HỒ DZẾNH – Có phải sầu vạn cổ chất trong hồn chiều nay?

Hồ Dzếnh rời bỏ cõi đời này, vậy là đã mười lăm năm!

Ngày tang lễ ông, tôi có đến viếng. Anh Đào Vũ chỉ một bà già ngồi bên quan tài, nói nhỏ với tôi: “Em Dìn”.

Ôi, Em Dìn, cái truyện tôi rất thích. Theo tôi, chỉ với một truyện ấy thôi, trái tim vô cùng nhân hậu của Hồ Dzếnh cũng sẽ còn đập mãi với thế gian này.

Trước ngày mất không lâu, Hồ Dzếnh có cho tôi một cuốn Tác phẩm chọn lọc của ông vừa xuất bản. Lời đề tặng của ông khiến tôi vừa xúc động vừa xấu hổ: “Thân tặng anh Nguyễn Đăng Mạnh, nhà phê bình có khả năng nhận ra được cái thần của mỗi nhà văn”.

Lời khen quá mức, tôi đâu dám nhận. Bởi vì ngay bây giờ đây, khi cầm bút viết bài này và tưởng nhớ đến ông, tôi vẫn đang lúng túng, không biết liệu có thể chạm được chút nào vào cái thần của nhà văn Hồ Dzếnh không?

*

Truyện Hồ Dzếnh thật buồn. Truyện nào cũng buồn. Trong văn chương của cái thời gọi là “tiền chiến”, âm hưởng chung là buồn. Nhưng văn Hồ Dzếnh buồn hơn cả. Buồn da diết. Buồn, thương và đau xót. Những dòng chữ khi thì nức nở, khi thì như những tiếng thở dài…

Ở Hồ Dzếnh, buồn là nguồn cảm hứng chủ đạo, buồn trở thành hẳn quan niệm thẩm mĩ của ông. Cho nên đọc Hồ Dzếnh, cứ thấy một ánh sáng vàng vọt, tàn lụi của những buổi hoàng hôn chiếu lên hầu hết các trang viết. Hoàng hôn, cảnh chiều, với Hồ Dzếnh, trở thành biểu tượng của nỗi buồn, vì nó tỏa ra từ tâm hồn người cầm bút: “Hoàng hôn ở đây ưu hoài như một chinh phụ nhớ chồng” (Ngày gặp gỡ); Hai tâm hồn ấy […] ghé lại bên nhau như bóng chiều nghiêng xuống túp lều rách” (Sáng trăng suông); “Trên cái bao lớn của năm tháng cũ, chị dâu tôi vẫn đứng, buồn bã với manh áo màu chàm cũ, mắt nhìn từ quãng trời xa về, bóng hoàng hôn mơ hồ trùm lên sự vật” (Người chị dâu tôi); “Tiếng anh đỏ Phụ ngâm Kiều nghe buồn như tiếng xẻ gỗ vào những chiều nắng tà hiu hắt” (Anh đỏ Phụ); v.v…

Đọc Hồ Dzếnh, người ta thường nhận xét ông có một dĩ vãng thật buồn. Nhưng đâu chỉ có dĩ vãng. Đối với Hồ Dzếnh, hiện tại, tương lai còn buồn hơn nữa. Chính vì thế mà ông thích quay về dĩ vãng, về cái “chân trời cũ” của đời mình. Vì trong những ngày thơ ấu trong sáng, hồn nhiên đó, ông còn tìm thấy trên cõi đời tối tăm này chút ánh sáng của niềm tin, của tình thương yêu, của lòng chân thật. Ông quay về dĩ vãng, dựng lại cái thế giới tuổi thơ, vì ở đấy, dù sao, trong cái buồn, còn có cái đẹp và chất thơ. Ở đấy, ông còn nhận được ở “người chị dâu lam lũ, nghèo hèn, chút chân tình […] khi trái tìm chưa biết đập những tiếng giả dối nào” (Người chị dâu tôi); ở đấy còn có hình ảnh trong sáng thơ ngây của Em Fin “khiến trong lòng trẻ nhỏ nổi dậy một thứ rung động thầm kín, cái cảm giác đẹp đẽ mà tôi không tìm thấy được nữa trên đường đời” (Trong bóng rừng); ở đấy, cùng với Em Dìn, “Hai tôi lấy hoa mua cài lên đầu, lên áo và cùng cho rằng hương hoa mua thơm tuy thực ra nó vô cùng nhạt nhẽo. Chính ở cái chốn mà mây gió còn nguyên màu dĩ vãng đó, chúng tôi lớn lên hồn nhiên giữa bài thơ tưng bừng của sự sống” (Em Dìn)…

Nhưng chút ánh sáng trong trẻo hắt lên bầu trời của tuổi thơ ấy chỉ càng làm đậm thêm cái ảm đạm, tối tăm của cuộc đời. Vì nó chỉ ánh lên trong quá khứ để không bao giờ trở lại. Vậy thì hiện tại, tương lai còn có cái gì đáng hy vọng! Nhiều lần Hồ Dzếnh đã thảng thốt cất lên những lời trữ tình đầy thương tiếc: “Tôi đua đòi chạy tìm cái chân trời xa lạ, nhưng mỗi lúc dừng chân, tôi vẫn thích quay về Quê mẹ. Ở đấy mới thực sự rộn và sôi lên cái gì là lòng, là máu, máu và lòng không vay mượn, không chế tạo, thiết thực và đơn sơ”; Thi cười, “cái cười sung sướng, cái cười ngọt lịm, cái cười trong sáng như phalê. Nhưng ngày nay, đã mất theo tiếng cười ấy, tất cả những gì êm đẹp, thuần túy của hai tôi” (Mơ về nước Chúa); “Cuộc đời sung sướng của anh tôi đến đấy là hết. Và cũng đến đấy là hết mối tình thân thiết trong buổi đầu ngây thơ giữa ba chúng tôi. Ngày xưa không bao giờ về, vì hỡi ôi! Ngày xưa đi là mất” (Hai anh em).

*

Hồ Dzếnh gọi cái buồn của mình là “vô căn”, nghĩa là không gốc rễ. Một thứ buồn nội sinh. Ông mượn câu thơ của Baudelaire để diễn tả lòng mình:

Ta nghe máu chảy sầu rười rượi,
Khốn nỗi không tìm thấy vết thương.

Buồn từ nhỏ. Dường như sinh ra đã buồn – “Tôi là đứa trẻ đầy những nước mắt” (Con ngựa trắng của ba tôi) – Buồn trở thành một nhu cầu, thậm chí một khoái cảm, nên cứ “tự tạo ra đau khổ để sống, để sung sướng vì thấy mình đau khổ hơn người” (Chị Yên). Vì thế, ông thích những mối tình dang dở – “Đời chỉ đẹp khi hãy còn dang dở”. Ông triết lý: “Người ta yêu nhau chỉ để yêu nhau, Lấy nhau là tham lam ích kỷ”, “Xa nhau là yêu nhau thêm lên” (Em Dìn)…

Thực ra buồn đau và tiếc nuối quá khứ vốn là một yêu cầu thẩm mĩ của chủ nghĩa lãng mạn. Văn Hồ Dzếnh có thể xếp vào cái dòng tôi gọi là thứ văn xuôi trữ tình rất khó phân biệt là hiện thực hay lãng mạn – cái dòng của Thạch Lam, Thanh Tịnh. Không phải ngẫu nhiên mà hai tâm hồn ấy – Thạch Lam và Hồ Dzếnh đã bắt lấy nhau và trở thành đôi tri kỷ.

Nhưng tôi nghĩ, Hồ Dzếnh sâu hơn Thạch Lam. Sinh thời, Nguyên Hồng cũng có lần nói với tôi như thế: “Thạch Lam phong phú, rộng lớn hơn Hồ Dzếnh, nhưng Hồ Dzếnh sâu hơn Thạch Lam”.

Nguyên Hồng là cây bút dường như cứ tự trao cho mình cái thiên chức phải làm sao nói cho hết nỗi khổ của loài người với một tình thương thống thiết. Vì thế, có lẽ cái thước đo về chiều sâu trong văn chương của ông là sự thể hiện đến mức nào nỗi khổ của con người. Theo nghĩa đó, văn Hồ Dzếnh quả là sâu. Thế giới nhân vật của ông toàn là những con người vô cùng cực khổ, như bà mẹ của nhà văn “đau khổ ngay từ lúc lọt lòng” và định mệnh đã đem đến “một duyên phận tối tăm và buồn rầu” (Ngày gặp gỡ), như Em Dìn, chị Yên, chị đỏ Đương, anh đỏ Phụ… Ôi, khổ đến như chị Yên, em Dìn thì chỉ có cái chết mới mong giải thoát được.

Nhưng chiều sâu của truyện Hồ Dzếnh, theo tôi, con thể hiện ở cái yêu, cái ghét của ông không bao giờ hời hợt. Yêu thương thì phải đến “bậc tuyệt của Tôn giáo” (Chị Yên), còn ghét thì ông cho hiện lên cụ thể thành những Chú Nhì, nhất là ông Cậu nào đấy từ quê nội ông lần mò sang để làm khổ mẹ ông, làm khổ chị Yên của ông. Hồ Dzếnh không phải không yêu quý và tự hào về đất nước Trung Hoa với những con người đầy ý chí và nghị lực, sống tản mạn hầu như khắp mặt địa cầu. Nhưng không vì thế mà ông nhân nhượng với những con người kia, dù đó không chỉ là đồng hương mà còn là ruột thịt của ông nữa. Ông đã vẽ họ thành những con người bẩn thỉu và độc ác từ diện mạo, bộ dạng đến linh hồn…

Cho nên cái buồn của Hồ Dzếnh có vẻ đẹp và chất thơ của tình nhân đạo. Đấy là cái buồn của một con người không nỡ vui, khi thấy quanh mình những con người rất tốt, những con người đã bao bọc ông, nuôi dưỡng ông, mà phải chịu biết bao đau khổ.

Trong cái buồn của Hồ Dzếnh cũng có phảng phất cái buồn tha hương sầu xứ truyền lại từ dòng máu người cha phải rời bỏ quê hương, lang thang phiêu bạt kiếm ăn ở xứ người.

Nhưng cái khối sầu muộn nội dung nhân đạo sâu sắc của Hồ Dzếnh chủ yếu bắt nguồn từ quê mẹ, từ lòng mẹ – “Lòng mẹ tôi mới thật là cái địa hạt tình cảm của tôi” (Thằng cháu đích tôn) và từ tấm lòng nhân hậu của tất cả những người dân lao động nghèo khổ trên quê mẹ, trên đất nước Nam này mà ông vô cùng yêu quý: “Hỡi nước Nam! Tôi nghiêng lòng xuống Người, trên những luống cày mà hương thơm còn phảng phất, vì tôi đã từng uống nước và nói thứ tiếng của Người, vì tôi đã “yêu Người đến bậc tuyệt của Tôn giáo”. Trên dải đất súc tích những tinh hoa của văn chương, những công nghiệp của lịch sử, tôi còn ghi cả những bóng dáng người xưa tôi thương yêu, và trong số những người này, chị Yên của tôi là một” (Chị Yên).

Hồ Dzếnh hầu như đồng nhất Tổ quốc Việt Nam với tấm lòng thân phận những bà mẹ, những người phụ nữ Việt Nam nghèo khổ lam lũ đã làm nên đất nước này và dân tộc này bằng mồ hôi, nước mắt và khí huyết của mình. Không phải ngẫu nhiên mà nhân vật đẹp nhất, thương nhất, đáng trân trọng nhất của Hồ Dzếnh thường là những phụ nữ, như chị đỏ Đương, chị Yên, Em Dìn, Em Fin hay người chị dâu Trung Hoa tội nghiệp.

Ở nước nào tôi không rõ, chứ trên đất nước Việt Nam này, tôi cho rằng, một trong những tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá tinh thần nhân dân văn, ý nghĩa nhân bản của văn chương nghệ thuật là thái độ của nghệ sĩ tiến bộ đến mức nào đối với người phụ nữ, là cảm thông đến mức nào với thân phận, với khát vọng, ước mơ và những nỗi đau của họ. Hãy vận dụng tiêu chí ấy vào trường hợp chị đỏ Đương (Sáng trăng suông), trường hợp chị Yên và nhất là Em Dìn. Hồ Dzếnh quả là một trái tim vô cùng nhân hậu, dường như đập cùng một nhịp với trái tim người em gái trong khát vọng về hạnh phúc lứa đôi, trong tình yêu mãnh liệt và chân thật – chân thật và mãnh liệt đến mức dại dột. Và trong nỗi đau đớn tột cùng của tuyệt vọng. Trong xã hội đầy cạm bẫy, một tình yêu như của Em Dìn tất dẫn đến kết cục hết sức bi thảm.

*

Trong lời tựa Chân trời cũ, Thạch Lam viết: “Tác giả đã ít nói đến mình, để làm trội những nhân vật khác, tuy rằng lúc nào tác giả cũng là vai chủ động trong các truyện”.

Đúng thế, có một cái tôi Hồ Dzếnh tuy rất khiêm nhường nhưng luôn luôn có mặt trên mọi trang viết.

Ấy là một cậu bé không hề che giấu những thói vòi vĩnh, đành hanh, nhõng nhẽo rất trẻ con của một đứa con trai út được mẹ nuông chiều.

Một cậu bé thật giàu trí tưởng tượng. Tuổi thơ vốn là thế – “Tôi tuổi nhỏ nên vẫn dễ tưởng tượng” – tác giả cũng tự nhận như vậy. Nhưng ở Hồ Dzếnh, hình như trí tưởng tượng có phần phát triển hơn mức bình thường. Một phần chắc do cái số phận éo le của cậu: tuy quê nội là đất nước Trung Hoa nhưng chưa bao giờ được thăm, chưa một lần được thấy, nên chỉ biết tưởng tượng ra một vùng sông núi biển hồ mênh mông, gợi lên từ những mẩu chuyện hoài niệm của người cha bên khay đèn thuốc phiện. Một đất nước ở tận “bên kia trùng dương” mịt mù – cậu thường nghĩ thế. Còn một vài người đến với cậu từ quê hương ấy thì lại có một cái gì bí mật của những kẻ giang hồ phiêu bạt góc bể chân trời… Toàn là những điều khơi mạnh vào trí tưởng tượng của tuổi thơ.

Ấy là một cậu bé mang hai dòng máu, nên thấy mình rơi vào một thân phận dang dở – “Có ai hỏi tôi yêu nước Nam hay nước Trung Hoa thì tôi chỉ còn biết khóc! Tôi khó mà nói ra đây, cái tâm trạng phức tạp của một người mà huyết quản chứa đựng hai thứ tinh hoa, ngoài sự để cho lòng mình rung động, rung động đến tận cùng vì một tâm tình nghìn đời không có lời phân giải” (Thằng cháu đích tôn).

Đã thế, cậu lại sinh ra khi gia đình sa sút. Bố mất. Những cuộc xô xát dữ dội giữa mẹ và dì ghẻ. Rồi anh em mỗi người phiêu bạt một nơi. Kết cục là một gia đình hoàn toàn tan rã… Cho nên Hồ Dzếnh sớm mang trong lòng một khối sầu lớn, tưởng như số kiếp mình nó vậy.

Một trí tưởng tượng như thế, cùng một khối sầu như vậy đã đem đến cho cậu bé một tâm hồn lãng mạn đến mức “ao ước cái chết của Lý Bạch”, nghĩa là nhảy xuống dòng nước để vớt lấy vầng trăng (Vừa một kiếp người).

Nhưng nét đẹp nhất, đáng quý nhất ở cậu bé là lòng nhân hậu, vô cùng nhân hậu. Đức tính ấy sinh ra từ lòng mẹ và được ôm ấp, nuôi dưỡng, phát triển lên bởi tấm lòng của những người phụ nữ nghèo khổ, quê mùa mà tinh thần vị tha và đức hy sinh đã đạt đến mức thánh thiện, như chị Yên – người đàn bà “tượng trưng cho cái tinh thần Việt Nam cao quý”, hay như chị đỏ Đương – “Tôi yêu chị đỏ Đương của tôi, và nhiều chị đỏ Đương khác, vì tôi yêu vô cùng cái dải đất cần lao này, cái dải đất thoát được ra ngoài sự lọc lừa, phản trắc, cái dải đất chỉ bị bạc đãi mà không bạc đãi ai bao giờ” (Sáng trăng suông).

Lòng nhân hậu của bé thật cảm động. Tuổi nhỏ đã biết gì đâu, vậy mà luôn luôn lo lắng vun đắp hạnh phúc cho người lớn, cho các anh, các chị, cho chị đỏ Đương, cho anh đỏ Phụ, và cho Em Dìn. Một cậu bé luôn ôm “một giấc mộng to tát, cái giấc mộng cao quý, phác vẽ, xây đắp hạnh phúc không cho mình mà cho một người, cho hai người yêu dấu” (Sáng trăng suông).

Một điều cũng rất quý ở nhân vật “tôi” này là một tâm hồn vô cùng chân thật và trong sáng – chính vì quá chân thật và trong sáng mà đã phải nhận một cái tát trái cực mạnh của người anh cả: vào buồng vắt sữa thừa cho chị dâu và nhận xét “vú chị ấy to quá”. Cái chi tiết này nói được cả cái chất hồn nhiên chân thật của người thiếu phụ Trung Hoa, đồng thời thể hiện cái chân thật, cái trong suốt không một chút vẩn bụi của tâm hồn cậu bé “có lớn mà chưa có khôn” như những bà mẹ thường mắng yêu đứa con dại dột của mình như thế. Nhưng đấy chính là chỗ sáng nhất, đẹp nhất của nhân vật “tôi” – người kể chuyện.

*

Mở đầu truyện Lòng mẹ, tác giả viết: “Quê mẹ tôi ở Trung bộ. Nhà Người – tôi không làm thơ đâu – ở bên kia một dòng sông nhỏ, êm dịu với hai bờ lau xanh”.

Ý tác giả muốn nói, ông không hề muốn tô vẽ, thi vị hóa cuộc đời. Nhưng như thế vẫn là thơ đấy. Hồ Dzếnh thật sự là một thi sĩ, thi sĩ trong thơ và thi sĩ trong văn xuôi – mà hình như ông lại chủ yếu là nhà thơ trong văn xuôi. Một con người giàu tình cảm, giàu cảm xúc, lại giàu tưởng tượng như thế không làm thơ sao được! Sự thật, cảnh thật, người thật, lọc qua tâm hồn của Hồ Dzếnh bao giờ cũng trở thành thơ. Một chất thơ gắn chặt với đất, với người, với sự sống đầy gian lao vất vả còn nhiều oan khiên của những người nông dân Việt Nam nghèo khổ.

Có thể tìm thấy hầu như trên mọi trang viết của Hồ Dzếnh của những ý thơ, tứ thơ đầy xúc động phổ vào những dòng chữ rung lên những âm điệu bổng trầm. Tất nhiên toàn là những tứ thơ buồn:

“Yên hay ru tôi ngủ: tiếng hát của Yên rất buồn, buồn vì lòng Yên sẵn buồn, hay vì tự ngàn xưa, tiếng ru em vẫn buồn như thế?

“Thế là hết, một trong những tấn kịch đau đớn nhất của gia đình tôi. Trên đỉnh núi Nhồi ngày nay, vẫn còn nhô lên một mô đá, tượng hình người mẹ dắt tay con, đợi chồng trong quãng bao la vô hạn. Và ngày nay, mỗi lần về Thanh Hóa, ngồi trong tàu, đưa mắt nhìn mô đá cũ, tôi ngờ đó là hình dáng người chị dắt em…” (Chị Yên).

“Nhiều lần, ở xa, nhớ đến người con gái vô tình đi qua ngày tháng của tôi, tôi mang máng nghe tỏa từ quãng mênh mông một tiếng gọi gì buồn bã, một tiếng gọi không hiểu chính của lòng tôi hay của khu rừng linh thiêng nghìn đời lặng lẽ.

– Em Fin! Em Fin (Trong bóng rừng).

“Mấy điểm đèn hạt đậu run trên sông như những con mắt buồn từ kiếp trước” (Ngày gặp gỡ).

“Ở lòng mỗi người trong ba anh em chúng tôi đều có hình ảnh một bà cụ già, vẻ mặt đau khổ, chống gậy chiều chiều trông ngóng một bầy con không về” (Vừa một kiếp người).

“Tôi hiểu biết người đàn bà ấy lắm, người đàn bà buồn khổ sàng từng hạt mẳn xuống nong, trong khi trời chiều sàng từng giọt hoàng hôn xuống tóc” (Người chị dâu tôi) v.v…

Kết thúc bài viết, tôi muốn nêu nhận xét này: toàn bộ Chân trời cũ đều là chuyện của một gia đình, một gia đình đặc biệt tạo nên bằng hai dòng máu Việt – Hoa. Vậy mà gấp cuốn sách lại, ngẫm nghĩ mà xem, có ai coi đây chỉ là truyện của một gia đình đâu!

Mỗi cá thể người đâu phải chỉ là con của một nhà. Đó là sự kết tinh của triệu triệu năm lịch sử tiến hóa của nhân loại, là con đẻ của hàng nghìn năm văn hóa của một dân tộc. Cho nên mỗi con người dù chỉ bình thường như chúng ta vậy thôi, cũng là cả một thế giới với bao nhiêu điều bí ẩn mà văn chương nghệ thuật không biết đến bao giờ mới khám khá cho hết được.

Cho nên cứ đào sâu, thật sâu vào con người, dù chỉ của một gia đình, cũng sẽ gặp được dân tộc và nhân loại.

Tôi nghĩ đó cũng là một bài học có ý nghĩa của tác giả Chân trời cũ.

Quan Hoa, ngày 2 – 7 – 2006
GS Nguyễn Đăng Mạnh

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *