẩn thuận mà thôi.



– 15 tháng sáu năm 2026.
– Tái điều chỉnh vào 31/07/2026.
* Phạm Quốc Bảo.



Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *