Tác giả: Trần Phong Vũ
***************
Bài 1 – Đôi nét về nhà văn Phạm Tín An Ninh
1. Nhà văn Phạm Tín An Ninh theo độc giả Tâm Thanh
Lục tìm trong ba tập sách tác giả ký tặng kể cả vài cuốn tự mua trước đó, nhưng hoài công, vì không thấy cuốn nào ghi lại tiểu sử ông. Cuối cùng tôi đành cầu cứu những nhận định sau đây trong bài “Đọc Phạm Tín An Ninh” (PTAN) của Tâm Thanh xuất hiện trên mấy trang đầu tác phẩm “Ở Cuối Hai Con Đường”*.

nhà văn Phạm Tín An Ninh từ Na Uy
“Truyện của PTAN đi thẳng vào lòng người… không cần mưỡu đầu hay bạt đuôi. Nếu phải có, thì người viết, ngoài thế giá văn chương, nên là một người phần nào đã trải qua như anh -từng xông pha trận mạc, từng đi tù cộng sản, từng vui tuổi thơ hoa mộng, từng một thời đào hoa bay bướm, rất chiu chắt tình bạn, và bây giờ được bình tâm ôn chuyện xưa… Người như thế không hiếm trong số bạn hữu đông đảo của anh. Nhưng anh Ninh lại thích dành danh dự cho một người hoàn toàn không đạt được một tiêu chuẩn nào trong các tiêu chuẩn trên -một độc giả thầm lặng trong số hàng vạn độc giả của anh.
Độc giả này chỉ có mỗi một ưu thế là cư ngụ chung với tác giả trên một vương quốc nhỏ bé, yên tĩnh miền Bắc Cực. Và vì là đồng cư của anh, trong thời gian gần đây, hầu như mỗi tuần độc giả này lại nhận được một điệu thư hỏi: “Bạn ở Na Uy có biết PTAN không, sao viết cảm động thế?” Câu trả lời rất đơn giản, PTAN là một người sống thiết tha, và viết chân thành. Văn anh trở thành một dòng chảy hồn nhiên bắt nguồn từ đời sống và song song với đời sống. Anh kể về đời tù cải tạo ở Nghĩa Lộ với cùng một giọng đôn hậu như kể về tuổi thơ ở Vạn Giả, Nha Trang.
Anh Ninh sống thế nào viết như thế nấy. Nhờ đó một câu chuyện , dù rất lạ lùng, ẩn hiện bóng dáng quen thuộc của chính người đọc. Nhiều hình ảnh đẹp khó tìm thấy trên đời (như quản giáo Nguyễn Văn Thà trong truyện ruột ‘Ở Cuối Hai Con Đường’, không cần tác giả cam đoan có thật, ta vẫn muốn tin là có thật, để đời đáng sống hơn. Đọc PTAN ta có cảm tưởng như những mảnh đời phiêu bạt tha thiết gọi nhau, xum họp trong lòng mình. Chuyện vinh nhục đời lính, chuyện đắng cay tù cải tạo, chuyện HO ở tuổi tri thiên mệnh từ trên 30 năm nay đã hàng ngàn người kể, đến nỗi sắp thành nhàm chán, bỗng PTAN xuất hiện, khai quật những di tích mới.
Làm mới chuyện cũ, biến chuyện cũ thành gần như cổ tích thời đại là đóng góp đặc sắc nhất của anh trong văn đàn hải ngoại. Khác với cổ tích thần tiên, truyện của anh chứa nhiều nghịch cảnh, đọc để chảy nước mắt, nhưng ta có thể yên tâm mà đọc, vì trong mọi nghịch cảnh, kể cả thảm cảnh thù hận và tình yêu tan vỡ, PTAN không bao giờ dập tắt ngọn nến cuối cùng -Niềm Tin-…”
Chưa có cơ may diện kiến hay nghe tiếng, nhưng tôi phải hết lòng cám ơn Tâm Thanh, người đã viết những dòng trên đây. Giản dị vì đã cung ứng cho tôi những dữ kiện quý giá, vượt xa những gì tôi mơ đọc được từ tiểu sử, hành trạng của một nhà văn. Tôi không rõ Tâm Thanh là bút hiệu hay tên thật ngoài đời. Tôi cũng không biết vị độc già này là nam hay nữ. Điều tôi tìm thấy qua tên người đọc sách là một trái tim thanh tịnh như dòng nước trong lành, tinh khiết chảy ra từ vùng biển Oslo, nơi tôi có dịp ghé thăm để được rót vào tai câu nói: “đây là nguồn nước gửi đến từ Trời cao, mình có thể múc lên uống mà không cần phải qua một thủ thuật tinh lọc nào”. Thật tuyệt vời!
2. Điều gì tác giả cần nói về bộ phim “The Vietnam War”?
Trước khi đi sâu vào chi tiết trong những bài kế, người viết muốn nêu lên những ý nghĩ chợt đến về nhân thân tác giả họ Phạm mà tình cờ tôi phát hiện được trong “mưỡu đầu”, dù ngắn hơn nhiều so với “bạt đuôi” như nhận định của độc giả Thanh Tâm. Sau đó chúng tôi sẽ toát lược nội dung những nét lớn trong bài viết khá dài với trên 7 trang, khổ chữ 12 của nhà văn họ Phạm.
Theo nhận định của Tâm Thanh: “Truyện của PTAN đi thẳng vào lòng người…”. Vẫn theo vị độc giả được mời viết “Mưỡu” tức là viết “Lời Tựa” hay giản dị là giới thiệu tác phẩm, thì nhà văn, hay người lính họ Phạm còn “là một người sống thiết tha, và viết chân thành”. Chưa hết, bàn về cõi sâu thẳm trong tâm hồn là Niềm Tin của tác giả “Ở Cuối Hai Con Đường”, trong lần tái bản thứ ba,Thanh Tâm ghi nhận: “… truyện của anh chứa nhiều nghịch cảnh, đọc để chảy nước mắt, nhưng ta có thể yên tâm mà đọc, vì trong mọi nghịch cảnh, kể cả thảm cảnh thù hận và tình yêu tan vỡ, PTAN không bao giờ dập tắt ngọn nến cuối cùng -Niềm Tin-…”
Một lần nữa tôi cám ơn người bạn độc giả chưa quen Tâm Thanh đã khai quật một góc cạnh tuyệt vời ẩn sâu trong tim nhà văn họ Phạm. Tôi rất cần chi tiết này đề thưa với độc giả bài viết của tôi, quan trọng nhất là hai đạo diễn Ken Burns và Lynn Norvic đã đổ ra 30 triệu Mỹ Kim để khổ công thực hiện Bộ Phim đồ sộ “The Vietnam War” trình chiếu trong 18 tiếng đồng hồ để “lập lờ đánh lận con đen!”, cách đây hơn một thập niên. Tôi muốn nói với hai nhà đạo diễn và nhóm người đứng đàng sau họ rằng: nhà văn cũng là người lính PTAN khi cầm bút nói lên đôi điều, không phải ngẫu nhiên mà vì “cần phải nói”. Không phải để ăn thua đủ… mà là để trả lại Sự Thật đã bị những kẻ bất lương bóp méo và che giấu với những mục tiêu hèn hạ. Vì thế với bản chất một con người, một nhà văn, hơn thế, một người lính Việt Nam Cộng Hòa “Sống thiết tha và Viết chân thành”, những gì ông viết phát xuất từ trái tim Nhân Ái, không bao giờ dập tắt ngọn nến cuối cùng. Đó là Niềm Tin. Tin Mình, Tin Người. Tin Thượng Đế.
Trong hơn 7 trang giấy với khổ chữ 12, dưới tiêu đề “The Vietnam War – Đôi điều cần phải nói”, nhà văn và cũng là người Lính PTAN đã gói ghém nhưng suy tư của ông vào 6 điểm chính.
* Thứ nhất: Ken Burns, người thực hiện The Vietnam War là ai? Tác giả trả lời vắn tắt: “Trong chiến tranh Việt Nam, đương sự là một thành viên đắc lực trong phong trào phản chiến, là người thuộc cánh tả, ủng hộ đảng Dân Chủ”.
* Thứ 2: The Vietnam War dựa theo những tài liệu, hình ảnh nào, do ai cung cấp? Theo nhà văn họ Phạm, phần lớn dựa theo tài liệu, hình ảnh của bọn cấp tiến, thiên tả thuộc đảng Con Lừa, Hoa Kỳ, và của chính quyền Việt nam cộng sản cung cấp.
* Thứ 3: Những ai được phỏng vấn? Tác giả tóm gọn vào 3 thành phần sau đây:
– Những người Mỹ, một số cựu chiến binh tại Việt Nam, nhân viên của chính phủ, nhà báo; người có chồng, con tử trận tại Việt Nam, và có cả những người thuộc thành phần chủ chốt trong phong trào phản chiến trước đây.
– Những người Việt Nam trong nước. Hầu hết là những sĩ quan cao cấp, nhà văn nhà báo phục vụ chế độ CS. Ai cũng hiểu rằng, khi những nhà làm phim muốn tiếp xúc với họ đều phải qua chính quyền CSVN sắp xếp, chọn lựa hay tối thiểu là phải có sự cho phép, và tất nhiên phải nói những điều có lợi cho sự tuyên truyền của họ.
– Những người miền Nam (VNCH) đang sống tại Mỹ. Một số cựu sĩ quan, viên chức ngoại giao.
* Thứ 4: Đánh lừa công luận bằng cách trắng trợn gọi tên cuộc chiến tranh do mưu đồ xâm chiếm thôn tính miền nam Việt Nam của CSBV với sự đỡ đầu của CS Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa, là một cuộc nội chiến (!?) Gian ý của Ken Burns người sắm vai chính đạo diễn thực hiện Bộ phim đồ sộ này đã khiến dư luận thế giới hiều lầm đây là một cuộc chiến giữa chính quyền Việt Nam Cộng Hòa và con đẻ của Hà Nội là đám Du Kích Quân và cái gọi là Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam!!!
* Thứ 5: Cách hành xử sai lầm và “kẻ cả” của Mỹ đối với một đồng minh là căn nguyên đưa đến sự thất bại tại Nam Việt nam. Trên thực tế, Việt Nam Cộng Hòa, nói chung, cách riêng trong 9 năm cầm quyền, Tổng Thống Ngô Đình Diệm luôn chống lại chủ trương của chính quyền Kennedy đòi gia tăng số cố vấn và điều động cả trăm ngàn quân Mỹ tham chiến tại nam Việt Nam.
Nhà văn và với tư cách người lính Việt Nam Cộng Hòa, tác giả công khai tố cáo:
“Điều trịch thượng và “phi chánh trị” quái đản khác, từ khi đưa quân ào ạt vào Nam VN, Mỹ mặc nhiên xem cuộc chiến này là của họ. Trong tất cả các cuộc đàm phán, ký kết hiệp định, Mỹ tự cho mình ngang hàng với Bắc Việt và xếp Nam Việt Nam ngang hàng với MTGPMN. Trong khi ai cũng biết rằng: MTGPMN chỉ là một nhóm tay sai do Hà Nội dựng lên để lừa bịp quốc tế. (Ngay sau khi vừa chiếm Nam VN, CS đã khai tử MTGPMN, tất cả những nhân vật trong chính phủ của MT này không nhận được bất cứ một chức vụ quan trọng nào, và bị loại dần ra khỏi guồng máy lãnh đạo). Điều đặc biệt tệ hại hơn, Hiệp định Paris ký ngày 27.1.1973 là một áp đặt trắng trợn để ngay sau đó Hoa Kỳ phủi tay khi CSBV đã vi phạm thỏa ước hưu chiến trong ngày Tết nguyên đán, bất ngờ tổng tấn công vào nhiều thành phố lớn, vậy mà đã không có khả năng chiếm được bất cứ thành phố nào…”
* Thứ 6: “The Vietnam War quá bất công đối với Quân lực Việt Nam Cộng Hoà, một quân đội đã bị bức tử, không còn tiếng nói.”
- Đôi lời cuối của người viết
Lời trách cứ tự chế, đầy khoan nhượng trong điểm thứ 6 trên đây cho thấy tinh thần nhân bản, hiền hòa của nhà văn PTAN. Nếu phải bày tỏ sự phẫn nộ đối với hành vi gian lận, bóp méo Sự Thật chất chứa trong “The Viet Nam War”, đặc biệt điểm 6 này, ông là một trong những người có thẩm quyền hơn hết. Giản dị vì ông là đại diện cho những người lính VNCH đã trực tiếp góp phần xương máu trong chiến tranh VN.
“Một quân đội đã bị bức tử không còn tiếng nói” mà một trong những nạn nhân bị trói tay bắt chết, buộc phải câm miệng ấy lại nhẹ nhàng coi như một sự bất công bình thường, chỉ có được nơi một con người luôn thiết tha với sự sống, khi viết thì viết chân thành và, “…trong mọi nghịch cảnh, kể cả thảm cảnh thù hận và tình yêu tan vỡ”, … cũng “không bao giờ dập tắt ngọn nến cuối cùng”. Đó là: “Niềm Tin…” như lời độc giả Thanh Tâm với tư cách độc giả của nhà văn họ Phạm.
Mời độc giả đón đọc những nhận định kế tiếp của người viết về quan điểm rốt ráo nhưng vẫn trong vòng lễ nhượng của nhà văn gốc lính Phạm Tín An Ninh khi miễn cưỡng, vì trách nhiệm đòi buộc cần phải lên tiếng.
Trần Phong Vũ
Miền nam California, Chúa Nhật 15-2-2026
_________________________
* Sau khi nhận được tác phẩm “Ở Cuối Hai Con Đường” do tác giả PTAN gửi tặng, cá nhân tôi đã dành trọn một buổi chiều để đọc một mạch từ đầu đến cuối, bao gồm 26 trang chót từ trang 259 đến trang 284, coi như những lời bạt của nhiều tác giả. Trong số có những bạn văn như Huy Phương, Phan Nhật Nam. Những nhà giáo thân quen đã quá cố như GS Nguyễn Thanh Liêm, GS Lưu Trung Khảo. Đặc biệt một người tôi quý mến là GS Trần Huy Bích hiện vẫn còn minh mẫn, tráng kiện dù tháng 4 năm 2026 tới đây ông tròn 90 tuổi. Bài của GS Bích đọc trong dịp giới thiệu tác phẩm dài 11 trang, rất có giá trị. Dù vậy cuối cùng tôi đã chọn vài trang “Đọc PTAN” của Thanh Tâm, vì nội dung cô đọng đáp ứng nhu cầu của tôi để đưa vào phần đầu bài viết này.
Bài 2 – Phong trào Phản chiến – Những khuôn mặt tiêu biểu?
Trần Phong Vũ
1. Jane Fonda: “Forgive? Maybe. Forget? Never!”

Trong bài 1, người viết đã nhắc tới câu hỏi đầu của nhà văn Phạm Tín An Ninh (PTAN) trong 6 điểm đặt ra cho Bộ phim “The Vietnam War” với mục tiêu bóp méo lịch sử chiến tranh Việt Nam: Ken Burns là ai? Ngay sau đó ông tự trả lời: “Ông ta là thành viên đắc lực của phong trào phản chiến, là người thuộc cánh tả và ủng hộ Đảng Con Lừa”. Chỉ với ba nét chấm phá như thế, nhà văn và cũng là người lính Việt Nam Cộng Hoà (VNCH) họ Phạm đã vẽ ra trong óc người đọc một mẫu người bất lương, trí trá. Từ đấy, lý giải cho tất cả những lời thuyết minh, những cuộc phỏng vấn và hàng trăm, hàng ngàn hình ảnh bôi đen Sự Thật trong bộ phim đồ sộ trình chiếu trong suốt 18 tiếng đồng hồ do chính ông ta và Lynn Novick dạo diễn.
Nói tới phong trào phản chiến, với những cuộc biểu tình của hàng trăm ngàn sinh viên Mỹ trên đường phố trong thời gian cuối thập niên 60, đầu thập niên 70, có lẽ mọi người chưa quên nữ tài tử Jane Fonda. Bà không chỉ là một nữ tài tử có hạng của Holywood, từng đoạt giải Oscar, mà còn là người xuất hiện tại Hà Nội năm 1972 trong tư thế ngồi cùng bộ đội phòng không miền Bắc trên mâm pháo cao xạ đang hướng lên trời chờ bắn hạ các phi công Mỹ! Sự kiện nghịch thường này đã khiến bà bị chỉ trích và gán cho tên “Jane Hà Nội!” và “Jane Cộng sản!”.

Hanoi – 1972
Dù công khai lên tiếng xác nhận không thay đổi lập trường đã chọn, nhưng thâm tâm bà không khỏi dao động. Trong một lần tâm sự, bà thốt lên câu nói: “Ánh đèn máy ảnh loé lên. Tôi đứng dậy, và khi bước trở lại xe ô-tô, tôi chợt hiểu ra điều gì vừa xảy ra. Chúa ơi! Nó sẽ là cảnh như thể tôi tìm cách bắn hạ phi cơ Hoa Kỳ! Tôi cầu xin ông ta, ‘Ông hãy bảo đảm là không ai đăng các bức hình này nhé. Tôi xin, tôi xin đấy. Đừng cho họ đăng ảnh’.”

in Hanoi – 1972
Lời cầu xin này đã được thực hiện sau đó. Nhưng thực tế, bức hình biết nói ấy đã được không ít người biết trong phút đầu, cho dù ngay sau đó đã biến mất. Chính vì thế, chúng tôi đã hoài công vẫn không sao có được trọn vẹn tấm hình, ngoài hình được Zoom ghi nhận khuôn mặt bà với nón chống đạn, cặp mắt nheo lại nhìn qua kính ngắm bắn của ụ pháo dưới đây.
Cho dù bị rúng động về tấm hình chụp cạnh Bộ Đội phòng không của csBV trên mâm chiến xa trang bị cao xạ, nhưng y thị vẫn tiếp tục có những lời lẽ “kẻ cả” khi nói tới những người lính Mỹ, kể cả các sĩ quan chiến đấu bên cạnh Quân lực Việt Nam Cộng Hoà (QLVNCH).
Phụ họa với những lời lẽ tuyên truyền nhằm che đậy những hành vi tra tấn thô bạo nhắm vào tù binh Mỹ, bất kể các sĩ quan không quân của Hà Nội, hơn một lần, Jane Fonda đã hùng hổ tuyên bố những lời lẽ trịch thượng, xúc phạm nặng nề tới danh dự của các binh chủng trong quân đội Hoa Kỳ đang chiến đấu bên cạnh QLVNCH với những lời lẽ bất xứng như:
“Đa số những tay kể lại chuyện bị tra tấn là những gã đàn ông già, bọn diều dâu, cơ hội chủ nghĩa hói đầu, là sĩ quan”.
Đi xa hơn, Jane Fonda còn mạnh miệng kêu gọi biểu tình chống cuộc chiến của chính phủ Mỹ để chứng tỏ cho thế giới biết còn những người Mỹ tốt, có lương tâm, mà không phải thứ “tốt như Đức phát-xít”. Hàm ý của đương sự muốn nói về Thế Chiến 2, nhắc lại quan niệm của Hitler rằng “những người Đức tốt là người ủng hộ chính phủ”. Bà ta cũng bình luận về Hòa đàm Paris, thỏa thuận ngừng bắn và bày tỏ thái độ chống lại chính quyền của TT Nguyễn Văn Thiệu. Thậm chí bà còn cột buộc một cách khơi khơi cho chính quyền Đệ Nhị Cộng Hoà Việt Nam là “sẽ không cho người miền Nam trở về miền Bắc Việt Nam một cách tự do”. Quả là một lời vu khống bất công, vô căn cứ chỉ với ác ý xuyên tạc chính nghĩa của Việt Nam Cộng Hoà cách trắng trợn mà thôi
Sau chuyến thăm Hà Nội trở về, quan điểm của Jane Fonda không thay đổi, mà còn mạnh mẽ hơn trong việc chống cả các cựu binh Hoa Kỳ, và lên án chính quyền Mỹ cùng chính phủ của Tổng thống Việt Nam Cộng Hoà Nguyễn Văn Thiệu. Ngoài ra Y Thị còn lớn tiếng ủng hộ và kêu gọi sinh viên xuống đường rầm rộ tại Hoa Thịnh Đốn cũng như các thành phố lớn tại khắp các tiểu bang của Mỹ.
Tấm hình sau đây do Stuart Lutz/Gado chụp lại hình ảnh, do những người chống Jane Fonda tạo huy hiệu riêng để lên án đương sự: Những năm sau này, khi tình hình bớt căng thẳng, trong nhiều cuộc thăm dò của giới truyền thông với các cựu quân nhân Mỹ là họ nghĩ gì về những hành vi quá độ của nữ tài từ Jane Fonda đối với cuộc chiến chống cộng sản BV của VNCH với sự hỗ trợ của Mỹ. Câu trả lời của đông đảo cựu quân nhân Hoa Kỳ từng tham chiến tại Việt Nam đều gói gọn trong một câu:
Tha Thứ: có thể. Nhưng Quên, thì KHÔNG! – “Forgive? Maybe. Forget? Never!”
Dù sao, trong kho tàng văn chương truyền khẩu của dân tộc Việt Nam có câu “Đánh kẻ chạy đi, chứ ai nỡ đánh kẻ chạy lại”. Trong số những lời thố lộ tâm tình thống hối của Fonda có câu: “Tôi thấy đau đớn và điều này sẽ theo tôi tới khi xuống mồ rằng tôi đã phạm sai lầm, rất nhiều sai lầm khiến nhiều người nghĩ tôi chống lại các quân nhân Mỹ.”
2. Những Khuôn Mặt Tiêu Biểu Khác Trong Phong Trào Phản Chiến
Về phía Mỹ, riêng giới tài tử, ngoài Jane Fonda cũng có một số tài tử, nghệ sĩ nhu nữ ca sĩJoan Baez cũng từng một thời theo đuôi phong trào phản chiến nhưng không lâu sau đó đã hồi tâm. Bà đã dấn thân đến tận các trại thuyền nhân tỵ nạn để tìm hiểu tại sao Việt Nam “hòa bình” rồi mà hàng hàng lớp lớp người vẫn vạch đường máu để ra đi? Bà đích thân đi “điều tra”, tìm hiểu sự thật từ các trại tị nạn tại Thái Lan, Phi Luật Tân, Mã Lai, và Indonesia …
Nhà văn Nguyễn Việt Nữ, trong bài viết “Nhớ Air Raya, Hoang đảo cứu người và Joan Baez” cho biết bà đã gặp Joan Baez tại đảo Air Raya, Indonesia. Joan Baez đến Air Raya, mời họp các người tị nạn, phần đông là các quân nhân tham dự. Họ viết đơn nói rõ lý do ra đi. Joan đã nghe tận tai những sự thật tàn bạo trong xã hội và nhà tù CSVN sau 75, chẳng hạn “Tòa án nhân dân” của CSVN kết án tử hình trước khi xử! Hòm đã để sẵn sau phòng xử của phiên tòa.
Sau khi thu thập được những chứng cứ từ thuyền nhân qua các trại tỵ nạn, Ca sĩ Joan Baez ôm hết chồng hồ sơ từ các trại tị nạn về Hoa Thịnh Đốn, bắt tay vào những việc làm thiết thực, cụ thể: a/ Kêu gọi những người trong hàng ngũ phản chiến cũ cùng ký tên vào một thư ngỏ “Open Letter to the Socialist Republic of Vietnam” gởi nhà cầm quyền CSVN. Thư ngỏ đó có được 78 chữ ký của những nhân vật phản chiến nổi danh, và đã đăng trên tờ The New York Times số ra ngày 1/5/1979. b/ Khiếu nại với Tổng thống Mỹ lúc ấy là Jimmy Carter, rồi kéo đệ nhất phu nhân đi Thái Lan thăm người vượt biển. Bà cùng nhiều đoàn thể khác nữa như Đại Đức Thích Giác Đức, cùng Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, Sinh Viên Ngô Vương Toại kêu gọi T.T. Jimmy Carter phải nhận người tị nạn Đông Dương cho vào Mỹ.
Về phía các chính trị gia Mỹ có những nhân vật phản chiến gộc như John Kerry, nguyên Thượng Nghị Sĩ (TNS), nguyên Ngoại Trưởng và cũng là ứng cử viên TT của đảng Con Lừa, Joe Biden, nguyên TNS và cũng là TT thứ 46 cũng thuộc đảng Dân Chủ. Hành tung và thái độ của hai nhân vật này ra sao đối với cuộc chiến tranh Việt Nam mọi người đều đã rõ. Nếu nhìn ngược vế quá khứ dưới thời TT Kennedy, chỉ cần đọc lại loạt bài nhận định vài tuần qua về 2 tác phẩm “The First Republic of VietNam” và “A Great Secret” của GS Vũ Quý Kỳ là đủ rõ. (Độc giả có thể tìm đọc các bài này trên mạng Vận Hội Mới và một số báo chí, truyền thông khác).
Về phía Việt Nam, số lượng những khuôn mặt theo đóm ăn tàn, vỗ ngực tự xưng là thành phần phản chiến như lá rụng Mùa Thu, khó đếm hết. Sau đây là những khuôn mặt khá quen thuộc đối với những bà con Việt Nam tỵ nạn, bao gồm các dân biểu, nhân sĩ, trí thực, giới truyền thông và sinh viên:
“Lý Chánh Trung, Lý Quý Chung, Hồ Ngọc Nhuận, Kiều Mộng Thu, Ngô Công Đức, Dương Văn Ba, Trần Ngọc Liễng, (bà) Ngô Bá Thành, …. những tu sĩ như Huỳnh Công Minh, Trương Bá Cần, Phan Khắc Từ, Vương Đình Bích, các tu sĩ Ấn Quang… nổi bật như Thích Trí Quang, Thích Nhất Hạnh, Ni sư Huỳnh Liên cùng với đám SV Dương Văn Đầy, Trịnh Đình Ban, Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Hiếu Đằng, Trần Thị Lan, Nguyễn Hữu Thái…. ở Sài Gòn, sau 30-4 trở thành những kẻ lêu bêu giữa xã hội CS độc quyền chính trị. Ở, Huế, những tên phản chiến kiêm đồ tể như Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Thị Đoan Trinh… cũng chỉ là những miếng vỏ chanh để CS vắt tiếp trước khi vứt vào thùng rác…”
Nói chung, trong số những khuôn mặt phản chiến “ăn cơm Quốc Gia thờ ma cộng sản” kể trên, khá nhiều người sau này đã phản tỉnh, dù trễ tràng nhưng vẫn còn hơn mãi mãi dìm mình trong bóng tối của lọc lừa, man trá, mang tiếng muôn đời là kẻ bám theo kẻ thù, chống lại Quê Hương, Dân Tộc.
3. Câu Hỏi Lớn Cho Đạo Diễn Và Nhóm Làm Phim “The Vietnam War”
Qua các sự kiện, biến cố, con người và phản ứng, hành động của họ liên quan tới cuộc chiến tranh đẫm màu mà quân dân VNCH phải gánh chịu, một câu hỏi quan trọng đặt ra cho lương tâm cặp đạo diễn Ken Burns/Lynn Novick và tập thể nhóm thực hiện Bộ phim “The Viet Nam War”. (Bao gồm luôn cả những cá nhân hay tập thể đã đóng góp biết bao phương tiện quý giá, nhất là ngân khoản 30 triệu cho tác vụ bất xứng này.
–Là những người có mắt, có tai, có trí óc để hành xử việc đời. Chẳng lẽ khi cuộc chiến kết thúc bốn thập niên rồi, những con người của một siêu cường như nước Mỹ lại không hề nhìn, đọc, nghe và suy nghĩ về những chứng từ xác thực của biết bao tác giả có lương tâm trách nhiệm viết về cuộc chiến tranh chống kẻ thù csBV của Liên Minh Mỹ/VNCH? Chứng từ của họ từng được nhà báo Margueritte Higgin, nhà truyền thông Bùi Vĩnh Phúc, học giả Geoffrey Shaw, nhà biên khảo Minh Võ, Giáo Sư Vũ Quý Kỳ… trích dẫn trong những tác phẩm thời danh của họ.

Giả định này thật khó tin. Và như thế, nếu nhà văn PTAN có cái nhìn độ lượng cho rằng Bộ phim “The Vietnam War” có phần khá hơn so với “Vietnam – The Ten Thousand Day War” nhiều năm trước của Michael Maclear, thì thực tế vẫn còn đó một thái độ cố tình bóp méo Lich Sử, xuyên tạc Sự Thật với mục tiêu bợ đỡ Hà Nội, hạ nhục miền nam Việt Nam. Ngay trong bài này, khi đề cập phong trào phản chiến, người viết đã nói khá kỹ về hành vi và thái độ thiên lệch của Jane Fonda. Bà đã đại diện cho Hoa Thịnh Đốn giang tay ôm lấy Hà Nội, quay lưng lại với Sài Gòn. Nếu những người thực hiện bộ phim “The Vietnam War” còn có nhất điểm lương tâm, tôn trọng Sư Thật, thiết nghĩ họ sẽ không thể bỏ qua tác hại lớn lao của Fonda gây ra cho miền nam VNCH trong những ngày bà ta tung tăng vui đùa với Bộ Đội csBV ở Hà Nội. Những lời tuyên bố, những cuộc trả lời phỏng vấn, tấm hình bà ngổi sát xạ thủ phòng không của csBV trên mâm pháo cao xạ đang hướng lên trời ở một nơi sát cạnh Hà Nội năm 1972, đã tác động ra sao đối với cuộc chiến. Nhưng thực tế, không chỉ riêng chuyện phản chiến, chuyện Jane Fonda, hàng trăm hàng ngàn chuyện khác, những người làm phim này đã nhắm mắt bỏ qua.
Chính vì thế, sau “Chiến Cuộc Việt Nam – Untold Storries”, cuốn phim đầu của nhóm làm phim do hai anh Phạm Văn Nam và đạo diễn Nguyễn Đức đại diện cần phải có những cuốn phim kế tiếp mới mong hóa giải được niềm đau và nỗi oan ức của của Quân-Dân Việt Nam Cộng Hòa.
Trần Phong Vũ
Nam California Hoa Kỳ,
Thứ Tư, 18-2-26, nhằm Mồng 2 Tết Nguyên Đán Bính Ngọ
Bài 3 – Từ Chọn Lựa Chứng Tá Tới Đảo Lộn Bản Chất Cuộc Chiến
Trần Phong Vũ
I. Vài Dữ Kiện Trên Mạng, Trước Khi Trở Lại Chủ Đề
Trước khi tiếp tục luận bàn về phản biện của nhà văn Phạm Tín An Ninh (PTAN), người viết tóm tắt vài dữ kiện tìm thấy trên mạng cùng với hai sử liệu giá trị của TS Nguyễn Tiến Hưng* liên quan tới bộ phim The Viet Nam War.
Trong một bài viết trước khi phim được PBS chiếu lần đầu, 8 giờ sáng ngày 18-9-2017, Trương Huy San, một nhà báo trong nước cho hay, trong số các nhân vật phát biểu, ông đánh giá cao Bảo Ninh qua câu nói ngắn: “Chỉ có những người không thật sự đánh nhau mới bàn chuyện ai thắng, ai thua; không thắng thua gì ở đây, chỉ có tan nát, xác người Việt chồng lên người Việt”. Ông viết tiếp, “Bộ phim, theo tôi, đã cáo buộc gần như mọi tội cho Washington, đánh giá cao Hà Nội, coi thường Việt Nam Cộng Hòa”.

tác giả “Bên Thắng Cuộc” bị tù
30 tháng về tội “lợi dụng tự do”
Câu đáp của Bảo Ninh và lời bàn thêm của tác giả họ Trương cho chúng ta thấy hai điều. Khi xác định: không có ai thắng, ai thua trong cuộc chiến mà chỉ có hình ảnh “tan nát” với xác chết của người Việt, bất chấp mình là một nhà văn bên thắng cuộc, Bảo Ninh đã thẳng thắn vạch trần bộ mặt thật khát máu qua quyết tâm xua quân đánh chiếm miền nam bằng được của Hà Nội. Và Bảo Ninh đã gặt quả đắng vì lời nói thẳng của anh*. Phần Trương Huy San cũng vượt qua mọi dè dặt thường tình, can đảm đề cao Bảo Ninh và minh nhiên nói ra những gì ông suy nghĩ.
Sau đây là lời bàn thêm của một bạn đọc ở cuối bài viết, Ông Nguyễn Việt Nam: “Chưa có Chính quyền nào giết dân nhiều như cộng sản Việt Nam (csvn) mà được tung hô. Chưa từng có nhân vật nào của csvn thảm sát dân tại Huế trong năm 1968 mà ăn năn hay bị ám ảnh về cuộc chiến. Điều đó nói lên sự man rợ của cộng sản hay Việt cộng là bản chất, luôn đếm thành công bằng máu và xác đồng bào”.
Mục “Thấy gì từ The Vietnam War tập 1?” trên trang mạng của tạp chí Mai (https//baomai.blospot.com), người đọc chú ý tới câu “dĩ Mỹ vi trung – lấy Mỹ làm trung tâm”. Người sáng tạo câu này là Peter Zinoman, Giáo sư Lịch sử và Đông Nam Á Học, thuộc Đại học Berkeley, CA, Hoa Kỳ, và được lặp đi lặp lại nhiều lần như muốn nhấn mạnh đây là cuộc chiến do Hoa Kỳ chủ động. Quan điểm thiên lệch này của nhóm làm phim không chỉ ngừng lại ở chỗ gán cho Mỹ ở vị thế chủ nhân ông. Hơn thế, nó còn được thể hiện rõ nhất trong việc đánh giá cao quá lố Hồ Chí Minh.
Mặt khác, còn cố tình dùng những lời lẽ khinh mạn, xem nhẹ đối với thành quả của quân/dân Việt Nam Cộng Hoà (VNCH) kể cả tổng thống Ngô Đình Diệm. Cụ thể trong phim, đã có những lời lẽ bất xứng gán cho vị sáng lập nền Cộng Hòa ở miền nam Việt Nam, là “kiêu căng – ngạo mạn”. Người ta đã cố tình bỏ qua thời vàng son trong gần 10 năm cầm quyền của ông. Tuồng như họ rất ít quan tâm tới việc người dân Việt ở miền nam Việt Nam nghĩ tốt ra sao về ông Diệm”.
Trong bài viết nhan đề “The Vietnam War và khi Hoa Kỳ vào Việt Nam” gửi đăng trên BBC ngày 25-9-2017, TS Nguyễn Tiến Hưng cho hay: “Năm 1958, từ Đại học Virginia ở Charlottesville, chúng tôi đã theo dõi cuộc chiến Việt Nam từ lúc khởi sự thời Eisenhower tới lúc Mỹ đưa quân vào thời Kennedy, rồi leo thang thật nhanh, thời Johnson”. Tác giả “Khi Đồng Minh Nhảy Vào” và “Khi Đồng Minh Tháo Chạy”** cũng đã coi và tham gia phim Cuộc Chiến Mười Ngàn Ngày (The Ten Thousand Day War) của Michael Maclear được chiếu năm 1980. Bộ phim 26 giờ này còn dài hơn phim 18 giờ của Ken Burns và Lynn Novick.

(Stephanie Berger / Florentine Films)
Đề cập thái độ thiếu trung thực của hai đạo diễn này, TS Hưng viết: “Họ nói là ‘không phán xét’ nhưng thực ra là có phán xét một cách thầm kín. Thí dụ như đoạn phim Mỹ chiến đấu trong những năm 1966-1967 được lồng vào đoạn phim hình ảnh trong cuộc chiến khốc liệt của Pháp trong thập niên 40-50. Như vậy là coi người lính Mỹ cũng giống như người lính Pháp: áp bức, tàn bạo? Và rồi Mỹ cũng sẽ lặp lại những sai lầm của thực dân Pháp”?.
Chưa hết, vẫn theo TS Hưng, phim đã công khai phán xét về TT Ngô Đình Diệm: “Ông là con người tàn nhẫn, không tin ai ngoài gia đình… là “Đấng Cứu thế không có thông điệp”. Phán xét này ngược hẳn với đánh giá của tờ New York Times năm 1957, gọi ông Diệm là “một người giải phóng Á Châu”, hay tuần báo Life: “Con người cứng rắn và như phép lạ của Việt Nam”, hay Nghị sĩ Jacob Javits (tiểu bang New York): “Ông là một trong những anh hùng của thế giới tự do… TNS Mike Mansfield thì từng ca ngợi ông Diệm: “Là người có công ngăn chặn xâm lăng của Cộng sản ở Việt Nam, và vì vậy ở cả Đông Nam Á, là do sự quyết tâm, can đảm, trong sạch và chính trực của Tổng Thống Diệm. Năm 1961, Phó TT Johnson đi xa hơn, gọi ông Diệm là “Winston Churchchil của Đông Nam Á”.
Nếu cần phải ghi thêm, thì đây: Tổng thống Dwight Eisenhower, vị TT thứ 34 của Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ, người đã tới tận chân cầu thang máy bay đón TT Diệm dịp ông qua thăm Mỹ Quốc, được vinh dự lên tiếng tại lưỡng viện Quốc Hội, đã mệnh danh TT Ngô Đình Diệm, người sáng lập nền Cộng Hòa đầu tiên ở Đông Nam Á cho nam Việt Nam là “Con Người Thần Kỳ”. Ngoài ra, Phó TT của ông là Richard Nixon, sau này trở thành TT thứ 37 Hoa Kỳ cũng đã từng xưng tụng TT Ngô Đình Diệm là một “Tảng Đá Đỉnh Vòm”. Đây là cách nói ví ông như một khí cụ trung tâm tối thiết yếu để giữ cho một công trình kiến trúc lớn có đỉnh vòm vĩ đại trên cao, gánh chịu sức nặng tứ phía được đứng vững với thời gian, giữa phong ba bão táp. Lời khen này ở đây mang ý nghĩa đề cao tài trị quốc, an dân của ông Diệm, nhất là thời gian đầu phải tứ bề thọ địch.
Âm mưu trở lại của thực dân Pháp; giải quyết cảnh “thập Nhị Sứ Quân” giữa các Giáo Phái được Pháp trang bị võ khí mỗi phe hùng cứ một phương; sự lộng hành của Bảy Viễn (Bình Xuyên); làm sao thống nhất quân đội…, trong khi cùng một lúc phải lo công ăn việc làm, định cư ngót một triệu đồng bào miền Bắc dời cư vào Nam tìm tự do? (TPVũ: trích từ tác phẩm “Ngô Đình Diệm, Lời Khen Tiếng Chê” của nhà biên khảo Minh Võ).

Tấm hình trên trong bài viết của TS Hưng ghi chú là Chụp lại hình ảnh, Nhóm làm phim The Vietnam War và các chính khách Hoa Kỳ từng tham chiến ở Việt Nam. Trong hình người ta nhận ra hai chính khách nổi tiếng là TNS/Ứng viên tranh cử TT John McCain và TNS/nguyên Ngoại Trưởng John Kerry (McCain thứ 3 và Kerry thứ 7, đếm từ trái qua phải). Cả hai đều là cựu chiến Binh Mỹ tại Nam Việt Nam. Riêng Kerry còn là một trong những tay trùm phản chiến, và cũng là người cùng TNS Joe Biden, (TT thứ 46 HK), từng là những người sắm vai “Ông Ác” chống lại việc viện trợ cho VNCH, cản trở Mỹ nhận người Việt tỵ nạn cộng sản sau 30-4-75!
II. Trở Lại Với Với Bài Phản Biện Của Nhà Văn Họ Phạm
Việc thực hiện một cuốn hay bộ phim tài liệu nhiều tập về lịch sử hoặc về một cuộc chiến, ngoài chuyện sưu tầm chứng liệu trong thư viện, văn khố các nước liên hệ, nhóm làm phim còn phải tận lực tìm kiếm, chọn lọc và khai thác các nhân chứng để phỏng vấn nhằm củng cố cho những mục tiêu của họ.
Theo nhà văn họ Phạm, những người được mời phỏng vấn có 3 thành phần:
– Những người Mỹ, một số cựu chiến binh tại Việt Nam, nhân viên của chính phủ, nhà báo, người có chồng, con tử trận tại Việt Nam, và có cả những người thuộc thành phần chủ chốt trong phong trào phản chiến trước đây.
– Những người Việt Nam trong nước hầu hết là những sĩ quan cao cấp, nhà văn nhà báo phục vụ chế độ cộng sản. Ai cũng hiểu rằng, khi những nhà làm phim muốn tiếp xúc với họ đều phải qua chính quyền CSVN sắp xếp, chọn lựa hay tối thiểu là phải có sự cho phép, và tất nhiên phải nói những điều có lợi cho sự tuyên truyền của họ.
– Những người miền Nam (VNCH) đang sống tại Mỹ. Một số cựu sĩ quan, viên chức ngoại giao, và một vài người thành công ở Hoa kỳ.

Vì thế, ở điểm 3 bài phản biện bộ phim “The Viet Nam War”, nhà văn Phạm Tín An Ninh (PTAN) đã nêu câu hỏi: The Viet Nam War đã phỏng vấn những ai? Từ câu hỏi ấy, tác giả đã phát hiện thái độ thiên lệch của họ khi chọn nhân chứng.
Theo ông, những ai đã theo dõi sát bộ phim của hai đạo diễn Ken Burns và Lynn Novick, đều nhận ra là có người được nói rất ít. Trái lại, có người nói khá nhiều. Nếu khán thính giả là người có kiến thức, giao thiệp rộng có dịp tiếp xúc và tìm hiểu thẳng với người được mời phỏng vấn, sẽ biết thêm nhiều sự thật phũ phàng.
Sau khi bộ phim được công chiếu, trong số những nhân sĩ Việt quốc gia được phỏng vấn đã phàn nàn là họ nhận được nhiều câu hỏi với phần trả lời khá dài. Nhưng khi chiếu lại chỉ có một đoạn ngắn ngủi. Được hỏi về chuyện khiếu nại với tổ hợp làm phim để tìm nguyên nhân, phần lớn tìm cách thoái thác. Có nhiều lý do. Trong đó vì mặc cảm tự ti hoặc vì trở ngại ngôn ngữ.
Trong bài phản biện, chính nhà văn PTAN cũng cho rằng:
“Tất nhiên các nhà làm phim tìm họ để phỏng vấn, không phải chỉ để hỏi một đôi câu ngắn ngủn như thế, nhưng chắc chắn những lời nói của họ đã bị cắt bỏ, chỉ còn lại một vài câu có lợi theo quan điểm của người làm phim. Ngoại trừ bà Dương Vân Mai Elliott, là nhân vật được xuất hiện nhiều lần và phát biểu lâu nhất. Bà là nhà văn, tác giả cuốn sách ‘The Sacred Willow’ được đề cử giải Pulitzer, trong đó nói về bốn thế hệ sống trong một gia đình Việt Nam. Bà gốc người Bắc, thân phụ Bà làm việc cho Pháp. Năm 1954 cả gia đình di cư vào Nam, ngoại trừ người chị cả ở lại cùng chồng tham gia kháng chiến. Năm 1960 bà được học bổng, sang Mỹ học về ngành ngoại giao. Năm 1964, khi 23 tuổi, bà lập gia đình với người chồng Mỹ cùng ngành và sau đó cả hai vợ chồng cùng làm việc cho Rand Corporation ở Sài gòn từ 1964 đến 1967. Với thân thế như vậy, nên bà Dương Vân Mai Elliott hiểu biết khá tường tận về tình hình chính trị và quân sự ở miền Bắc Việt Nam trước 1954, cũng như ở miền Nam sau 1954. Tuy nhiên về sau này, từ giữa thập niên 1960, dường như bà đã có cái nhìn về cuộc chiến Việt Nam dưới lăng kính của một người Mỹ cấp tiến”.

Vẫn theo tác giả PTAN, “Một người đặc biệt nữa là ông thẩm phán Phan Quang Tuệ. Ông là con trưởng của Ông Phan Quang Đán, người sáng lập Đảng Dân Chủ Tự Do, luôn quyết liệt chống đối chính phủ Ngô Đình Diệm và tham gia cuộc đảo chánh bất thành ngày 11.11.1960 (với vai trò ủy viên chính trị và cố vấn), nên bị bắt cầm tù. Thời đệ nhị Cộng Hòa, ông ra tranh cử cùng liên danh với ông Phan Khắc Sữu, trong chức vụ Phó Tổng Thống, nhưng bị thua liên danh Nguyễn Văn Thiệu-Nguyễn Cao Kỳ. Do đó trong The Vietnam War, con trai ông, Phan Quang Tuệ, đã phát biểu tiêu cực về chế độ Ngô Đình Diệm cũng như các chính quyền miền Nam sau này với lòng hận thù, thay vì với lương tâm của một người trí thức”.
The Vietnam War hay Chiến tranh Việt Nam là một bộ phim tài liệu truyền hình của Mỹ do Geoffrey C. Ward viết kịch bản và Ken Burns cùng Lynn Novick đạo diễn, được thuyết minh Anh ngữ bởi Peter Coyote, gồm 10 tập với thời gian 18 tiếng mô tả khá chi tiết về cuộc chiến tranh Việt Nam. Mãi về sau này mới có thêm phụ đề Việt ngữ.
III. Không Chính Xác Từ Cách Gọi Tên Cho Cuộc Chiến
Ken Burns gọi cuộc chiến Việt Nam là “nội chiến”. Điều này không đúng với sự thật, cụ thể là đối với vai trò và vị trí của Việt Nam Cộng Hòa. Theo nhà văn PTAN, nếu là một cuộc nội chiến thì đã không có 58.220 người Mỹ đã chết trong chiến tranh Việt Nam. Chính vì sự méo mó này, mà trong suốt cuốn phim, không thấy đề cập nhiều đến các nước Cộng sản, đặc biệt là Liên Xô và Trung Cộng luôn là những quan thầy của CSVN và hỗ trợ hết mình để mang thắng lợi cho cộng sản miền Bắc.
Theo tài liệu của Google, có một thời điểm số binh lính cộng sản Trung Hoa có mặt tại Bắc Việt Nam lên tới 320.000 Trong khi Hoa Kỳ đã nhảy vào Nam Việt nam và xem miền Nam như là một tiền đồn của Thế Giới Tự Do, nhằm ngăn chặn làn sóng đỏ Cộng sản bành trướng xuống Đông Nam Á. Hơn nữa, quân đội Nam Việt Nam (VNCH) chưa hề đưa quân tấn công ra Bắc, họ chỉ bảo vệ miền Nam để xây dựng một thể chế dân chủ tự do, không Cộng sản. Còn cái gọi là MTGPMN cũng chỉ là đám cộng sản nằm vùng, được cài lại miền Nam sau 1954, hoặc xâm nhập từ miền Bắc sau này, được CSBV nặn ra nhằm lừa bịp quốc tế.
Với chủ trương đánh tráo khái niệm về bản chất cuộc chiến, nhóm thực hiện bộ phim The Viet Nam War đã trắng trợn phủ nhận hoàn toàn tính chính danh của Việt Nam Cộng Hòa. Tệ hơn nữa, chúng còn khiên cưỡng nâng cái gọi là Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam, một thứ con rơi của Hà Nội, lên ngang hàng với một chính quyền hợp pháp, có Hiến Pháp với tam quyền phân lập Nam Việt Nam, từng một thời được hầu hết các cường quốc thế giới công nhận. Điều này đã trở thành một tai họa lớn cho chính quyền miền Nam Việt Nam trong suốt mấy năm thương thảo ở vị thế bất lợi về mọi mặt cho đến khi kết thúc hiệp Định Paris năm 1972.
Miền nam California, Hoa Kỳ, Thứ Sáu 28-2-2026
Trần Phong Vũ
_______________________________________
*Trước những lời nói thẳng thừng của nhà báo Bảo Ninh trả lời cuộc phỏng vấn của Việt Nam War, một tôi mọi của Ba Đình hoặc chỉ là một thứ Dư Luận Viên tép riêu Nam Nguyen đã lên tiếng mạt sát Bảo Ninh với những lời lẽ du côn, hạ đẳng qua địa chỉ trên mạng:· sonpodSertr2ui490gect0tc04m128 6gh1beu5ma6,16l f7Dimge5c326t. Trước bút danh quen thuộc Bảo Ninh, Nam Nguyên kèm tên thật hoặc bút danh khác của ông là Hoàng Ấu Phương Bảo Ninh.
Phụ họa với Nam Nguyên, một Dư Luận Viên khác, xưng tên Đoàn Vũ viết: Văn chương của Mày! Là loại loạn thần..! Vứt luôn vào sọt rác. (Người đưa thuyền cũng là Dân, người lật thuyền cũng là Dân!) Người đủ tài năng Đức! Trí !Dũng! Đưa Dân tộc Việt Nam có ngày hôm nay chỉ có (Bác Hồ kính yêu! Chủ tịch Hồ Chí Minh) Chúng Mày! Phản bội công lao của Dân tộc, công lao của Bác Hồ kính yêu! Chúng Mày sẽ bị trả giá! Dân tộc Việt Nam sống rất có tình, có nghĩa nhưng Cũng không tha, những kẻ nào có tư tưởng ăn cháo đái bát như chúng Mày!
Ghi thêm của người viết: Câu do Đoàn Vũ để trong ngoặc đơn (Người đưa thuyền cũng là Dân, người lật thuyền cũng là Dân!) Nhìn dấu chấm than (!) ở cuối, cá nhân tôi nghĩ có lẽ đương sự đã trích trong câu Bảo Ninh trả lời phỏng vấn của nhóm làm phim, một câu quen thuộc thường được dùng để ám chỉ sức mạnh của Nhân Dân, của quần chúng vốn có khả năng đưa một chế độ, một chính quyền lên, đồng thời cũng có thể hạ bệ chế độ hay chính quyền ấy, khi nó có hành vi phản lại nguyện vọng Nhân Dân, quần chúng, ví với ngọn sóng có thể nâng con nguyền lên, nhưng cũng có thể vùi con thuyền xuống đáy biển sâu.
Dù đã có dịp coi qua bộ phim vào thời gian tôi ra mắt tác phẩm “Việt Nam, Nỗi Đau & Niềm Hy Vọng”, do tủ sách Tiếng Quê Hương xuất bản cuối năm 2018, nhưng nay, với tuổi 94, trí nhớ ngày một suy giảm, tôi không nhớ. Nếu độc giả nào đã coi phim và chuyện này có hay không, xin vui lòng cho biết.
** “Khi Đồng Minh Nhảy Vào” và “Khi Đồng Minh Tháo Chạy” là tiêu đề hai tác phẩm thời danh của Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng
Bài 4 – Xem Thường Lãnh Đạo & Chiến Tích của QuânLực Việt Nam Cộng Hoà
Trở lại với cách nhìn của nhà văn Phạm Tín An Ninh (PTAN) đối với bộ phim của hai đao diễn Ken Bunrs và Lynn Novick, hôm nay người viết tiếp tục bàn về 2 điểm chót. Đó là thái độ khinh mạn đối với vị Tổng Thống khai sáng nền Cộng Hòa Việt Nam (điểm 5) và những chiến tích vang dội của những người lính đã góp máu (điểm 6) trong chế độ đó.
Ngay từ đầu mục số 5, tác giả PTAN đã chỉ ra tằng: “Cách hành xử sai lầm và ‘kẻ cả’ của Mỹ đối với một đồng minh, đã đưa đến sự thất bại tại Nam Việt nam”.
Theo ông, không có một vị lãnh đạo và cả người dân miền Nam nào muốn có sự hiện diện cùa quân đội Hoa Kỳ trên đất nước của họ. Chính Tổng thống Ngô Đình Diệm đã từng cực lực lên tiếng bác bỏ ý định của Hoa Kỳ, ngay từ thời Tổng thống J.F. Kennedy, muốn đưa quân vào Nam Việt nam. Chính hành vi “kẻ cả, xem thường đồng minh” ấy đã đưa đến cái chết thảm khốc của anh em Ông Diệm vào ngày 1.11.1963, tiếp sức cho tham vọng cướp nước của kẻ thù phương Bắc, dẫn tới sự sụp đổ của miền nam tự do, phú cường 12 năm sau!
Vẫn theo nhận định cùa nhà văn PTAN, chính TT Ngô Đình Diệm là người luôn phản đối việc Mỹ đưa quân sang Việt Nam, vì ông nghĩ như thế sẽ làm mất chính nghĩa cho công cuộc đấu tranh của dân chúng miền Nam bảo vệ tự do. Và nó cũng là cái cớ để Liên Xô và Trung Cộng vào cuộc, ra lệnh và hỗ trợ miền Bắc đưa quân vào đánh Nam Việt nam. Tác giả viết:
“Nên nhớ là nền cộng hòa non trẻ của Ông Ngô Đình Diệm được xây dựng tại miền Nam sau Hiệp định Genève 1954, trên những đống tro tàn, rác rưởi và nhiều phe nhóm bạo loạn của Pháp để lại, cùng lúc phải lo định cư cho hơn một triệu người dân di cư từ miền Bắc, trốn thoát chế độ CS. Nếu có đôi điều bất như ý cũng là lẽ tất nhiên. Nhưng đây lại là thời kỳ “vàng son” nhất mà người dân miền Nam được hưởng: giáo dục, kinh tế và cả quốc phòng phát triển tốt đẹp. Với kế hoạch Ấp Chiến Lược, chính quyền Ngô Đình Diệm đã tiêu diệt và loại gần hết đám CS nằm vùng tại Nam Việt Nam, do CS gài lại sau hiệp định Genève”.
I. Sự Bất Công Khi Nói Về Ông Diệm Và Ông Hồ
Nhắc tới một chi tiết về tinh thần bao dung, tha thứ mà ít người biết, hoặc biết không đầy đủ của TT Diệm, nhà văn họ Phạm kể rằng: “Có lẽ Ông là người lãnh đạo quốc gia duy nhất trên thế giới đã tha tội chết cho cả ba người từng giết hụt mình: Hà Thúc Ký, Phạm Phú Quốc và Hà Minh Trí (người ám sát Ông tại Ban Mê Thuột)”.
Trước khi thẳng thắn phê phán sự bất công quá lố của phim The Vietnam War khi nói về TT Diệm và ông Hồ, PTAN đã tự mình so sánh con người và nhân cách hai khuôn mặt lãnh đạo hai miền Nam Bắc. Ông cho hay: Trong khi Ngô Đình Diệm yêu nước, thương dân, đạo đức hơn gấp vạn lần, sống độc thân trọn đời, thì Hồ Chí Minh tự xưng mình là “Bác” của toàn dân, bắt mọi người phải tôn thờ ca tụng. Ông cho biết thêm: họ Hồ đã từng sống với nhiều người đàn bà, ngay cả với vợ một đồng chí của mình, và ra lệnh giết một cô con gái trẻ sau khi có con với ông ta và cô ấy tỏ ý muốn được công khai chấp nhận. Chưa hết, một tội ác điển hình của ông ta, khi ban hành Chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất, giết dã man hàng vạn người dân vô tội, trong đó có cả bà Nguyễn Thị Năm, người bị xử tử đầu tiên, là một ân nhân đã từng cưu mang ông cùng những cán bộ cao cấp, và trợ giúp rất nhiều cho tổ chức của ông. Nhắc tới bộ phim của hai đạo diễn Ken Burns và Lynn Novick, nhà văn và cũng là người lính Việt Nam Cộng Hoà (VNCH) họ Phạm nhấn mạnh:
“Trong Tập 1 The Vietnam War, người làm phim đã hết sức ca ngợi Hồ Chí Minh và bôi bẩn hình ảnh ông Ngô Đình Diệm một cách ác ý đến lố bịch.
II. Mỹ đã lợi dụng biến cố Phật Giáo ra sao?
Dựa vào những hiều biết bản thân cũng như thâm ý của nhóm làm phim, PTAN cho hay, người Mỹ đã lợi dụng một vài bất đồng của Phật Giáo, đi đêm và đứng đằng sau một số sư sãi quá khích, tạo nên tình trạng bất ổn liên tục tại miền Nam. Tuy nhiên, thực tế cho ông thấy rằng, sau ngày mất miền Nam, đã lộ ra rất nhiều sinh viên Phật tử đứng đầu các cuộc tranh đấu chống Ngô Đình Diệm vốn là những đảng viên hoặc đã hợp tác với Cộng sản. Tỉ dụ như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Thị Đoan Trinh … tại Huế. Và những khuôn mặt khác như Đỗ Trung Hiếu, Đỗ Hữu Ưng, Lê Hiếu Đằng, Lê Văn Nuôi, Huỳnh Tấn Mẫm … tại Sài gòn. Sau khi chế độ Ngô Đình Diệm đã bị lật đổ, dù không còn vin vào lý do “đàn áp Phật giáo” được nữa, nhưng những người mượn danh Phật Giáo này vẫn tiếp tục phản đối các chính quyền kế tiếp, gây bất ổn cho cả nước, đặc biệt tại Huế, miền Trung Việt nam.
Đối với người Mỹ, họ thừa biết như vậy, nhưng vẫn cố tình làm ngơ. Không những thế họ còn dựa vào những sự kiện bất ổn chính trị này để biện mình cho việc đưa quân vào Nam Việt nam, cùng chủ trương lật đổ và giết ông Diệm, người luôn chủ trương giới hạn tối đa sự hiện diện đông đảo Cố Vấn và quân nhân Mỹ trong chiến cuộc Việt Nam. Trước sau, từ TT Diệm cho tới các chính quyền miền nam sau này để chỉ yêu cầu được viện trợ trong thời gian miền Nam đang từng bước xây dựng nền cộng hòa non trẻ của mình.
Vẫn theo cách nhìn của nhà văn họ Phạm, điều trịch thượng và “phi chánh trị” quái đản khác của người Mỹ là từ khi đưa quân ào ạt vào Nam Việt Nam, họ mặc nhiên xem cuộc chiến này là của họ. Trong tất cả các cuộc đàm phán, ký kết hiệp định, Mỹ tự cho mình ngang hàng với Bắc Việt và mặc nhiên coi Nam Việt Nam đồng đẳng với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (MTGPMN). Trong khi ai cũng biết rằng: MTGPMN chỉ là một nhóm tay sai do Hà Nội dựng lên để lừa bịp quốc tế. Chỉ cần nhìn vào sự kiện trước mắt là ngay sau khi vừa cướp được Nam Việt Nam, cộng sản đã trắng trơn khai tử MTGPMN, tất cả những nhân vật trong chính phủ của Mặt Trận này không nhận được bất cứ một chức vụ quan trọng nào, và bị loại dần ra khỏi guồng máy lãnh đạo, ai cũng dễ dàng nhận ra trò hề này. Điều đặc biệt tệ hại hơn, Hiệp định Paris ký ngày 27.1.1973 là một áp đặt trắng trợn để ngay sau đó Hoa Kỳ phủi tay khi cộng sản Bắc Việt (csBV) công khai ngang nhiên vi phạm chính những điều chúng đã ký kết.
Điểm cuối cùng là điểm 6 trong bài phản biện của nhà văn PTAN, với tư cách là người trực tiếp chiến đầu chống cuộc xâm lăng cướp nước của csBV, ông đã chủ động trưng ra những bằng chứng cụ thể về bản chất và tinh thần chiến đấu anh dũng để bảo vệ miền nam Việt Nam của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà (QLVNCH).
Tiêu đề của điểm thứ 6 trong bài phản biệt là The Vietnam War quá bất công đối với QLVNCH, một quân đội đã bị bức tử, không còn tiếng nói.
Với bản chất hiền lương, nhà văn họ Phạm đã tỏ ra hết sức kiềm chế lòng tự ái tự nhiên để dùng từ “bất công” khi nói tới thái độ khinh khi, miệt thị của những người chủ trương thực hiện bộ phim từng gây ra rất nhiều tranh cãi, kể cả bất bình đến phẫn nộ này.
III. Từ Biến Cố Mậu Thân 1968 Đến Mùa Hè Đỏ Lửa 1972
Mở đầu điểm thứ 6, tác giả đã đau đớn nêu lên con số thương vong giữa quân đội Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa, trong cuộc chiến đẫm máu tính tới tháng Tư năm 1975. Ông cho biết: trong khi Mỹ có 58.220 quân nhân chết tại Việt Nam, thì QLVNCH có đến trên 320.000 binh sĩ tử trận và khoảng hơn 1.200.000 bị thương! Đề cập vụ vi phạm trắng trợn lệnh hưu chiến trong những ngày Tết cổ truyền của Dân Tộc, ông nhắc lại: trong Tết Mậu Thân 1968, csBV đã tung nhiều sư đoàn đánh vào nhiều thành phố Nam Việt Nam, QLVNCH đã anh dũng chiến đấu và đập tan ý đồ của địch, gây tổn thất rất nặng nề cho csBV. Căn cứ vào điều gọi là “cuộc Tổng Nổi Dậy” của cộng sản nhắm vào nhiều tỉnh thị bao gồm Thủ Đô Sàigòn và Cố Đô Huế, chúng ta không thể quên được nội dung bốn Câu Thơ của họ Hồ năm ấy. Xin ghi lại ở đây để quý độc giả cùng đọc lại. Đọc lại để cùng suy gẫm:
“Xuân này hơn hẳn mấy Xuân qua,
Thắng trận Tin Vui khắp mọi nhà.
Nam Bắc thi đua thắng giặc Mỹ.
Tiến lên! Phần Thắng ắt về Ta!”
Nội dung, nhất là khẩu khí hàm ngụ trong 4 câu thơ trên đây không chỉ mang ý nghĩa chúc Tết thông thường mà là một Khẩu Lệnh nghiêm chỉnh phát xuất từ cửa miệng Nhân Vật Cầm Đầu Bắc Bộ Phủ đốc thúc các đơn vị Bộ Đội tinh nhuệ miền Bắc bất chấp lệnh ngưng chiến trong ba Ngày Tết cổ truyền của Dân Tộc, xâm nhập miền Nam phối hợp cùng tập thể Du Kích Quân ô hợp địa phương đồng loạt liều chết mở cuộc Tổng Nổi Dậy tranh cướp miền nam Việt Nam!
Tác giả họ Phạm nêu lên câu hỏi: “Người ta không hiểu vì lý do gì, trong những ngày đầu trong trận Mậu Thân, ở nhiều nơi, Mỹ đã không tham chiến? Và mặc dù csBV đã vi phạm thỏa ước hưu chiến trong ngày Tết nguyên đán, bất ngờ tổng tấn công vào nhiều thành phố lớn, vậy mà đã không có khả năng chiếm được bất cứ thành phố nào. Chỉ có Huế kéo dài 26 ngày, và csBV đã giết dã man hơn 6.700 người dân vô tội”. Về câu hỏi lý do nào khiến đoàn quân viễn chinh của Mỹ lại tỏ ra thờ ơ không tham chiến chống lại cuộc tổng nổi dậy của csBV, theo suy nghĩ của người viết, câu hỏi của tác giả hàm ẩn ý định động não cho mọi người cùng suy nghĩ trong khi chính ông đã biết, và biết rất rõ rằng: Với một khẩu lệnh hiển nhiên như thế vào lúc Hoa Thịnh Đốn đã nuôi ý định rút chân ra khỏi vũng lầy cuộc chiến thì phải nói trắng ra một điều hết sức đau đớn là không phải chờ tới 7 năm sau, ngay lúc ấy, ít nhất trong ý nghĩ họ muốn dành lợi thế cho đối phương dễ dàng kết thúc cuộc chiến!!!
Trọng nỗi đau ấy, ít nhất cũng giúp QLVNCH có cơ hội một mình lăn xả vào cuộc chiến trong suốt 26 ngày đêm gây nhiều tốn thất cho một bày chó đói đã nhuộm máu ngót 7000 đồng bào vô tội, trước khi tàn quân rút chạy về rừng.
Cũng trong dịp này gợi nhớ cho người viết tới chứng từ hết sức cảm động của Phó Đề Đốc Nguyễn Từ Huấn, nhân dịp dự khán cuốn phim 90 phút mang tên “Vietnam War, Untold Storries – Chiến Cuộc VN – Những Điều Chưa Nói” khiến người coi phải rơi lệ. Được biết ông Huấn vốn là một người tị nạn được người thân mang qua Mỹ thời thơ ấu. Ông vốn là nạn nhân may mắn sống sót trong vụ thảm sát tập thể do tên cán bịnh cs Bảy Lốp gây ra cho cha mẹ và bốn anh chị em lúc ông còn là một đứa trẻ. Là một quân nhân, một sĩ quan cấp Tướng gốc Việt trong Hải Quân Hoa Kỳ, khi được hỏi về quá khứ đau thương trong gia đình, dù ông cố gắng kiềm giữ cho dòng lệ không trào ra nhưng qua gương mặt thất thần, qua giọng nói nghẹn ngào, qua cử động của thân xác, khán thính giả cảm thấu được đến tận cùng nỗi đau đớn, uất nghẹn đang trào dậy trong tâm tư ông.


Nói tới tên sát nhân Bảy Lốp khiến mọi người liên tưởng tới trường hợp tướng Nguyễn Ngọc Loan sau khi nghe thuộc cấp cho biết chính y đã can dự nhiều vào việc thảm sát đám đông đàn bà, con trẻ, khiến ông nổi giận nổ súng xử tử y ngay trên hè phố Sài Gòn giữa lúc cuộc tổng nổi dậy “non” của csBV chưa kết thúc. Khi tấm hình ông tướng xử tội Bảy Lốp xuất hiện, dư luận Hoa Kỳ lên tiếng báng bổ.*
Sánh với bộ phim Cuộc Chiến 10 Ngàn Ngày của Mỹ nhiều năm trước, PTAN cho rằng, phim The Vietnam War khá hơn đôi chút vì có đề cập thoáng qua tội ác này của csBV. Tuy nhiên lại nghe theo lời nói láo của một cựu chiến binh cộng sản để hạ thấp con số 6.700 nạn nhân vô tội bị giiết xuống còn 2.800 người.
Vẫn theo tác giả bài phản biện, “Mùa Hè 1972, csBV đưa một lực lượng quân sự hùng hậu, với xe tăng, đại pháo tối tân của Nga sô cung cấp, từ miền Bắc và Lào xâm nhập Nam Việt Nam, dùng nhiều sư đoàn thiện chiến, đánh vào Quảng Trị, Kontum và An Lộc. Lúc này các đơn vị chiến đấu Mỹ đã rút khỏi Nam Việt Nam, chỉ có QLVNCH đã chống trả mãnh liệt, tạo những chiến thắng lẫy lừng, giữ vững được các tỉnh lỵ này và gây tổn thất rất lớn cho csBV. Thời điểm này, Hoa Kỳ cũng đã cắt giảm khá nhiều viện trợ cho Nam Việt Nam. (Thêm một điều cần nói: QLVNCH luôn luôn được Mỹ viện trợ vũ khí, chiến cụ kém hiệu năng rất nhiều so với vũ khí, chiến cụ của csBV được phe cs trang bị). Một câu hỏi được đặt ra, trong Mùa Hè 1972 này, QLVNCH đã chiến thắng lớn tại Kontum, An Lộc và cả Quảng Trị, nhưng trong The Vietnam War không hề được nhắc tới, thay vào đó lại là hình ảnh của một lực lượng thuộc Sư Đoàn 3 BB phải lui binh khỏi Quảng Trị? Một cuộc chiến như thế, với những thành tích và sự hy sinh như thế, nhưng trong The Vietnam War, cả một quân đội miền Nam ấy gần như cái bóng mờ nhạt, nếu có đề cập, cũng chỉ là một vài hình ảnh tiêu cực”.
Nam California, Thứ Hai, ngày 9-3-2026
Trần Phong Vũ
* Đây là chứng từ của nhà văn và cũng là người lính VNCH PTAN liên quan tới trường hợp tướng Nguyễn Ngọc Loan được minh oan và một số chứng từ khác trong phản biện của tác giả chưa được đưa vào tiểu luận này;
Trường hợp Tướng Nguyễn Ngọc Loan xử tử tên VC Bảy Lốp sau khi tên này đã tàn sát rất dã man cả một gia đình từ bà già cho đến con nít. Và khi ấy tên VC này không hề mang quân phục hay bất cứ giấy tờ gì, thì không thể gọi hắn ta là tù binh để phải hành xử theo luật tù binh chiến tranh được. Hắn ta được xử như một tên khủng bố nguy hiểm, ác độc. Tướng Loan đã được một toà án Hoa Kỳ miễn truy tố, với lý do này.
Phóng viên Eddie Adams, người chụp bức hình xử bắn được giải Pulitzer ấy, đã tìm đến gia đình Tướng Loan xin lỗi, và khi được tin Tướng Loan mất, Eddie đã đích thân đến dự đám tang, khóc nức nở khi đọc bài điếu văn, trong đó có đoạn: “Ông là một vị anh hùng. Cả nước Mỹ nên khóc thương ông mới phải, tôi không muốn nhìn thấy ông ra đi như thế này, người ta không hiểu gì về ông ấy”. (The guy was a hero, America should be crying. I hate to see him go this way – Without people knowing anything about him). Trên vòng hoa phúng điếu của Eddie Adams, có đính một danh thiếp ghi rõ dòng thủ bút: “General! I’m so…sorry. Tears in my eyes”. (Thưa Thiếu tướng, tôi rất ân hận. Lệ đã tràn đầy mắt tôi). Bản điếu văn của ông Eddie Adams sau đó được tuần báo Time đăng tải vào ngày 27 tháng 7 năm 1998.
Bây giờ, The Vienam War lại đóng thêm những chiếc đinh oan nghiệt trên quan tài của của một người đã chết, đã từng bị sỉ nhục và khốn đốn vì tấm ảnh mang một nửa sự thực, chỉ vì ông là người của Nam Việt Nam!
Trong khi ấy, suốt cuốn phim 10 tập, dài đến 18 tiếng đồng hồ, người ta không tìm thấy hình ảnh của csBV pháo kích vào trường tiểu học Cai Lậy ngày 9.3.74, làm chết 32 và gây thương tích cho 55 em học sinh. Người ta cũng không hề thấy cảnh trên 2.000 đồng bào, rời bỏ làng mạc bị cộng sản chiếm, gồng gánh chạy về phía tự do, bị cộng sản pháo kích tàn sát, nằm chết la liệt trên đoạn đường dài 9 km (QL 1 thuộc tỉnh Quảng Trị) được báo chí đặt tên là “Đại Lộ Kinh Hoàng”. Một hình ảnh rất đặc biệt mà đến nay nhiều báo chí tại Hoa Kỳ vẫn còn nhắc đến, một bé gái 4 tháng tuổi ôm bú vú người mẹ chết từ mấy ngày trước, đã được một binh sĩ TQLC/ VNCH cứu, mang về giao cho một viện mồ côi. Sau đó, cháu bé được một trung sĩ Mỹ nhận làm con nuôi, đưa sang Mỹ vào cuối năm 1972, và sau này trở thành một sĩ quan cao cấp trong Quân đội Hoa kỳ: Đại Tá Kimberly M. Mitchell! Người Mỹ đã ca ngợi cô đại tá Hải Quân gốc Việt này, nhưng trong The Vietnam War không hề nhắc tới Đại Lộ Kinh Hoàng!
(Nguồn: Vận Hội Mới)

