trang bạn hữu / Nguyễn Đắc Điều –  Thương binh: từ Phạm Duy tới Đỗ Tiến Đức

Năm 1948, Phòng Chính Trị thuộc Bộ Thương Binh Cựu Binh đã tổ chức một cuộc thi về đề tài “Thương Binh” do nhạc sĩ Lưu Hữu Phước và Tống Ngọc Hạp từ miền Nam ra làm Giám Khảo. Nhạc sĩ Phạm Duy gửi bài “Nhớ người thương binh” dự thi. Bài hát không được giải thưởng, nhưng được đăng vào báo của Bộ. Lời bài ca như sau:

Nhớ Người Thương Binh

 Chiều về, chiều về trên cánh đồng xanh
 Có nàng gánh lúa cho anh ra đi giết thù
 Từ ngày chinh chiến mùa thu

Từ ngày chinh chiến mùa thu
 Từ ngày từ ngày chinh chiến mùa thu
 Có chàng ra lính biên khu ra đi tung hoành
 Chiều về trên cánh đồng xanh

 Chiều về trên cánh đồng xanh
 Chiều quê hằng nhớ người trai
 Và em nhìn tháng ngày trôi

Nhớ người đi đi rồi
 Người về non nước xa xôi
 Người về non nước xa xôi


 Một chiều, một chiều trên quãng đường xa
 Bóng người anh dũng năm xưa ra đi chốn này
 Chàng về nay đã cụt tay

 Chàng về nay đã cụt tay
 Chàng về chàng về nay đã cụt tay
 Máu đào đã nhuốm trên thây bao nhiêu quân thù
 Từ ngày chinh chiến mùa Thu
 Từ ngày chinh chiến mùa Thu
 Chiều quê còn nhớ người chăng
 Vì ai vào chốn tử sinh
 Chiến trường quên quên mình
 Người về có nhớ thương binh

 Người về có nhớ thương binh

 Người về người về có nhớ thương binh
 Tôi về tôi nhớ chiều xanh ra nơi sa trường
 Và ngày tôi đã bị thương

 Và ngày tôi đã bị thương
 Và ngày và ngày tôi đã bị thương
Thân tàn nhưng chí còn vương ai ơi mây trời
 Chiều về thương nhớ đầy vơi

Chiều về thương nhớ đầy vơi

 Người xa gửi đến quà vui
 Ngồi đây tưởng đến lệ rơi
 Hỡi người xa xa vời
 Đẹp lòng tôi lắm ai ơi!
 Đẹp lòng tôi lắm ai ơi
!

     Phải nói, đây là một bản nhạc buồn; và lần đầu tiên Phạm Duy đã dùng âm hưởng âm nhạc dân tộc ngũ cung  vào một bài hát dân ca. Lời ca rất dễ hiểu, không cầu kỳ có những từ ngữ khích động như “đi giết thù”, “cụt tay”, “máu đào đã nhuốm trên thây bao nhiêu quân thù”.

    Tuy vậy “người quê còn nhớ người chăng?” mà “vì ai vào chốn tử sinh” “chiến trường quên mình”, chàng tự hỏi “Người về có nhớ thương binh”.Hiện nay, người thương binh “thân tàn nay sống hậu phương” chỉ mong “người xa gửi đến quà vui”, nhận được quà “ngồi đây tưởng nhớ lệ rơi” mong rằng “hỡi người xa xa vời” làm “đẹp lòng tôi lắm ai ơi”.Bài ca kết thúc bởi cảnh người thương binh nhận được quà từ người xa lạ mà thấy lệ rơi, thôi thì như vậy cũng đẹp lòng lắm rồi

     Bài ca kết thúc bởi cảnh người thương binh nhận được quà từ người xa lạ mà thấy lệ rơi trong tình cảnh “thân tàn nay sống hậu phương”, thôi thế cũng đủ “đẹp lòng tôi lắm ai ơi”.

     Có lẽ vì lời ca khúc không có những câu chữ “phanh thây, uống máu quân thù”, nên “Nhớ người thương binh” của Phạm Duy không những không được giải thưởng mà còn không được đón nhận/phổ biến trong vùng Kháng Chiến. Ngược lại, nhạc phẩm này lại được phổ biến rất rộng rãi tại miền Nam do rất nhiều nam nữ ca sĩ tên tuổi trình bày kể cả Thái Thanh.

     Đây là một nét văn hóa Nhân Bản của Việt Nam Cộng Hoà.

    Tháng 11 năm 1987, 49 năm sau “Nhớ người thương binh” của Phạm Duy thì tại tòa soạn báo Thời Luận tại Los Angeles Hoa Kỳ, nhà báo Đỗ Tiến Đức đang dàn trang số báo Đặc Biệt Thanksgiving nhận được bức hình một thương phế binh VNCH cụt cả chân tay lết qua đường với chiếc lon đẩy tới phía trước để xin lòng nhân ái của những người qua đườngTấm hình khổ nhỏ đen trắng từ người bạn ở Việt Nam gửi qua đã khiến cả tòa báo xúc động. Nó lại càng xúc động hơn khi trong số báo chuẩn bị cho ngày Lễ Tạ Ơn lại có đăng quảng cáo trọn trang của một hội đoàn cựu quân nhân VNCH ở Nam Cali  mời gọi đồng  đội  tham dự vì có mục khiêu vũ.Một bài thơ được sáng tác ngay sau khi nhìn thấy bức hình để xin đồng bào tạ ơn anh, tạ ơn sự hy sinh của anh cũng như sự hiện diện của anh trên làn sóng đỏ bởi vì nếu không có anh người ta sẽ không còn nhớ tới Việt Nam Cộng Hòa không còn nhớ tới cuộc chiến chống cộng sản để bảo vệ Miền Nam được tư do dân chủ…Dưới đây là bài thơ của Đỗ Tiến Đức:Theo tác già, đáng lẽ  mở đầu bài thơ là :  “Anh không còn đôi chân, bước trên đường quê cũ” nhưng vì cái quảng cáo “Dạ tiệc khiêu vũ  mừng ngày lễ Tạ Ơn” mà ông viết “Lướt trên sàn khiêu vũ” như là một nỗi xúc động vì tấm hình anh thương phế binh ở quê nhà trong khi chiến hửu của anh thoát ra hải ngoại còn đôi chân nhưng để khiêu vũ. 

    Xin Tạ Ơn Anh

     Anh không còn đôi chân
     Lướt trên sàn khiêu vũ
     Anh không còn đôi tay
     Kê đầu em giấc ngủ
     Anh không còn là người
     Cũng không thành con thú
     Môi anh sao vẫn cười?
     Mắt như vì tinh tú
     Anh ngày xưa, ngày xưa
     Là Thiên thần Mũ Đỏ
     Chân anh mang giầy saut
     Tay lái dù trong gió
     Hay anh là Nghĩa binh
     Giữ làng cho dân ngủ
     Hay anh là Mũ Xanh
     Tuyến đầu anh trấn thủ
     Đất mẹ chưa ru anh
     Cuộc chiến tàn cờ rủ
     Tay chân làm phân xanh
     Vài ba bông dại nở
     Xưa là súng, dao găm
     Nay, chiếc lon nho nhỏ
     Xưa đánh pháo diệt tăng
     Nay, cơm thừa nước đổ
     Xưa đồng đội như rừng
     Gót giầy vang mặt phố
     Nay xa cách muôn trùng
     Một thân nơi xó chợ
     Những người hai mươi năm
     Thoảng như cơn mộng dở
     Còn mỗi khúc thân tàn
     Vinh danh ngày tháng cũ”

     Đỗ Tiến Đức làm thơ không nhiều, hình như chưa đủ để in thành tập. Nhưng chỉ với bài “Xin Tạ ơn anh” ông đã nghiễm nhiên trở thành một nhà thơ, sau khi đã có những nhà khác như nhà hành chánh, nhà văn, nhà đạo diễn điện ảnh và nhà báo.

    Vậy từ  “Nhớ người thương binh” của Phạm Duy tới “Xin Tạ Ơn Anh” của Đỗ Tiến Đức có những khác biệt nào?

    Trước hết “Nhớ người thương binh” sinh ra từ một nhu cầu của Phòng Chính Trị bộ Thương Binh Cựu Binh nên cách kể chuyện cũng phải bài bản “có nàng gánh lúa cho anh ra đi giết thù” giao công việc “sản xuất” cho chị, Đỗ Tiến Đức sáng tác “XinTạ Ơn Anh” ngẫu hứng vì một bức ảnh nhân dịp Lễ Thanksgiving nên lối kể chuyện của Đỗ Tiến Đức cũng rất Đỗ Tiến Đức, lãng mạn hơn. Người thương binh của Đỗ Tiến Đức là một thanh niên, có thể là một sinh viên, sống trong một thị trấn tối đi khiêu vũ đêm về nhà đề tay cho người yêu kê đầu ngủ. Rồi quân phương Bắc tràn qua vĩ tuyến 17 phá làng xóm tạo ra cảnh mất an bình nên người thanh niên lãng mạn đó đã trở thành một người cầm súng không nhất thiết phải mang quân phục gì mũ đỏ, mũ xanh hay nghĩa binh chỉ cốt trấn thủ/giữ làng cho dân ngủ có tính cách tự vệ chứ không có hành vi gây chiến, giết người.

    Tinh thần người thương binh của Đỗ Tiến Đức cũng rất nhân hậu, nếu “đất mẹ chưa ru anh” thì có mất một phần thân thể cũng coi như dùng làm phân nuôi dưỡng hoa dại bên đường thêm mầu sắc cho quê hương..

    Vì bị thương tật nên khi bò lê áp tai trên mặt đường người phế binh đã nghe thấy tiếng chân đồng đội trong những buổi duyệt binh “đồng đội như rừng, gót giầy vang mặt phố”. Nếu không phải là đạo diễn điện ảnh thì khó lòng có chi tiết “âm thanh” trong thơ, không những gợi nhớ về quá khứ mà còn có âm hưởng vang dội ngàn năm về sau.

    Dù thân bị tàn phế đến nỗi “không còn là người, cũng không thành con thú” nhưng “môi anh sao vẫn cười?” Cái hay là dấu chấm hỏi cuối câu thơ. Tại sao vậy, đời sống nghiệt ngã như vậy, sao lại mỉm cười được. Chính người trong cuộc cũng phải ngạc nhiên mà tự hỏi. Câu trả lời nằm trong kết quả của nền giáo dục nhân bản dân tộc và khai phóng của Việt Nam Cộng Hoà đã in sâu vào mỗi hành động của công dân Việt Nam.

    Người thương binh của Đỗ Tiến Đức không chờ “người xa gửi đến quà vui” để “ đẹp lòng tôi lắm ai ơi”, mà chỉ muốn “còn mỗi khúc thân tàn, vinh danh ngày tháng cũ”.

    Chính vì vậy, chúng ta không chỉ “ nhớ người thương binh” mà PHẢI “tạ ơn anh”.

    Sau năm 1975, Bên Thắng Cuộc đã dùng chiến dịch “đốt sách” để thiêu rụi nền văn học Việt Nam Cộng Hoà, lập những trại cải tạo để tẩy hết những kiến thức của các dân quân cán chính Việt Nam Cộng Hoà; và cuối cùng dùng chính sách hòa hợp hòa giải để xóa bỏ hẳn một chế độ Việt Nam Cộng Hoà đã gây dựng thành công tại miền Nam trong suốt 20 năm từ 1954 đến 1975.

     Một số người đã bị tẩy não hay vì quyền lợi cá nhân đã trở về Việt Nam để hòa hợp và quên đi hay đánh mất đi 20 năm vàng son của nền Việt Nam Cộng Hoà mà nếu không có người thương phế binh lê lết trên đường phố thì mọi người quên mất chúng ta đã từng có một chế độ Việt Nam Cộng Hoà nhân bản như vậy.

    Không cần sách ngàn trang để viết sử chỉ cần hình ảnh người thương binh trong “Xin Tạ Ơn Anh” của Đỗ Tiến Đức đã đủ tái hiện chế độ Việt Nam Cộng Hoà giữa lòng Thủ Đô Sài Gòn nay đã bị đổi tên.

     Nếu Đỗ Tiến Đức đã từng được trao giải Nhất Văn học Nghệ thuật Toàn quốc năm 1969 cho tập truyện dài Má Hồng, người đã sáng lập ấn định Ngày Điện Ảnh Việt Nam đầu tiên và hàng năm vào ngày 22 tháng 9 là ngày Đại hội Điện ảnh. Vậy bài thơ XinTạ Ơn Anh sẽ được giải gì đây? Xin Tạ Ơn Anh sẽ không có giải gì cả vì đã trở thành “thơ quốc dân” rồi..

     Nguyễn Đắc Điều

     (Viết nhân ngày Quốc Hận 30 tháng 4-2026)

    YouTube – Nhớ Người Thương Binh (Phạm Duy) – Ca sĩ Duy Khánh trình bày:

    1 thought on “trang bạn hữu / Nguyễn Đắc Điều –  Thương binh: từ Phạm Duy tới Đỗ Tiến Đức

    1. Nguyễn Đắc Điều

      Thưa ông Nguyễn Công Hà,
      1/-Cám ơn ông đã đọc bài viết của tôi và đưa ra một nhận xét rất xác đáng. Cũng xin chân thành xin lỗi ông vì hồi âm trễ.
      2/-Tình trạng quân Bên Thắng Cuộc trở về:
      “Đầu đường đại tá vá xe
      Cuối đường trung tá bán chè đậu xanh
      Giữa đường thiếu tá rao kem
      Trong khi:
      Nhà nào giầu bằng nhà cán bộ
      Hộ nào sang bằng hộ đảng viên
      Dân tình thất đảo bát điên
      Đảng viên mặc sức vung tiền vui chơi”.
      Thương binh VNCH nếu có bị cảnh không còn hậu phương, bị đối xử tàn tệ sau 1975 thì cũng có thể tự an ủi rằng: mình bị đối xử như vậy vì mình thuộc Bên Thua Cuộc.
      Thực lòng tôi không biết bên nào đau khổ hơn.
      3/-Sau 1975, tại Hải Ngoại có những Hội Cựu Quân Nhân VNCH quyên tiền để gửi giúp đồng đội kém may mắn qua trung gian một số người quen như nhà văn Văn Quang, sau này qua các nhà Thờ.
      4/-Sau này hàng năm có tổ chức Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh, chính nhà văn PTAN khi phát hành tập truyện Ở Cuối Hai Con Đường tại Nam Cali cũng như tại Úc Châu cũng dành tất cả số tiền bán sách được tặng cho tổ chức của bà cựu Trung tá Hạnh Nhân để giúp Thương Phế Binh VNCH.
      Dù dưới hình thức nào, công cuộc giúp đỡ các Thương Phế Binh VNCH cũng đều bị chính quyền cộng sản tìm cách ngăn cản.
      5/-Thật ra, dù có giúp đỡ như thế nào đi nữa thì cũng không thể nào đền đáp được sự hy sinh thân thể và tinh thần của người Thương Phế Binh VNCH.
      6/-Cũng xin viết thêm nhà thơ Đỗ Tiến Đức tốt nghiệp khóa 3 phụ Đào tạo Chuẩn Uý Hiện Dịch tại trường Đồng Đế-Nha Trang năm 1963 và khóa 1 Cao Đẳng Quốc Phòng.
      Thân quý,
      Nguyễn Đắc Điều

      Reply

    Leave a Reply

    Your email address will not be published. Required fields are marked *