Biển Đông năm ấy không chỉ có sóng. Biển Đông có tiếng khóc trẻ con khản đặc vì khát nước. Có những người mẹ ôm xác con mà không dám buông tay. Có những người cha nhìn ra chân trời đen đặc, biết chiếc ghe gỗ của mình không thể sống nổi thêm một đêm nữa.
Và giữa mênh mông tuyệt vọng ấy đã có hai con tàu mang hình dáng của thiên thần.
Île de Lumière và Cap Anamur.
Không biết hôm nay… những người từng được vớt lên từ lòng biển chết ấy còn nhớ không? Có còn nhớ khoảnh khắc nhìn thấy lá cờ lạ ngoài khơi? Có còn nhớ tiếng người thủy thủ hét lớn bằng thứ ngôn ngữ mình không hiểu… nhưng nghe như tiếng cứu mạng?
“Đừng sợ! Chúng tôi đến cứu các bạn!”
Một người đàn ông từng vượt biên kể lại: “Lúc đó ghe tôi gần chìm rồi… máy hư, nước tràn vô. Đứa con gái tôi mới ba tuổi nằm mê man vì sốt. Vợ tôi chỉ biết ôm con mà khóc: — Mình ơi… chắc gia đình mình chết ngoài biển rồi… Tôi không trả lời được. Vì chính tôi cũng nghĩ vậy.” Ông nói, đúng lúc ấy, từ phía xa xuất hiện một con tàu trắng. Ban đầu ai cũng tưởng hải tặc. Cả ghe im phăng phắc. Rồi có người bật khóc khi thấy trên tàu có dấu thập đỏ. Một thủy thủ người Đức quăng dây xuống, vừa kéo vừa la lớn: — Slowly! Slowly! — Children first!
Người mẹ trao đứa con gái nhỏ lên trước. Đứa bé đã bất tỉnh. Một nữ y tá ôm lấy nó, chạy thật nhanh vào trong. Người mẹ quỵ xuống boong tàu, vừa khóc vừa chắp tay: — Trời ơi… con tôi sống rồi… con tôi sống rồi…
Không ai trên con tàu ấy hiểu tiếng Việt. Nhưng hôm đó… mọi giọt nước mắt đều hiểu nhau. Có những người được cứu bởi tàu Pháp, Île de Lumière — “Đảo Ánh Sáng.” Cái tên nghe như một phép màu. Và đúng là phép màu thật.
Giữa những trại tị nạn đông nghẹt ở Pulau Bidong, nơi bệnh tật và đói khát bao trùm, con tàu ấy trở thành bệnh viện nổi giữa đại dương.
Có người kể:
“Tôi bị sốt rét và kiệt sức. Tưởng mình chết rồi.
Một bác sĩ người Pháp nắm tay tôi, nói chậm chậm: — No die… no die…
Tôi đâu hiểu tiếng Anh. Nhưng nhìn ánh mắt ông ấy… tôi bật khóc.”
Người bác sĩ đó không hỏi họ theo phe nào. Không hỏi họ giàu hay nghèo. Không hỏi họ đến từ miền Bắc hay miền Nam.
Ông chỉ cứu người.
Rồi sau đó là Cap Anamur — con tàu đã kéo hơn mười ngàn người Việt ra khỏi cửa tử.
Nhiều thuyền nhân đến hôm nay vẫn gọi ông Rupert Neudeck là “ân nhân tái sinh.”
Có người già nghẹn ngào nói với con cháu mình: “Nếu không có Cap Anamur… thì hôm nay làm gì có ba. Làm gì có tụi con…”
Một câu nói nghe nhẹ tênh. Nhưng bên trong là cả một nghĩa trang nằm dưới đáy biển.
Điều đau nhất là… nhiều người được cứu năm xưa giờ đã già. Con cháu họ lớn lên ở Mỹ, Canada, Úc, Đức… Cuộc sống cuốn đi. Có thể vài người đã quên mất tên con tàu từng cứu gia đình mình. Quên luôn khuôn mặt người thủy thủ đã bế mình từ ghe lên boong tàu năm đó.
Nhưng lịch sử thì không được phép quên.
Vì giữa một thế giới từng quay lưng với thuyền nhân Việt Nam… đã có những con người xa lạ dám lao tàu ra biển chết để cứu những người họ chưa từng quen biết. Họ không cùng màu da. Không cùng ngôn ngữ. Không cùng quê hương. Nhưng họ đã cứu người Việt bằng chính trái tim của mình.
Xin được cúi đầu tri ân:
Bernard Kouchner
Rupert Neudeck
và hàng ngàn bác sĩ, y tá, thủy thủ, tình nguyện viên Pháp và Đức năm xưa.
Họ không sinh ra ở Việt Nam. Nhưng lại là những người giữ cho biết bao gia đình Việt Nam còn được tồn tại đến hôm nay.
Có những tượng đài không xây bằng đá. Mà được dựng lên bằng sinh mạng con người được cứu sống.
Và
Île de Lumière
cùng
Cap Anamur
chính là hai tượng đài như thế.
Phạm Sơn Liêm
************************
LE DE LUMIÈRE, CHIẾC TÀU ĐÃ CỨU HÀNG CHỤC NGÀN THUYỀN NHÂN VN
Tác Giả: Từ Thức (Paris)
Nhân dịp các hội đoàn VN ở Đức xây tượng để tri ân ông Rupert Neudeck , người đã cứu trên 10 ngàn thuyền nhân với chiếc tầu Cap Anamur , cũng nên nhớ tới một chiếc tàu khác, Île de Lumière. Một chiếc tàu Pháp đã cứu hàng chục ngàn boat people khác.
CÁI BẮT TAY LỊCH SỬ
Ile de Lumière ( Đảo Ánh Sáng ) cũng tạo ra cái bắt tay lịch sử của hai trí thức, triết gia hàng đầu của Pháp: một của phe tả, Jean Paul Sartre, một của phe hữu, Raymond Aron. Và làm lung lay, nếu không tan vỡ, giấc mộng thiên đường XHCN, thế giới đại đồng của cả một lớp trí thức không tưởng Ile de Lumière ra đời do sáng kiến của Bernard Kouchner, được gọi là French Doctor, vì đã sáng lập Médecins Sans Frontières, tổ chức Bác sĩ Không Biên Giới, đưa các y sĩ Pháp đi giúp đỡ nạn nhân chiến tranh hay thiên tai trên khắp thế giới. Trí thức Pháp thời đó có một ranh giới không ai muốn, hay có can đảm, vượt qua : tả và hữu Sartre và Aron chống nhau kịch liệt. Sartre thiên Cộng, đã từng nói ‘’những người chống Cộng là những con chó ‘’ (Tout anticommuniste est un chien) . Và không lỡ một cơ hội đả kích, miệt thị Aron.
Sartre và Aron tại dinh Tổng thống Pháp
Aron là triết gia, bình luận gia chính trị hiếm hoi đã viết sách, báo không ngừng nghỉ, để vạch trần bộ mặt thực của Cộng Sản, thực chất của chiến tranh VN, và hiểm họa độc tài toàn trị đe dọa thế giới.
Đó là một thái độ can đảm hiếm có ở một nước, một thời điểm, thiên tả đồng nghĩa với trí thức. Những người chống Cộng không dám bày tỏ ý kiến của mình, sợ bị coi là phản động ( réactionnaire ), chưa nói tới chống Cộng kiên trì , với những lập luận sắc bén như Raymond Aron hay Jean François Revel. Câu nói quen thuộc của trí thức thời đó : ‘’Thà lầm lẫn với Sartre còn hơn có lý với Aron ‘’ ( Il vaut mieux avoir tort avec Sartre que raison avec Aron ). Đó là cái phi lý của tinh thần mù quáng vì ý thức hệ. Sartre được ngưỡng mộ , Aron bị đả kích, chế nhạo, mặc dù với thời gian, người ta thấy , về chính trị, Sartre lầm từ đầu tới cuối, trong khi Aron có lý trên mọi phương diện. Sartre đã mua chuộc những lầm lẫn của mình bằng một thái độ đáng phục : khi tuổi đã cao, gác bỏ tự ái, đã cùng với Aron gõ cửa chính quyền, kêu gọi cứu giúp khẩn cấp các thuyền nhân VN
TỪ HẢI HỒNG TỚI ILE DE LUMIÈRE
Một ngày gần cuối năm 1979, chuyện khó tin nhưng có thực đã xẩy ra : hai ông lãnh tụ trí thức không đội trời chung, Satre và Aron, ngồi lại với nhau, lên tiếng ủng hô dự án Île de Lumière, kêu gọi dân Pháp mở rộng bàn tay tiếp đón thuyền nhân, nạn nhân của cái mà trước đó những trí thức như Sartre nghĩ là một cuộc giải phóng. Khi quân Khmer Đỏ tiến vào Pnom Penh, tờ báo trí thức thiên tả Le Monde viết : dân chúng chen lấn hai bên đường đón rước.
Thảm trạng của boat people trên chiếc thuyền Hải Hồng trên màn ảnh truyền hình đã làm họ tỉnh ngủ.
Hình ảnh lạ hơn nữa là Sartre cùng với Aron vào điện Elysée, yêu cầu tổng thống Giscard d’Estaing đón nhận những thuyền nhân trên lãnh thổ Pháp.
Sartre là một trí thức anarchiste, không nhìn nhận nhà cầm quyền, hay những cơ cấu của xã hội trưởng giả, đã từng từ chối giải Nobel Văn chương.
Bernard Kouchner
Nước Pháp còn là nơi tiếng nói của những trí thức lớn có ảnh hưởng đáng kể. Việc Sartre cùng với Aron vào dinh Tổng thống kêu gọi giúp boat people gây mộ tiếng vang lớn trong dư luận.
Tổng thống Giscard d’Estaing chấp thuận, dân chúng vui lòng đón tiếp và tận tình giúp đỡ trên 128. 000 thuyền nhân, chỉ trong những năm đầu, trong đó nhiều người đã được tàu Ile de Lumière cứu vớt ngoài khơi.
Nên nhớ lúc đó kinh tế Pháp đang kiệt quệ. Chính phủ Pháp đã quyết định ngưng nhận di dân. Việc đón tiếp, giúp đỡ, cấp giấy cư trú và giấy phép hành nghề dễ dàng cho hàng trăm ngàn boat people đi ngược lại chích sách nhà nước đã được dân Pháp ủng hộ. Hầu như không có một phản ứng tiêu cực nào, tại một xứ chia làm hai ; cái gì phe tả cho là tốt, phe hữu cho là xấu. Hay ngược lại.
Là sáng kiến của Bernard Kouchner, dự án Một con tàu cho Việt Nam được sự ủng hộ tích cực của các trí thức tả phái nổi danh như triết gia Michel Foucault, ca sĩ Yves Montand, tài tử Simone Signoret, trước đó chống Mỹ, chống chiến tranh VN.
Hình Sarte ngồi họp báo với Aron sau khi gặp Tổng thống Pháp chạy trên trang nhất tất cả các tờ báo lớn nhỏ. Ngồi giữa là André Gluckmann, triết gia thiên tả, maoiste ( người tôn thờ Mao ), sau vụ này trở thành chống Cộng. Ngày nay, tất cả đều đã qua đời, Sartre, Foucault, Aron, Gluckmann , Signoret, Montand. Bernard Kouchner về hưu. Sau khi tàu Ile de Lumière ngưng hoạt động, Kouchner rời Médecins Sans Frontières, sáng lập và điều hành tổ chức Médecins Du Monde ( Y Sĩ Thế Giới ), trước khi trở thành Tổng trưởng Ngoại Giao dưới thời Sarkozy.
NHÀ THƯƠNG NỔI
Ile de Lumière là một chiếc tàu cũ, 1500 tonnes, 90m chiều dài, được sửa cấp tốc, chạy tới đảo Poulo Bidong, ngoài khơi Mã lai , khởi đầu dùng làm nhà thương nổi, với 100 giường, chữa trị cho 20.000 thuyền nhân trên đảo.
Thuyền trưởng François Herbelin, 29 tuổi, nói đó là những kỷ niệm sâu đậm nhất trên đời ông. ‘’ Tôi rất cảm phục những người Việt rất bình tĩnh, có tổ chức, có tư cách ( digne ), quyết tâm ra khỏi đại nạn. Khi mới tới, họ kiệt lực, nhưng hồi phục rất nhanh, nghĩ tới tương lai ‘’.
Chín tháng sau, Ile de Lumière bắt đầu sứ mạng mới : ra khơi cứu vớt những thuyền nhân phấn đấu trên biển cả, giữa cái sống và cái chết, giữa mưa bão và hải tặc.
Hàng triệu người đã liều mạng vượt biển tìm tự do, với những phương tiện thô sơ gây kinh ngạc cho người Tây phương. Hàng trăm ngàn người bỏ mạng trên biển cả.
Ile de Lumière đã cứu hàng chục ngàn người, chở về Poulo Bidong chờ ngày được nhận đi định cư ở Hoa Kỳ, Canada hay Âu Châu.
Sau 14 tháng ngược xuôi, Ile de Lumière được thay thế bởi một chiếc tầu mới, Ile de Lumière II . Herbelin thành hôn với một phụ nữ thuyền nhân Việt Nam, trở thành thuyền trưởng một tàu thương mại. Làn sóng vượt biển bớt đi từ 1986, khi VN bắt đầu cởi trói, ít nhất về kinh tế.
DEVOIR D’INGÉRENCE
Ile de Lumière đánh dấu một phong trào tương trợ đáng cảm phục ở Pháp, và sau đó ở các nước Tây Phương. Bernard Kouchner nhân đó đưa ra chủ thuyết ‘’ Devoir d’ingérence ‘’ (Bổn phận phải can thiệp ), theo đó các nước dân chủ Tây phương có bổn phận phải can thiệp , để cứu các nạn nhân, tại những nơi nhân quyền bị chà đạp. Sau đó, các nước Tây phương đã nhân danh nguyên tắc này để đổ bộ can thiệp ở Kosovo.
Ile de Lumière cũng đánh dấu sự thức tỉnh của trí thức thiên tả Pháp. Trước đó, từ 1975 tới 1979, Khmer Đỏ thảnh thơi tàn sát ở Cambodge, không ai phản ứng gì. Người ta bịt tai, bịt mắt, bịt miệng để khỏi nghe, khỏi thấy, khỏi nói tới những sự thực phũ phàng.
Người ta không quên câu nói nổi tiếng của Sartre, khi giải thích tại sao ông ta không đề cập đến Goulag và những chà đạp nhân quyền ở Nga Xô Viết : Il ne faut pas désespérer Billancourt. Không nên làm Billancourt tuyệt vọng. Boulogne Billancourt là một ngoại ô của Paris, nơi có trụ sở của hãng Renault, tượng trưng cho thợ thuyền Pháp. Không đả động gì tới những tệ hại ở Nga để khỏi làm tuyệt vọng giới thợ thuyền, đang mơ thiên đường XHCN như ông già trong thơ Tố Hữu, ngồi đan rổ mơ nước Nga.
Raymond Aron, tác giả cuốn L’Opium Des Intélectuels ( Thuốc phiên của trí thức ) viết : những trí thức thiên tả là những nhà cách mạng phòng khách, căm ghét xã hội đang sống, một xã hội cho họ một đời sống sung túc và đủ mọi quyền tự do, trong đó có quyền tự do ngôn luận.
Sau làn sóng boat people, sau khi bức tường Bá Linh sụp đổ, phong trào thiên tả đi xuống, đảng Cộng Sản Pháp trước đó là một trong hai chính đảng lớn nhất, làm mưa làm gió ở Pháp, ngày nay trở thành một đảng bỏ túi, với trên 1% phiếu bầu.