trang bạn hữu // VĨNH CHÁNH – Từ Nụ Hôn Cuối Của Ba Đến Bến Bờ Tự Do: 46 Năm Tri Ân Cuộc Đời

(Viết nhân ngày kỵ Ba)

Ngày 24 tháng 7 luôn trở về trong đời tôi như một tiếng gọi từ hai bờ thời gian. Bốn mươi sáu năm trước, vào đúng ngày ấy, vợ chồng tôi cùng con gái và bốn em vợ đặt chân xuống phi trường San Francisco, sau chuyến bay dài từ Manila. Bảy người tỵ nạn, mang theo một đời tan tác sau chiến tranh, bước vào nước Mỹ như bước vào một miền đất vừa lạ lẫm vừa đầy hy vọng. Nhưng cũng chính ngày ấy — cách đó đúng ba mươi bốn năm — Ba tôi bị Việt Minh ám sát lúc ông đang nghỉ trưa tại nhà, khi tôi hãy còn trong bụng mẹ.

Măng tôi thường kể rằng, sau khi chạy giặc từ Huế về Mỹ Chánh, xa Huế chừng 20 cây số, bà sinh tôi trong một căn phòng đơn sơ. Bà nằm thiêm thiếp trên chiếc giường tre vì kiệt sức, còn tôi thì nằm bên cạnh, bé bỏng và đỏ hỏn. Trong cơn mê nửa tỉnh nửa say, Măng thấy dáng Ba tôi từ ngoài cửa bước vào. Ông đứng đó, lặng lẽ như một bóng hình thân thuộc, nhìn Măng bằng ánh mắt thương yêu mà bà không bao giờ quên. Rồi ông cúi xuống, đặt một nụ hôn lên đầu tôi – nụ hôn đầu đời, cũng là nụ hôn cuối cùng – trước khi xoay người bước ra khỏi phòng.

Tôi lớn lên mang theo nụ hôn ấy như một dấu ấn vô hình. Để rồi ba mươi bốn năm sau, cũng vào ngày 24 tháng 7, 1980, tôi, một bác sĩ trưng tập, một sĩ quan Quân Y Nhảy Dù đã cùng với tiểu đoàn Dù của mình, chiến đấu đến phút cuối cùng tại Sài Gòn – bước chân vào nước Mỹ đúng ngày giỗ Ba. Sau gần ba năm tù cải tạo; sau 11 tháng tù Chí Hòa vì vượt biên lần đầu thất bại, khi vợ tôi mang bầu sắp đến ngày sanh; sau chuyến vượt biển thành công tháng 9 năm 1979; qua 5 tháng ở trại tỵ nạn Thái Lan và 5 tháng ở Phi Luật Tân, tôi đến được miền đất tự do vào đúng ngày mà Ba tôi tức tưởi rời bỏ cõi đời.

Có những sự trùng hợp không thể chỉ gọi là ngẫu nhiên. Có lẽ đó là cách Ba tôi đưa tôi đến một bến bờ khác, bằng một con đường dài hơn nửa đời người.

Đặt chân xuống San Francisco vào ngày 24 tháng 7, 1980, tôi mang theo trong lòng một cảm giác khó diễn tả: vừa nhẹ nhõm vì đã thoát khỏi những tháng ngày tù đày và vượt biển, vừa bỡ ngỡ trước một đất nước rộng lớn mà tôi chưa từng hình dung hết. Nhưng trên tất cả, tôi cảm thấy như có một sự dẫn dắt âm thầm nào đó – như thể Ba tôi, người đã rời bỏ cõi đời đúng ngày này ba mươi bốn năm trước, vẫn đang dõi theo và mở đường cho tôi. Mở đầu cho một cuộc sống mới.  Tôi tự hứa bỏ thuốc lá, và quyết chí làm lại cuộc đời.

Ba ngày sau tại trại tạm trú Hamilton ở bên kia cầu Golden Gate, nhóm bảy người chúng tôi rời San Francisco, bay về phi trường John Wayne, được chị tôi và anh rể bảo lãnh. Hai tháng đầu, cả nhà ở chung dưới một mái nhà nhỏ, ấm áp và đầy tình nghĩa. Sau đó, chúng tôi thuê một căn nhà gần cạnh – chủ nhà là một cựu quân nhân của chiến tranh VN, nên dành mọi ưu tiên cho chúng tôi – để bắt đầu cuộc sống tự lập từ hai bàn tay trắng, nhưng với lòng hăng hái quyết chí và tự tin.  Tin Ơn Trên phù hộ. Tin vào khả năng của mình. Tin Bồ Câu rồi đây sẽ đi học và hấp thụ một nền giáo dục tốt đẹp. Cả nhà cật lực làm việc. Hai chị lớn nhận hàng may tại nhà. Các cậu em, sau giờ đến trường, cùng xúm xít phụ xỏ chỉ, đơm khuy. Mọi người đồng cố dành dụm tiền gởi về giúp gia đình còn lại bên VN. Phần tôi lãnh phần việc đi nhận và giao hàng may, đến trung tâm Kaplan trau dồi chuyên môn y khoa. Với vốn liếng chuyên môn hạn hẹp và lỗi thời, để có thể bắt kịp những tiến bộ y khoa tối tân của nước Mỹ, tôi hiểu mình phải thức khuya dậy sớm và tận lực học hỏi.

May mắn đầu tiên đến với tôi là cơ quan IRC (International Rescue Committee) bảo lãnh chúng tôi, khuyến khích tôi học lại chuyên môn bằng cách đưa tấm check $3,000.00 trả tiền học phí ECFMG cho tôi học trong 2 năm tại trung tâm Kaplan. May mắn kế tiếp là tôi được anh rể sáng chở đi chiều chở về vì nơi làm việc của anh gần với trung tâm Kaplan. Tôi nghĩ mình sẽ phải mất ít nhất hai năm mới có thể lấy lại các văn bằng căn bản. Nhưng không hiểu vì sao, có lẽ là nhờ những điều nhiệm màu mà tôi luôn tin Ba mình gửi đến, chưa đầy bảy tháng sau khi định cư, tôi đã vượt qua hai kỳ thi quan trọng, FLEX vào tháng 12, 1980, rồi ECFMG vào tháng Giêng 1981. Vợ tôi là người mở bao thư báo kết quả, mừng rở gọi chị tôi để thông báo, nhưng mọi người không mấy tin vì sợ vợ tôi đọc sai, hiểu sai, cho đến khi tôi nhìn vào thấy chữ PASSED, chúng tôi ôm nhau, đứng lặng một lúc thật lâu. Trong khoảnh khắc ấy, tôi biết rằng mình không chỉ vượt qua thử thách đầu tiên, mà còn hoàn thành một phần nào đó lời hứa thầm lặng với Ba: sống cho xứng đáng với nụ hôn cuối cùng mà ông đã dành cho tôi.

Những tưởng sau khi vượt qua hai kỳ thi và lấy lại văn bằng tương đương, cuộc sống của gia đình tôi sẽ dần ổn định. Vợ tôi vui mừng với bào thai đứa con thứ hai. Nhưng cũng trong thời gian ấy, một biến cố thảm khốc đã xảy đến với con gái đầu quá đau lòng – biến cố làm thay đổi toàn bộ cuộc đời chúng tôi.

Bồ Câu được đưa vào bệnh viện để bọc vài chiếc răng sâu, một thủ thuật tưởng chừng đơn giản. Nhưng chỉ một sai lầm trong gây mê đã khiến cháu thiếu dưỡng khí, làm tổn thương não nặng nề. Từ một đứa trẻ ba tuổi rưởi, xinh đẹp, thông minh, ngoan ngoãn, cháu trở thành một em bé tàn tật cả về hình hài lẫn trí tuệ. Hồi tưởng lại buổi sáng định mệnh ấy, khi ngồi trong phòng chờ ở bệnh viện, tôi nghe tiếng loa loan báo “code blue” nhiều lần, cứ ngỡ là cho ai, sau này mới biết lệnh cấp cứu đó chính là cho con mình. Đau đớn thay! Vợ chồng chúng tôi cảm thấy như cả thế giới sụp xuống trước mắt mình. Nhờ hô hấp nhân tạo, Bồ Câu sống lại, được nuôi qua ống chuyền sữa ensure từ mũi xuống bao tử, nhưng não bộ bị tổn thương trầm trọng. Thời gian sau đó, chúng tôi gần như dừng lại mọi dự định nghề nghiệp. Vợ chồng chỉ biết dồn vào săn sóc, nuôi dưỡng con. Vợ tôi – người phụ nữ đã cùng tôi đi qua chiến tranh, tù đày, vượt biển – lại một lần nữa đứng vững, ôm lấy con bằng một tình thương không bờ bến.

Có những đêm tôi ngồi một mình trong bóng tối, nghĩ về Ba tôi. Tôi nghĩ đến nụ hôn cuối cùng ông dành cho tôi, nghĩ đến cái chết oan nghiệt của ông, và nghĩ đến ngày 24 tháng 7 đã đưa tôi đến nước Mỹ như một phép nhiệm màu. Tôi tự hỏi: phải chăng Ba tôi vẫn đang dõi theo, vẫn đang nâng đỡ, vẫn đang giúp tôi đứng vững trước những thử thách mà cuộc đời không ngừng đặt ra?

Và rồi tôi hiểu: có những nỗi đau không phải để đánh gục con người, mà để làm cho họ trở nên sâu sắc hơn, nhân hậu hơn, và biết trân trọng từng hơi thở của cuộc sống. Con gái đầu lòng của tôi, dù mang một thân phận đặc biệt, đã trở thành một phần thiêng liêng trong gia đình, một nguồn yêu thương mà chúng tôi gìn giữ suốt bốn mươi mấy năm qua.

Một năm sau tai nạn của con gái đầu lòng, khi cuộc sống tưởng chừng như chìm trong những ngày dài lo lắng và kiệt sức, tôi nhận được tin vui: một bệnh viện tư ở tiểu bang Louisiana chấp nhận cho tôi hành nghề. Đó là một bước ngoặt lớn, không chỉ cho sự nghiệp của tôi, mà cho cả gia đình. Chúng tôi rời California, mang theo Bồ Câu và đứa con nhỏ, bắt đầu một cuộc sống mới ở miền Nam nước Mỹ – nơi mà tôi sẽ gắn bó suốt nhiều thập niên cho đến ngày về hưu.

Nhờ có thu nhập ổn định, vợ chồng tôi thuê được các chuyên viên vật lý trị liệu đến nhà mỗi ngày để tập cho Bồ Câu. Vợ tôi, người phụ nữ mà tôi luôn tin là có một sức mạnh thầm lặng hơn bất cứ ai tôi từng biết, đã kiên trì chăm sóc con từng chút một. Từ những tháng đầu cháu chỉ sống nhờ ống nuôi từ mũi xuống bao tử, vợ tôi tập cho cháu uống từng giọt nước, dần dần từng muỗng sữa, rồi từng chút thức ăn mềm. Mỗi tiến bộ nhỏ của Bồ Câu đều là một niềm vui lớn trong nhà.

Rồi một ngày, chừng cả một năm sau ngày tai nạn, chúng tôi quyết định rút ống nuôi. Đó là một quyết định đầy can đảm, nhưng cũng đầy tình thương. Và kỳ diệu thay, Bồ Câu sống khỏe mạnh, ăn uống bằng muỗng, từ thức ăn lỏng cho đến thức ăn đặc, mỗi ngày mỗi tháng mỗi tốt đẹp hơn, uống nước bằng ống hút, và hòa vào đời sống gia đình như một đứa trẻ đặc biệt nhưng đầy sức sống. Nhìn con mỗi ngày, tôi hiểu rằng chính sự kiên trì của vợ tôi đã cứu cháu, đã đưa cháu trở lại với chúng tôi bằng một sự nhiệm màu mà không một bác sĩ nào có thể tiên đoán.

Những năm sau đó, gia đình chúng tôi có thêm hai đứa con nữa, tổng cộng bốn đứa, với Bồ Câu đầu tiên sinh ra tại Việt Nam khi tôi đang ở trong tù sau lần vượt biên thất bại. Mỗi đứa trẻ lớn lên trong một hoàn cảnh khác nhau, nhưng tất cả đều mang trong mình sự gắn bó, thương yêu và ý thức về hành trình mà cha mẹ chúng đã đi qua. Dù bận rộn tất bật hơn, chúng tôi luôn cố gắng sinh hoạt chung với các con, từ trong nhà cho đến ra bên ngoài, ở đâu có cha mẹ là có đầy đủ 4 đứa con. Nếu cha không đẩy kịp xe lăn cho Bồ Câu thì Bea đẩy chị. Nếu mẹ chưa đút kịp cho chị ăn, thì Betty lo giùm.

Theo thời gian, các em vợ tôi, những đứa trẻ từng ngồi may đồ gia công trong căn nhà thuê nhỏ ở vùng El Toro — sau này đều học giỏi, tốt nghiệp đại học, và tự lập bằng chính sức mình. Mỗi lần nhìn thấy các em trưởng thành, tôi lại nhớ đến những ngày đầu mới đến Mỹ: những thùng đồ may, những chuyến xe giao hàng, những thùng quà gởi về cho gia đình tại VN, những buổi tối học bài đến khuya, và những giọt nước mắt thằm lặng của vợ tôi khi ôm con gái tàn tật vào lòng.

Cuộc sống tốt đẹp dần. Măng tôi được anh chị bảo lãnh qua Mỹ năm 1986. Trước đó mấy tháng Măng tôi bị tai biến mạch máu não sau khi đứa cháu nội, con gái của anh đầu của tôi nhảy sông Saigon tự tử. Rất may Măng tôi rời được VN khi tình trạng tâm thần không mấy tốt đẹp. Măng tôi có qua ở với gia đình thằng con trai út, là tôi, tại Louisiana mấy năm, nhưng rồi về lại Cali ở với mấy chị vì thời tiết CA thích họp cho tuổi già. Vã lại, vùng tôi ở Louisiana không có cộng đồng Việt Nam nên buồn quá. Đến năm 1990, gia đình nhạc gia nhạc mẫu cùng 3 con gái và một em rể đoàn tụ gia đình qua chương trình ODP. Bấy giờ, Ông Bà và các em vợ tôi ở tại căn nhà mà hiện tại chúng tôi đang ở, Mission Viejo. Dần dần các em tốt nghiệp, thành hôn, lần lượt ra khỏi căn nhà lớn, nên Ông Bà về chung sống với mấy con còn độc thân, trong căn nhà nhỏ hơn, không xa nhà trước bao nhiêu.

Bốn mươi sáu năm đã trôi qua kể từ ngày chúng tôi đặt chân xuống San Francisco. Mỗi lần ngày 24 tháng 7 trở lại, tôi lại nghĩ đến Ba tôi, đến nụ hôn của người như một lời chúc phúc, một sự dẫn dắt âm thầm đưa tôi qua chiến tranh, qua tù đày, qua biển cả, qua những thử thách của đời sống, và đến được một bến bờ bình yên.

Bốn mươi sáu năm sau ngày đặt chân xuống nước Mỹ, tôi nhận ra rằng cuộc đời không chỉ được xây bằng những cố gắng của riêng mình, mà còn bằng những bàn tay đã nâng đỡ mình trong những lúc cần kíp nhất. Trưa hôm nay, vợ chồng tôi làm một buổi tiệc nhỏ, mời hai cặp anh chị – những người đã bảo lãnh và cưu mang chúng tôi trong những tháng năm đầu tiên trên xứ lạ. Chúng tôi ngồi quanh bàn ăn, nhắc lại những trải nghiệm trên đất Mỹ. Những cố gắng phi thường riêng của các anh chị với các thành quả tốt đcủa con cháu họ. Chúng tôi luôn sống với lòng biết ơn. Ở đâu có tình thương, ở đó có sự sống. Ở đâu có sự giúp đỡ, ở đó có hy vọng. Và ở đâu có lòng biết ơn, ở đó có một quê hương mới được dựng lên bằng những giá trị bền vững nhất của con người.

Tôi biết ơn Măng tôi – người đã giữ giấc mơ suốt đời để trao lại cho tôi như một món quà thiêng liêng. Người vừa làm nhiệm vụ cứng rắng của người cha vừa là tình thương dịu hiền của người mẹ đã dạy tôi nên người. Tôi nhớ ơn chị đầu của tôi đã thay Măng tôi săn sóc tôi trong nhiều năm vì Măng tôi phải ngược xuôi buôn bán bên ngoài. Tôi biết ơn vợ tôi – người đã đứng vững bên tôi qua chiến tranh, tù đày, vượt biển, và những thử thách của đời sống. Tôi biết ơn các con tôi – mỗi đứa một hoàn cảnh, một câu chuyện, nhưng tất cả đều là nguồn yêu thương không bao giờ cạn. Tôi biết ơn các em vợ – những người đã vươn lên từ những ngày may vá gia công để trở thành những người tự lập và thành đạt. Và tôi biết ơn nước Mỹ, nơi đã mở cửa cho bảy người tỵ nạn bước vào, để rồi từ đó chúng tôi gây dựng được một đời sống tốt đẹp hơn trong tự do. Xin được tạ ơn đời, tạ Ơn Trên.

Ngày 24 tháng 7 luôn trở về trong đời tôi như một dấu mốc của định mệnh. Ngày Ba tôi rời cõi đời. Ngày tôi đến nước Mỹ. Ngày gia đình tôi bắt đầu một hành trình mới. Và hôm nay, ngày tôi nhìn lại bốn mươi sáu năm đã trôi qua, với tất cả lòng tri ân, những phép nhiệm màu, những thử thách, những thành quả và những ân tình mà cuộc đời đã dành cho chúng tôi.

Cuối bài viết này, xin mời quý bạn cùng thưởng thức bản nhạc The Prayer. Nó không chỉ là một bản nhạc. Nó là lời thì thầm của những người đã đi trước. Là hơi ấm của những người đã cưu mang chúng tôi. Là ánh sáng của những ngày tưởng như không còn lối ra. Là tiếng gọi dịu dàng của Ba tôi, của Măng tôi, của những anh chị, của các em vợ và của bao nhiêu bằng hữu đã thương yêu và nâng đở chúng tôi bằng tất cả tấm lòng.

Và nếu Ba tôi vẫn theo dõi tôi và nghe được, tôi tin rằng ông sẽ mỉm cười – vì hành trình mà ông đã không kịp sống trọn, chúng tôi đã cố gắng sống thay ông, bằng tất cả lòng biết ơn và tình thương mà ông đã để lại.

Vĩnh Chánh,

24 tháng 7, 2026

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *