CUNG TIẾN: ÔI, ĐÀN TRĂNG CŨ LÀM VỠ HỒN ANH!

Phạm Hiền Mây

I. CUNG TIẾN, NHẠC SĨ, NHÀ NGHIÊN CỨU ÂM NHẠC, NHÀ DỊCH THUẬT VÀ PHÊ BÌNH VĂN HỌC

Sinh năm 1938 và mất năm 2022, Cung Tiến là một cái tên, mà những người yêu nhạc Việt Nam, nhất là trong thời kỳ hai mươi năm, trước biến cố 1975, không ai là không biết.

Không ai là không biết, Cung Tiến là một nhạc sĩ của một dòng nhạc, vừa lãng mạn, sang trọng, vừa hàn lâm, quý phái theo lối bán cổ điển phương Tây. Gần như, tất cả các sáng tác của ông, đều là những tác phẩm có giá trị nghệ thuật và bất hủ, tức là, không bao giờ mất đi. Nó mãi mãi.

Ông tên thật là Cung Thúc Tiến, sinh trưởng tại Hà Nội. Ở bậc trung học, ông học ký xướng âm với nhạc sĩ Chung Quân và Thẩm Oánh. Ông biết chơi rất nhiều nhạc cụ khác nhau. Ông từng nhận học bổng, sang Úc sáu năm để học ngành kinh tế, tại đây, ông tự học thêm âm nhạc và sang Anh bốn năm để nghiên cứu thêm hai ngành vừa nói trên.

Nhạc của ông đã từng được trình diễn và ghi âm ở nhiều quốc gia như Mỹ, Pháp, Đức, Úc.

Cung Tiến sáng tác không nhiều. Di tản sang Mỹ, công việc chủ yếu của ông là tài chính ngân hàng. Viết nhạc, chỉ còn là “nghề chơi” của ông, một nghề chơi rất, lắm công phu.

Ngoài viết nhạc, ông còn viết khảo luận, nhận định về nhạc dân gian Việt Nam, nhạc hiện đại Tây phương. Không chỉ dừng lại ở đó, ông còn tham gia viết phê bình văn học, dịch thuật với bút hiệu Thạch Chương cho các tạp chí Sáng Tạo, Quan Điểm và Văn. Viết báo thì ông lấy bút danh Đăng Hoàng.

******

II. CUNG TIẾN – THẦN ĐỒNG ÂM NHẠC

Ông tài hoa đến mức khó tin. Người ta gọi ông là Thần Đồng Âm Nhạc khi chỉ mới vừa mười bốn tuổi (1952), ông sáng tác ca khúc Thu Vàng. Cũng trong năm này, ông di cư vào miền Nam. Mười lăm tuổi (1953), ông sáng tác nhạc phẩm Hoài Cảm ( đề tặng Đỗ Đình Tuân). Và, đến mười bảy tuổi (1955), ông viết bài Hương Xưa (đề tặng Khuất Duy Trác). Ba tác phẩm này, không chỉ thế hệ ba má tôi, các anh tôi, mà đến thế hệ tôi, bạn bè tôi, không ai là không từng nghe qua một lần. Rất nhiều người thuộc các ca khúc, biết hát các ca khúc trên.

Năm 1957, ông viết ca khúc Lệ Đá Xanh nổi tiếng, phổ từ thơ Thanh Tâm Tuyền, một người bạn rất thân của ông. Tác phẩm được đề tặng Phạm Đình Chương. Nhưng trong tất cả các sáng tác xưa nay của Cung Tiến, thích nhứt, với tôi, chính là ca khúc Nguyệt Cầm.

******

III. CA KHÚC NGUYỆT CẦM MƯỢN Ý THƠ TRONG BÀI THƠ NGUYỆT CẦM CỦA XUÂN DIỆU

Cung Tiến viết Nguyệt Cầm vào năm 1956. Nhiều người không biết, đến nay, vẫn ngỡ Nguyệt Cầm của Cung Tiến được phổ từ thơ của Xuân Diệu.

Điều đó hoàn toàn không đúng. Cung Tiến đã lấy cảm hứng từ bài thơ Nguyệt Cầm của Xuân Diệu, để viết ra một tác phẩm hoàn toàn mới và khác biệt.

Nếu có trùng, thì chỉ trùng vài chữ: nguyệt cầm, trăng, đàn, nương tử, long lanh, Tầm Dương, hồn, sầu.

Chỉ vậy thôi. Nên nếu Cung Tiến cho rằng, ông mượn ý thơ của Xuân Diệu, thì căn cứ vào những từ mà ông đã “vay” ở trên, tôi nhận thấy, lời xác nhận này của Cung Tiến là trung thực.

******

IV. CA KHÚC NGUYỆT CẦM MƯỢN GIAI ĐIỆU NƯỚC NGOÀI Ở CÂU NHẠC ĐẦU TIÊN

Trong tập Ca Khúc Cung Tiến phát hành trước năm 1975, bên dưới tiêu đề Nguyệt Cầm là một dòng nhạc ngắn, kèm theo chú thích của nhạc sĩ: (Hồ Cầm) Romance en FA, Beethoven.

Ông ghi rõ như vậy là vì câu nhạc đầu tiên của Nguyệt Cầm: Đêm – mùa trăng úa làm vỡ hồn ta, ông đã mượn từ giai điệu rất nổi tiếng của nhạc sĩ thiên tài người Đức này.

******

V. CA KHÚC NGUYỆT CẦM

Đêm – mùa trăng úa, làm vỡ hồn ta
Ngập ngừng xa, suối thu dồn lá úa, trôi qua

Sầu thu, sầu lên vút, mịt mù, mà e nhớ, hương mùa thu
Trăng Tầm Dương lung linh bóng sáng, từng thoáng, lệ ngân, mà hồn phân vân, cuồng điên nhớ

Long lanh, tiếng Nguyệt Cầm, tiếng đàn trầm
Ai nhớ nương tử một đêm nao trăng thanh, trong lời hát, chết theo nước xanh, chết theo nước xanh

Ôi, đàn trăng cũ, làm vỡ hồn anh!

Long lanh long lanh, trăng chiếu một mình
Khơi vơi khơi vơi, nhạc lắng tơ ngời
Nguyệt Cầm, ơi từng lệ ngân
Chết từng mùa xuân

Đêm, ngời men nhớ
Nhạc tê ngời, thuở xưa
Trăng – sầu riêng chiếc
Trăng – sầu riêng chiếc, sầu cho tới

Bao giờ hồn, ghê bốn bề sao
Ngập hồn xanh biếc trời cao
Kìa thuyền trăng, trăng nhớ Tầm Dương, nhớ nhạc vàng
Đêm ấy thuyền neo bến ấy

Nguyệt Cầm, nghe nấc từng câu
Có hàng mây trắng về đâu
Mắt chìm sâu
Đêm lắng đời sâu Nguyệt Cầm, khơi mãi tình sầu, khơi mãi nguồn.

******

V.1. ĐÊM, MÙA TRĂNG ÚA LÀM VỠ HỒN TA

“Đêm – mùa trăng úa, làm vỡ hồn ta”, gợi cho người nghe một cảm giác lạnh lẽo, buồn bã và tàn tạ trong không gian. Trăng úa, trăng héo. Trăng héo úa ấy làm tan nát, làm vỡ nát hồn ta.

“Ngập ngừng xa, suối thu dồn lá úa, trôi qua”, hình ảnh ngập ngừng của con suối mùa thu đang dồn bao lá khô vàng úa, đưa qua khúc quanh rồi đẩy trôi về miền thăm thẳm, tạo cho người nghe một cảm giác như mọi thứ đang dần lìa xa, không thể cưỡng lại được, không sao cưỡng lại được.

Trăng, tiếng đàn, và tác giả giờ đây, dường đã không còn phân biệt rõ ràng, mà như tan vào nhau, hòa vào nhau làm một, say sưa nhau đến tận cùng:

Gió rít tầng cao trăng ngã ngửa
Vỡ tan thành vũng đọng vàng khô.
(Say Trăng – Hàn Mặc Tử)

******

V.2. SẦU THU, SẦU LÊN VÚT MỊT MÙ

Cơn sầu của mùa thu, không dưng, từ đâu, cất lên cao vút rồi giăng tỏa mịt mù. Có phải chăng, vì nó nhớ đến mùi hương của mùa thu năm cũ, đã sớm tan tành trong trận gió xưa. Hay vì nó nhớ tới trăng Tầm Dương của ngàn năm trước, mà Bạch Cư Dị từng nhắc đến trong bài thơ Tỳ Bà Hành của mình, ánh trăng từng lung linh soi sáng cả khúc sông đầy lệ.

“Lệ ngân”, ẩn dụ, tiếng đàn tỳ bà, tiếng nguyệt cầm, rơi xuống như những giọt nước mắt ngân vang, như tiếng nấc nghẹn ngào, làm tê tái hồn người nghe. Làm người nghe bỗng “phân vân”, ngập ngừng, chưa nhận rõ, rồi nỗi nhớ, sau đó, ập đến một cách cuồng điên, không sao dừng được:

Tóc xõa đàn tơ rơi lướt thướt
Hồn thơ đã hiện khóc thu gầy
Tôi nhìn đôi mắt rưng rưng lệ
Cả mảnh hồn thơ rợn ý say.
(Tóc Xõa Đàn Tơ – Bích Khê)

******

V.3. LONG LANH, TIẾNG NGUYỆT CẦM, TIẾNG ĐÀN TRẦM

Ánh sáng long lanh của trăng bỗng hóa thành âm thanh, khiến tiếng đàn không chỉ được nghe mà còn được thấy, đó là tiếng đàn long lanh, tiếng đàn trong suốt, rạng rỡ, sinh động, trong trẻo.

Và tâm hồn của tác giả, vì thế, trở nên bâng khuâng, khi nhớ về cái chết bi ai, chết theo nước xanh, chết theo nước xanh của nương tử, nàng kỹ nữ:

Đàn rưng rưng lệ phách dồn mưa
Tiếng hát tàn rơi hận thuở xưa
Bụi nhuốm thiên thai nhòa hứng rượu
Đời sau say giúp mấy cho vừa

Cô đơn, men đắng sầu trăng bến
Đất trích Tầm Dương quạnh tiễn đưa
Nhịp đổ càng mau nghe ríu ríu
Tê rời tay ngọc lúc buông thưa.
(Dựng – Vũ Hoàng Chương)

******

V.4. ÔI, ĐÀN TRĂNG CŨ LÀM VỠ HỒN ANH

Ôi, đàn trăng cũ làm vỡ hồn anh.

Tôi cho rằng, nhạc sĩ Cung Tiến đã sử dụng câu này như một câu chủ đạo, làm xương sống cho toàn ca khúc Nguyệt Cầm của ông được tựa vào mà bền vững cùng trăm năm – trăm năm hữu hạn.

Ôi, tiếng đàn cũ, màu trăng xưa đã làm vỡ hồn anh.

Như tiếng đàn xưa ám ảnh, như màu trăng cũ hôm nào, vẫn ngày đêm làm thương nhớ, trong bài thơ Nguyệt Cầm của Xuân Diệu, được ông sáng tác vào năm 1945 (Gửi Hương Cho Gió):

Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh
Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần
Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm
Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân

Mây vắng, trời trong, đêm thuỷ tinh
Lung linh bóng sáng bỗng rung mình
Vì nghe nương tử trong câu hát
Đã chết đêm rằm theo nước xanh

Thu lạnh càng thêm nguyệt tỏ ngời
Đàn ghê như nước, lạnh, trời ơi
Long lanh tiếng sỏi vang vang hận
Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người

Bốn bề ánh nhạc biển pha lê
Chiếc đảo hồn tôi rợn bốn bề
Sương bạc làm thinh, khuya nín thở
Nghe sầu âm nhạc đến sao Khuê.

******

V.5. NGUYỆT CẦM, ƠI TỪNG LỆ NGÂN, CHẾT TỪNG MÙA XUÂN

Đêm nay, long lanh long lanh, trăng chiếu một mình, như một mình ai nơi kia đang sầu lẻ bóng. Khơi vơi khơi vơi, nhạc lắng dòng tơ, bóng xuống ngời giăng tràn bến đỗ. Nguyệt Cầm ơi, đàn trăng ơi, từng giọt nàng ngân là chết từng mùa xuân. Nàng có biết không:

Lãnh lãnh thất huyền thượng
Tĩnh thính tùng phong hàn
Cổ điệu tuy tự ái
Kim nhân đa bất đàn.
(Đàn Cầm – Lưu Trường Khanh)

Tôi quá chừng thích từ “khơi vơi khơi vơi” của Cung Tiến ở đoạn này. Tôi cũng chưa từng biết và chưa từng nghe từ này bao giờ. Tôi cho đó là một từ mới, từ mới vừa được tác giả sáng tạo. Cảm giác như, mọi thứ chơi vơi, lơ lửng giữa trời không. Một sáng tạo rất đẹp và rất thơ.

******

V.6. TRĂNG, SẦU RIÊNG CHIẾC

Nguyệt đã lạnh rồi, và đêm, đã lên ngời men nhớ, đêm, đã tê ngời nhạc thuở. Thuở trăng sầu riêng chiếc. Trăng sầu riêng chiếc ơi, trăng sẽ sầu cho tới bao giờ mới thôi.

Nhạc, nhưng rất thơ, làm người nghe là tôi, mê mẩn Nguyệt Cầm suốt mấy mươi năm qua.

Trong khổ nhạc này, tôi đặc biệt thích từ “chiếc” trong câu “trăng sầu riêng chiếc” của Cung Tiến. Thay vì dùng từ “đơn chiếc”, hoặc từ “một chiếc”, thì tác giả, ở đây, chỉ dùng duy nhứt từ “chiếc”.

Cách dùng này đã khiến cho sự cô đơn, quạnh quẽ của nỗi trăng sầu, lại càng như tăng thêm bội phần hơn nữa:

Cắm thuyền sông lạ một đêm thơ
Trăng thượng tuần cao sáng ngập bờ
Đâu đó Tầm Dương sầu lắng đợi
Nghe hồn ly phụ khóc trên tơ

Có lẽ ngàn xưa là đáy sông
Đêm đêm giọt lệ gái xa chồng
Đè theo đôi tiếng tỳ hư ảo
Dâng tới thuyền ai ngủ bến không

Chén đã vơi mà ngập gió sương
Men càng ngây ngất ý Tầm Dương
Gót sen kỹ nữ đâu bên gối
Tìm ái ân xưa dễ lạc đường

Cánh rượu thu dần vạn dặm khơi
Nẻo say hư thực bóng muôn đời
Ai đem xáo trộn sầu kim cổ
Trăng nước đà giang, mộng liễu trai.
(Đà Giang – Vũ Hoàng Chương)

******

V.7. ĐÊM ẤY, THUYỀN NEO BẾN ẤY

Tác giả giờ đây đã chìm hoàn toàn vào trong cõi nhớ, nhớ cảnh cũ, nhớ người xưa. Ông kêu lên bằng giọng hoang mang, kinh ngạc, hồn tôi, bốn bề là sao, sao ngợp cả hồn tôi, sao làm xanh biếc trời cao, sao rụng cả xuống thuyền trăng.

Trăng nhớ Tầm Dương, nhớ Nguyệt Cầm, là cây đàn nguyệt, có thùng đàn tròn vành vạnh như ánh trăng, có bốn dây tựa như bốn mùa. Trăng nhớ bản nhạc nàng từng đàn, trăng nhớ nỗi cô đơn của người nghệ sĩ, nên ánh vàng tỏa khắp mặt sông. Còn nhớ không nàng ơi, đêm ấy, đêm tri âm tri kỷ của đôi ta, thuyền neo bến Tầm Dương:

Rồi khi khúc nhạc đã ngừng im
Hãy vẫn ngừng hơi nghe trái tim
Còn cứ run hoài như chiếc lá
Sau khi trận gió đã im lìm.
(Huyền Diệu – Xuân Diệu)

******

V.8. ĐÊM LẮNG ĐỜI SÂU NGUYỆT CẦM

Nguyệt Cầm, tiếng đàn giờ đây nghe nấc lên trong từng câu, nghẹn ngào, u uất, đớn đau: có hàng mây trắng bơ vơ, không biết trôi dạt về đâu, để mắt ai u buồn chìm sâu, để đêm ngưng đọng nghe đời lắng sâu.

Nguyệt Cầm, trăng đàn ơi, sao khơi mãi tình sầu, sao khơi mãi nguồn sầu, để đêm nay, mùa trăng úa, làm vỡ hồn ta:

Thuyền buộc sông mưa
Ngựa dừng trăng khuyết
Tình nhân thế chua cay người lịch duyệt
Niềm giang hồ tan tác lệ giang châu.
(Dâng Tình – Vũ Hoàng Chương).

******

VI. CUNG TIẾN, BẰNG ÂM NHẠC, ĐÃ TÁI HIỆN ĐƯỢC KHÔNG GIAN CỦA NGHÌN NĂM TRƯỚC

Nhà thơ Du Tử Lê từng nhận xét về nhạc sĩ Cung Tiến như sau: Nhiều người cùng giới với nhạc sĩ Cung Tiến cho rằng, đa số ca khúc của họ Cung được viết trên căn bản bán cổ điển Tây phương, nên giai điệu rất sang trọng. Theo tôi, chúng ta có không ít nhạc sĩ xây dựng sáng tác của mình trên khung, nền bán cổ điển Tây phương, nhưng lại rất ít người cho phần ca từ của họ nhiều hồn, tính Đông phương, như Cung Tiến.

Du Tử Lê cho rằng: Những ca khúc của Cung Tiến là những nỗ lực tái hiện không gian nghìn năm trước, cho đời sau cơ hội sống lại, dù mơ hồ, sương khói.

******

VII. NHẠC CUNG TIẾN, THUỘC THỂ LOẠI ART SONGS

Cung Tiến gọi nhạc mình làm là thể loại Art Songs, và giải thích: Ca khúc phổ thông (popular music) thường thường người ta viết giai điệu chứ không có hòa âm, người trình diễn đệm đàn theo lối nào cũng được, tùy tiện.

Còn ca khúc nghệ thuật là ca khúc dùng bản văn một bài thơ có phẩm chất cao để viết nên phần giai điệu, xong rồi phải có phần hòa âm để làm bối cảnh cho ca khúc đó. Ca khúc cũng như một bức tranh, đằng trước là hình ảnh, là tiền cảnh, còn đằng sau là bối cảnh, cái đó chính là hòa âm hay là phối khí trong âm nhạc.

******

VIII. CUNG TIẾN, NGƯỜI NHẠC SĨ CỦA NỖI MƠ HỒ, XA XĂM, AI HOÀI VÀ DA DIẾT SẦU THƯƠNG

Riêng tôi, tôi nhận thấy, trước hết, nhạc Cung Tiến dường như vượt lên các ca khúc thông thường, cả về giai điệu lẫn ca từ. Giai điệu thì kinh điển, muốn thưởng thức hay hát theo, cũng khó chớ không dễ. Và phần lời thì rất hay, rất đẹp, không thể bắt bẻ hay chê bai vào đâu được.

Sau nữa, nhạc của Cung Tiến có một đặc trưng rất riêng, đó là sự nhẹ nhàng, dịu dàng, tha thiết, dạt dào, du dương. Nhạc của ông như đưa người nghe vào vùng tưởng nhớ, vùng hoài niệm, vùng suy tư. Trong đó, chôn giấu, cất giữ, không biết bao nhiêu là điều sâu kín, chỉ một mình mình biết, chỉ một mình mình hay, chỉ một mình mình rõ.

Nhạc của Cung Tiến buồn, đương nhiên. Nỗi buồn trong nhạc của Cung Tiến, hoặc, là nỗi buồn “len lén”, vấn vương, nhè nhẹ, dìu dịu, chơi vơi, hoặc, là mối sầu, một mối sầu rất lớn, một khối sầu rất to – sầu bi, vai mình vác không xong, lưng mình cõng không nổi, tuyệt vọng. Buồn thì buồn triền miên. Mà sầu, thì cũng sầu vô tận.

Giai điệu và lời ca trong các sáng tác của Cung Tiến đã dìu, đã đưa trí tưởng tượng của người nghe vào tận cùng của nỗi mơ hồ, xa xăm, huyền bí, đầy vẻ liêu trai, cũng như, vào tận cùng của nỗi ai hoài, da diết sầu thương.

Tận cùng của nỗi buồn, tận cùng của mối sầu, nên mới có thể:
ÔI, ĐÀN TRĂNG CŨ LÀM VỠ HỒN ANH!

Sài Gòn 10.05.2026
Phạm Hiền Mây

******

(Nguồn: FB Phạm Hiền Mây)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *