TIẾC MỘT NGƯỜI

      No Comments on TIẾC MỘT NGƯỜI
Phan Chánh Dinh/
nhà thơ Phan Duy Nhân

Nguyễn Phúc Vĩnh Đương

 Những người lui quá vãng
Tạc hình trong gió bay…

(VĐ)

Bạn Lê Thúc Thái, cựu giáo sư trường VBQGVN ở Huế gửi cho tôi một bài viết của Hồ Đình Nam, em vợ của họa sĩ Đinh Cường, hiện đang định cư tại Anh quốc. Bài viết với tựa đề “Trên trang giấy trắng nói bao nhiêu điều” đề cập tới hai người bạn thân của anh là Phan Nhật Nam và Phan Chánh Dinh (thi sĩ Phan Duy Nhân). Cả hai là bạn cùng học  trường Trung học Phan Châu Trinh Đà Nẵng. Phan Nhật Nam và giáo sư Trần Gia Phụng, cũng là nhà nghiên cứu Sử, học trên Dinh một lớp. Trong bài viết Hồ Đình Nam cho biết Phan Chánh Dinh và Phan Nhật Nam đã từng hứng chịu những khổ nạn của định mệnh khắc nghiệt trong cuộc đời và cuối cùng trở thành hai kẻ đối đầu. Hồ Đình Nam nhắc tới Phan Duy Nhân trong thời gian học Đệ nhất C trường Quốc học :“Anh tá túc trong ngôi nhà từ đường của người bạn Vĩnh Đương. Đó là một nơi yên tĩnh, rất thơ mộng vì nhà nằm sát bờ sông từ Bến Ngự chảy xuống An Cựu”

Đúng vậy,  Phan Duy Nhân học Đệ nhất thì tôi đang học năm thứ hai trường Luật. Chúng tôi quen biết nhau từ trước qua những lần uống cà phê Lạc Sơn, một kiosque nhỏ trước chợ Đông Ba Huế. Lúc bấy giờ gia đình Nhân ở trong một căn nhà rất nhỏ trên dốc cầu Kho Rèn. Đó là một trạm gác cổng hỏa xa, nơi mà cha của Nhân hằng ngày có nhiệm vụ lên xuống cổng chắn đường, giữ an ninh mỗi lần có chuyến tàu chạy qua. Tôi đã thường đến đó và có lần chứng kiến Nhân thay cha xuống barrière chận đường, phất đèn bão cho  một chuyến tàu đêm vào ga Huế.

Tôi sống một mình trong căn nhà từ đường với 2 phòng ngủ. cho nên khi thấy hoàn cảnh của Nhân, tôi ngỏ ý để một phòng cho Nhân tạm trú để ăn học. Từ ngày có Nhân, chúng tôi thường đi ăn với nhau, cơm hàng cháo chợ, gặp đâu ăn đó…khi trong chợ Bến Ngự , khi trong chợ Đông Ba…Sống với Nhân, tôi nhận ra Nhân là một người có nghị lực, ăn nói hoạt bát, thuyết phục và có trí nhớ tuyệt vời. Nhân thích đọc sách như Tam Quốc Chí, Đông Chu Liệt Quốc, biết nhiều điển tích và cổ sử Trung quốc. Nhân làm thơ rất nhiều và được đăng trong nguyệt san Bách Khoa thời bấy giờ. Anh là một trí thức dấn thân. Thơ của anh phản ảnh được đời sống hiện thực, tình yêu, tư tưởng đấu tranh và khát vọng tự do và thống nhất đất nước như trong một vài  câu thơ  tiêu biểu sau đây.

Về cuộc sống nghèo khó

Cơm buổi chiều ta xới chưa đầy bát
Mẹ già ta mùa rét áo se vai
Ngẩng đầu lên chưa bao giờ mỏi mệt
Hai mươi năm hy vọng lớn theo đời…

    (Ngậm ngải tìm trầm – Bách Khoa)

Con đã ngấy những ngày thư viện đói
Nói khôi hài kinh kệ những ai xưa
Khi rách áo xem ra chiều thủ lợi
Không manh tâm thiên hạ cũng nghi ngờ

    (Thơ cho mẹ và chị – Bách Khoa)

Về thân phận con người

Thân xác ấy thôi rồi tan rã hết
Vào hư vô không giọt máu hồng tươi
Tôi đã dặn khi giã từ cuộc sống
Nhớ cho tôi xin lại trái tim người…

    (Trái tim còn lại)

Về tình yêu 

Nhắm mắt để nhìn em thật rõ
Thanh thoát trong tôi một đóa hồng
Đêm sáng lên từ tia lửa nhỏ
Hồn tôi nắng sưởi giá băng tan…

Về ý hướng tranh đấu và ước mơ

Khi Gagarin (1) bay vào quỹ đạo
Trán ưu tư ta tím sẫm nét nghi ngờ…

Nỗi căm hờn sôi trong lòng tuổi trẻ
Trong mắt anh trong tiếng chị kêu gào
Trong vỗ tay cười trước nỗi thương đau
Ta bừng giận sóng xô trời biển dậy
Ta đã khát trăm năm rồi cổ cháy
Vì kêu la trên nỗi chết không rời
Những anh hùng tuổi trẻ Việt Nam ơi !

Nhân rất ít bạn, không giao du nhiều trong giao tế. Những người bạn thường chơi với Nhân ở Huế mà tôi cũng quen biết như Trần Hữu Lục, tác giả cuốn “Bên kia sông”, Trần Quang Long. Ngô Đức Chương, Huỳnh văn Hiến , Nguyễn Đính (Trần Vàng Sao) Hồ Đình Nam v..v.. là những người viết văn, làm thơ và có máu văn nghệ… Ngoài giờ đi học ở trường Nhân thích ở nhà hay đến thư viện đọc sách, nghiên cứu. Tôi cũng đưa cho nhân một số sách triết của Foulquié mà tôi đã học trước đây để Nhân đọc thêm cho kỳ thi tới.

Cuốn sách mà Nhân thích và cố tra cứu để đọc là cuốn “Giai Cấp Mới” (The New Class: An Analysis of the Communist system) của Milovan Djilas, một đảng viên Cộng sản Ba Tư bị khai trừ khỏi đảng, tước hết chức vụ. Năm 1956 bị xử 3 năm tù vì ủng hộ cuộc khởi nghĩa ở Hungary. Bản thảo cuốn sách được viết trong tù, được bí mật đem ra xuất bản tại New York Hoa Kỳ  năm 1957 như tác phẩm Hoa Địa Ngục của  nhà thơ Nguyễn Chí Thiện.

Một hôm đi thư viện về Nhân chìa cho tôi một cuốn sách “Cổng Trường Vôi Tím” của Nhã Ca và nói :

– Cậu đọc đi tên họ cậu “Anh Vĩnh Đương, chị Phương Thảo….” (em của ca sĩ Hà Thanh,vợ của giáo sư Bùi Tường Huân Khoa trưởng Luật khoa Huế sau này) được nói đến trong chuyện này, nhưng cậu trong câu chuyện trông cù lần lắm ! …

Tôi chỉ cười vì tôi đã đọc rồi… Nhân cũng cho tôi biết sẽ vào Đà Nẵng, Hội An một vài ngày. Khi về tôi mới biết Nhân vào thăm cô bạn gái Dương thị Ngân Hà, và sau này cũng là vợ của Nhân. Thảo nào Nhân có thêm bút hiệu mới “Dương Phù Sao”từ đó.

Trước khi đi tôi yêu cầu  Nhân thu dọn căn phòng đang ở vì quá bề bộn, áo quần, những mẩu bánh mì còn sót lại, sách vở để tứ lung tung. Những quần áo tôi đưa cho Nhân mặc, nhất là quần dài đều bị Nhân xé ống để làm quần short mặc ở nhà cho mát.

Kỳ thi đến, Nhân đậu thi viết, ngày thi oral tôi đã đi theo Nhân cả một buổi sáng. Đến môn Triết, số báo danh của Nhân được vào phòng của một nữ giáo sư Nguyễn Khoa Diệu Tr…, giáo sư này vừa tốt nghiệp Đại học sư phạm Triết. Khi Nhân vào, không biết cô ta hỏi Nhân câu gì, nhưng khi Nhân trả lời thì tôi nghe rõ :

– “Thưa cô, Phàm khi hai địch thủ tranh hùng thì không bao giờ một trong hai bảo ngưng lại và hỏi nhà ngươi dùng chiêu gì ? Nhưng thưa cô những gì em chứng minh là tư tưởng của Milovan Djilas trong cuốn  “Giai Cấp Mới” (New Class) của ông ta trang 18…”

Nghe Nhân trả lời tôi thầm nghĩ “Thôi rồi ! uổng công toi, rớt là cái chắc” Nhân không những trả lời hơi hỗn láo mà còn dùng chữ “phàm, nhà ngươi” như trong các truyện kiếm hiệp của Kim Dung. Không biết cô ta nghĩ gì và cho Nhân bao nhiêu điểm. Khi Nhân ra tôi nói ngay : “Cậu về nhà học lại để thi kỳ hai thì vừa”

Hai hôm sau, tình cờ gặp được một giáo sư quen có chân trong hội đồng chấm thi, khi vào nhà sách Ưng Hạ trên đường Trần Hưng Đạo, tôi khẩn khoản nhờ thầy xem dùm điểm thi oral môn Triết của Nhân. Thầy hứa sẽ giúp tôi. Và rồi tôi rất ngạc nhiên khi thầy cho biết Nhân được 10/20 điểm, thầy còn cho biết bài viết môn Triết của Nhân phải đưa ra hội đồng xét duyệt vì viết quá dài (16 trang) và nhiều ý tưởng mới lạ. Không hiểu nữ giáo sư Triết đã đọc “Giai Cấp Mới” của Djilas chưa ? nhưng cô tỏ ra nhân hậu và rộng lượng khi cho Nhân điểm trung bình…Với những giáo sư khác chắc chắn Nhân bị đánh rớt rồi.

Nhân thi đậu, tôi và hai người bạn góp tiền khao Nhân tại tiệm ăn Lạc Thành ở cửa Thượng Tứ. Trong bữa ăn Nhân tri ân bạn bè và cho biết sẽ đi xa tìm việc vì Huế không phải là đất dụng võ. Huế ở để mà sầu, đi để rồi nhớ…

Mỗi lần về Huế rồi xa Huế
Anh cứ rưng rưng nỗi tạ từ
Đâu chỉ chia tay cùng kỷ niệm
Nồng nàn trong Huế vẫn em xưa…
(Phan Duy Nhân)

Tuần sau đó Nhân đã ra đi, buổi chiều về nhà tôi chỉ thấy trên bàn một mảnh giấy cho tôi biết nơi Nhân cất dấu chìa khóa nhà và một bài thơ “Những điều nói thật với Vĩnh Đương”. Bài thơ khá dài, lâu rồi tôi đã làm thất lạc chỉ còn nhớ những câu cuối cùng và cũng nhờ đó mà Nhân nhận ra tôi qua điện thoại sau 51 năm xa cách.

Năm kế tiếp sau khi hoàn thành cử nhân Luật, tôi cũng bỏ Huế vào Sài gòn học cao học và làm việc. Chúng tôi mất liên lạc với nhau từ đó.

Đời sống của hai chúng tôi nổi trôi theo dòng lịch sử của đất nước. Sau hơn 3 năm trong trại tập trung trở về, gặp Lê Nuôi, người em kết nghĩa của tôi cho biết khi bỏ Huế mà đi Nhân vào dạy học trường Nguyễn Duy Hiệu ở Điện Bàn, Quảng Nam do Hồ Đài làm hiệu trưởng…rồi thoát ly lên chiến khu..?  Năm 1966 tham gia phong trào đấu tranh của Phật giáo.  Mồng 1 Tết Mậu Thân anh dẫn đoàn biểu tình từ chùa Tỉnh Hội Đà Nẵng ra đường phố thì bị lính của Phan Nhật Nam bắn gãy chân..? bị bắt, bị đày ra Côn Đảo. Anh bị tù từ 1968 đến 1973, và được thả ra trong cuộc trao đổi tù binh tại Lộc Ninh năm 1974 theo hiệp định Paris.  Anh trở về với tên mới Nguyễn Chính, Trưởng ban tuyên giáo của chính phủ Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Nuôi nói : “Em có số điện thoại của anh Nhân, anh có muốn gặp anh ấy không ?” rồi lục ví tìm đưa cho tôi. Tôi gọi Nhân :

 Alô ! Ông có phải là Phan Chánh Dinh không ?

 Vâng, tôi đây

 Ông có biết ai đang nói chuyện với ông không ?

– Nghe giọng nói quen quen, nửa Huế nửa NhaTrang…

 Bây giờ để tôi đọc mấy câu thơ này thì ông sẽ nhận ra.

 Cơm buổi chiều ta xới chưa đầy bát
Mẹ già ta mùa rét áo se vai
Ngẩng đầu lên chưa bao giờ mỏi mệt
Hai mươi  năm hy vọng lớn “hơn” đời…

 Thơ của tôi nhưng ông đọc sai một chữ. Hai mươi năm hy vọng lớn “theo” đời

– Và đây nữa

Khi Gagarin bay vào quỹ đạo
Trán ưu tư ta tím sẫm nét nghi ngờ… 

– Chịu thôi !

 Chưa hết, nghe đây

Một mai nào đó
Một nơi nào đó Sài gòn, Qui Nhơn, Pleiku, hay Kontum
Anh chết mất xác, tôi chết mất xác
Phố xá sẽ dửng dưng không vui, không buồn
Nhưng tôi vẫn nghĩ về anh
Trong sạch như cây soan bên bìa rừng có hoa màu đỏ… 

 Vĩnh Đương !

Nhân đã nhận ra tôi ngay vì đó là đoạn cuối trong bài thơ Nhân làm để lại cho tôi trước khi bỏ “U tình cốc” mà đi. Nhân cho biết là đang đi công tác ở Ban Mê Thuột, hẹn gặp lại nhau sau.

Qua chương trình HO tôi đã được định cư tại Hoa Kỳ, sau hơn 3 năm trong trại tập trung và 10 năm dạy ở Trung tâm Nghiên cứu Dịch thuật, Hội Trí thức yêu nước và các trường Trung Học của nhà nước xã hội chủ nghĩa.

Năm 2015, trở về VN  thăm mẹ già ở Nha Trang, tôi đã đến thăm Nhân bị tai biến mạch máu não và bệnh tim đang nằm điều trị tại bệnh viện Thống Nhất. Tôi phải trả 2000 đồng và phải chờ đủ 10 người để được lên lầu 5 bằng thang máy. Bệnh viện này bây giờ dành cho cán bộ cao cấp, phòng hai người. Nhân nhờ tôi dìu ra hành lang nói chuyện cho thoải mái hơn. Câu đầu tiên tôi hỏi Nhân “Bây giờ như vậy rồi, cậu nghĩ sao ?” Tôi muốn biết lập trường và ý hướng của Nhân ra sao. Hiểu ý tôi Nhân trả lời :

 “Hãy trả lại cho nhân dân”.

Qua câu trả lời của Nhân tôi thầm nghĩ Nhân không phải là một người Cộng sản chuyên chính, sắt máu như người ta lên án mà chỉ là một trí thức dấn thân đấu tranh cho sự bất công, tư do, công bằng xã hội và thống nhất đất nước.  Dùng thơ làm vũ khí thực thi lý tưởng của mình. Những hoàn cảnh nghiệt ngã đã xô đẩy Nhân về phía bên kia chiến tuyến, thêm vào đó “phía bên kia” quá cường điệu, tạo ra những thành tích, những huyền thoại để đánh bóng biến Nhân thành một nhà đấu tranh cách mạng kiên cường.

Trong  tác phẩm “Phan Duy Nhân-Thơ & Đời” do bạn bè Nhân xuất bản, nhà giáo Lê Công Cơ cho biết ông và Nhân đã lập ra “Quán Bạn” trên đường Phan Châu Trinh bên bờ sông An Cựu để qui tụ nhóm Ngô Kha, Trịnh Công Sơn, Đinh Cường, Lê Tử Thành, Lê Thanh Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan.v..v. Điều đó là không đúng. Ai bỏ tiền ra để thiết lập quán, với Nhân thì không có tiền. Nếu tổ chức nằm vùng bỏ tiền ra thiết lâp quán và để nhà giáo Lê Công Cơ và Phan Duy Nhân điều hành thì Nhân đâu đến nỗi đói mà phải than:

Ngã bảy ngã ba hẹn hò bè bạn
Áo cơm nhau nhờ vả đến bao giờ

Thơ với ngô khoai bánh mì giữa chợ
Có kiên gan Lã Vọng  cũng buông cần

Khí phách văn chương công bằng cách mạng
Xưng lỡ anh hùng không lẽ đến xin ăn.

Hơn nữa, tôi xác nhận Phan Duy Nhân không sinh hoạt và ở trong nhóm của Ngô Kha, Trịnh Công Sơn… Nhóm này thường tụ họp tại “Tuyệt tình cốc” của Hoàng Phủ Ngọc Tường hay tại quán cà phê gần nhà của Nghị sĩ Trần Điền, nhà thờ Chúa Cứu Thế-Huế.

Vả lại cuốn sách gối đầu của Nhân là “Giai Cấp Mới” của Milovan Djilas, sách đã cho thấy mặt trái của chế độ chuyên chính vô sản của Cộng sản và những đặc điểm mang tính chất đặc thù của chủ nghĩa Cộng sản : kiêu ngạo, hợm hĩnh, phản khoa học, quan liêu và dối trá…Nhân đồng tình với những nhận xét trên của Djilas thì không thể là một người Cộng sản được. Sau khi gặp Nhân, tôi muốn viết một bài về Nhân nhưng giáo sư Trần gia Phụng và bà Nhã Ca khuyên ngăn vì sợ bị hiểu lầm, nhưng bây giờ tôi muốn nói lên sự thật khi nhà thơ tranh đấu đã ra đi không còn gì để liên lụy, lo lắng và sợ hãi nữa.

Tôi đồng ý với nhà văn Phan Nhật Nam khi viết về Phan Duy Nhân “Tôi không tin rằng anh là người Cộng sản thuần thành mà chỉ là người mang nhiệt tình vào cuộc đấu tranh cho độc lập, hòa bình, công bằng nhân đạo để anh em bằng hữu thương yêu nhau, thế hệ trẻ thơ chào đón tương lai vui hòa hạnh phúc..”  Trong cuốn “Ải Trần Gian” Phan Nhật Nam không ngần ngại viết lên trang đầu “Tặng Phan Duy Nhân, kẻ hào kiệt”.

Với cái tình bao la của một nhà giáo, thầy hiệu trưởng trường Phan Châu Trinh, Đà Nẵng, Nguyễn Đăng Ngọc, cũng là  nhà biên khảo Hoàng Nguyễn khi được hỏi về hai cậu học trò của mình Phan Nhật Nam và Phan Duy Nhân (kẻ bên này, người bên kia) thầy nói : “Xã hội Việt Nam chúng ta, con người vẫn thường trực bị đẩy vào hai thế đứng đối nghịch, dù bên này hay bên kia lý tưởng, tất cả đều đã lớn tuổi để biết gánh chịu trách nhiệm của mình hôm nay và ngày mai.”

Năm 2017, tôi trở về Việt Nam, lúc này thì Nhân đã yếu lắm rồi, không đi đứng gì được nữa, con gái đưa cha về nhà , thuê người giúp Nhân trong sinh hoạt hằng ngày. Người em kết nghĩa và tôi mất gần 2 giờ mới tìm ra nhà ở số 30 đường số 3 Ni sư Huỳnh Liên Phường 10 Quận Tân Bình. Nhân nằm ở lầu hai, tuy nằm liệt một chỗ nhưng vẫn còn nói năng bình thường. Nhân tiết lộ là có qua Mỹ (California) một lần, tá túc nhà họa sĩ Hồ Thành Đức và Đức giấu kín không cho bạn bè biết.

Khi hỏi về đời sống hiện tại của gia đình, cô con gái cho biết lương hưu của Nhân 5 triệu đồng mà trả cho người giúp việc 6 triệu nên cô phải phụ thêm.

Suốt buổi thăm viếng, chúng tôi nhắc đến những kỷ niệm xa xưa mà không đề cập một chút gì về chính trị. Nhân bảo con gái lấy một tờ giấy trắng và một cây viết rồi đọc một bài thơ cho cô con gái chép để tặng cho chúng tôi. Khi về lại Mỹ tôi đã đưa cho Hồ Thành Đức để đăng báo nhưng không thấy đâu cả. Bây giờ xin phổ biến.

BIỂN 

Tặng Vĩnh Đương, Phan Nhật Nam và Hồ Thành Đức

Biển như vầng trán rộng
Thương đời triệu nếp nhăn
Người còn trong hữu hạn
Nhớ nghĩ hoài xa xăm
Biển gầm nơi sóng cuộn
Những nỗi đau âm thầm
Khối tình chôn giữa ngực
Đã hóa thành nam châm
Biển muôn đời dào dạt
Mà tĩnh lặng khôn cùng
Ra tới ngoài vô tận
Biển chảy vào không trung…

(Phan Duy Nhân)

Về lại Mỹ, hai tháng sau ngày 8 tháng 7 năm 2017 tôi được tin Nhân mất. Đúng là con tằm đến thác vẫn còn nhả tơ. Tôi và bạn bè mất đi một người bạn, văn học mất đi một nhà thơ…

Nhân đã yên nghỉ bình an, không băn khoăn nghi ngờ gì nữa cả. Những gì bạn nghi ngờ, nghĩ ngợi. ước mong ngày trước nay đã thành hiện thực. Neil Armstrong đã là người đầu tiên lên mặt trăng và Alyssa Carson, nữ phi hành gia trẻ, 19 tuổi đang được huấn luyện để là người đầu tiên lên sao hỏa. Đất nước đã thống nhất, không còn chia cắt… Như vậy bạn ra đi thanh thản, không oán trách không hận thù… Bạn đã tỏ ra quân tử, bao dung tha thứ cho kẻ tuyệt tình với bạn khi bạn đang gặp khổ nạn trong vòng lao lý. Bạn đã thể hiện đúng câu trong một bài hát của Trịnh Công Sơn “Yêu em lòng bỗng từ bi bất ngờ”.

Nguyễn Phúc Vĩnh Đương
(Cali mùa mưa bão)

(1) Gagarin : phi hành gia Liên Xô đầu tiên bay vào vũ trụ trong vệ tinh nhân tạo Sputnik năm 1957.

(Nguồn: https://vanhoavutvbqgvn.wordpress.com/)

Nguyễn Phúc Vĩnh Đương nguyên là Giáo Sư Văn Hóa Vụ tại Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam (Đà Lạt)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *