Lê Nguyễn
Trong cuộc đời của mỗi chúng ta, sự xung đột giữa tài năng và nhân cách, sự song hành giữa công và tội là cả một bi kịch. Trong lịch sử thời Pháp thuộc, đó là những Hoàng Cao Khải, Cao Xuân Dục ở miền Bắc, là Đỗ Hữu Phương, Trần Bá Lộc ở miền Nam. Hai vị trước vừa tích cực ra tay đàn áp, sát hại nghĩa quân kháng chiến chống Pháp, vừa để lại cho đời nhiều công trình văn hóa lịch sử quan trọng còn lưu giá trị đến ngày nay. Hai ông sau cũng lập nhiều “đại công” với Pháp, trong đàn áp các cuộc khởi nghĩa của Thủ Khoa Huân, Mai Xuân Thưởng, được thăng đến hàm Tổng đốc, đến cuối đời cũng làm được đôi điều ích nước lợi dân. Ông họ Trần ra sức huy động người đào con kênh Tổng đốc Lộc, giúp mở mang sự vận chuyển của cả một vùng rộng lớn, ông họ Đỗ ra sức mở cuộc lạc quyên để xây dựng cho thành phố Sài Gòn ngôi trường Con gái bản xứ (École des filles indigènes), sau là trường Áo tím, trường Gia Long, nay là trường Nguyễn Thị Minh Khai.
Đến giữa thế kỷ XX, bên cạnh những tác phẩm của Tự lực văn đoàn, cả một thế hệ học sinh, sinh viên miền Nam còn khao khát nền văn học tiền chiến với những Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Tuân, Lưu Trọng Lư…, mà vì lý do chia cách hai miền, tác phẩm của họ không được phép xuất bản ở miền Nam. Bản thân người viết bài này khi cầm được những Thơ Thơ, Gửi Hương Cho Gió của Xuân Diệu, Lửa Thiêng của Huy Cận, Vang Bóng Một Thời của Nguyễn Tuân từ một ông “Bắc kỳ di cư” chuyên cho thuê sách cũ, lòng rưng rưng xúc động như bắt gặp của quý tự nghìn đời.
Thế rồi, sau năm 1954, sự kiện Nhân văn – Giai phẩm như một quả bom nổ giữa trời quang, lột trần trụi nhiều sự thật, làm sụp đổ những thần tượng của thế hệ chúng tôi. Bi kịch đó đeo đẳng cuộc đời mỗi nhà văn, nhà thơ cho đến ngày nhắm mắt xuôi tay, đồng thời cũng tạo nên một bài học về liêm sỉ của người cầm bút.
Những năm trước 1975, cuộc chiến khốc liệt giữa hai miền Nam-Bắc biến tuyên truyền thành vũ khí sắc bén nhất để giành lấy thắng lợi về các mặt tinh thần, tâm lý, kể cả mặt ngoại giao. Đó là thời kỳ hoàng kim của Hòn Đất (Anh Đức), Người Mẹ Cầm Súng (Nguyễn Thi), thơ Tố Hữu …, những “tác phẩm” vẽ lên hình tượng những người cầm súng bảo vệ mảnh đất mình đang sống không còn là những con người, mà là một loài ngạ quỷ hút máu người, ăn thịt người, lấy sự chém giết làm lẽ sống.
Sau tháng 4.1975, tưởng như với sự thống nhất về địa lý, giang sơn thu về một mối, một quá khứ với bao nhiêu “sự thật” bị vẽ vời, phóng đại sẽ được xếp vào tàng cổ viện, không ngờ nó vẫn tiếp diễn với quán tính cũ, với một thế hệ nhà văn kế thừa sự bịa đặt của lớp đàn anh. Lần này, văn chương còn được sự chắp cánh của phim, kịch, tạo nên những Ván Bài Lật Ngửa, Ông Cố vấn, Biệt động Sài Gòn,… và nhiều lúc hình ảnh những kẻ bại trận còn được miêu tả ghê rợn hơn, như cảnh người lính miền Nam moi tim gan đối phương, nướng ăn và còn chia nhau hai hạt… tinh hoàn. Sự tưởng tượng cao siêu đến mức ghê tởm!
Xét cho cùng, so với Hòn Đất của Anh Đức, Người Mẹ Cầm Súng của Nguyễn Thi và “tác phẩm” của nhiều người cùng thời khác, thì Mưa Đỏ của Chu Lai chẳng là cái đinh gì. Không may cho ông, quyển tiểu thuyết được chuyển thể thành phim trong một thời điểm mà lương tri con người và tinh thần yêu chuộng sự trung thực và công bằng đang được mạng xã hội dành cho những điều kiện tốt nhất để phát huy. Vì thế, thay vì phùng mang trợn mắt, cãi chầy, cãi cối như nhiều người khác, sự bối rối của ông Chu Lai cũng còn ẩn chứa một chút liêm sỉ của người cầm bút, ta nên thông cảm phần nào với ông để nhà văn còn có dịp ngẫm lại mình
.
Nhà văn Chu Lai và tiểu thuyết Mưa Đỏ của ông đang gây tranh cãi.
Thân phận một nhà văn quốc doanh lắm trái ngang, không dễ gì nói được hết những suy nghĩ của mình. Đến như Phùng Quán, vang danh một thời với Lời Mẹ Dặn, mà còn có lúc tự thú rằng ông đã ngồi ở Hà Nội để tưởng tượng nên một Vượt Côn Đảo “địa ngục trần gian”.
Cũng xin đừng như ai kia, đánh tráo khái niệm bằng cách so sánh tính hư cấu của bộ phim lừng danh Titanic với phim Mưa Đỏ, qua cảnh mô tả anh lính miền Nam thiêu sống anh tù binh phương Bắc. Sao nỡ lòng so sánh như vậy? Trong Titanic, sự hư cấu nâng giá trị nghệ thuật lên một tầm cao mới, còn trong Mưa Đỏ, sự hư cấu mang tính bịa đặt nhằm vùi lấp danh dự của người bại trận xuống bùn đen, và ghi đậm trong tâm hồn thế hệ trẻ sự ngộ nhận và thù hận đối với thế hệ cha anh của họ.
Ngày nay, nói đến sự liêm sỉ của người cầm bút, đã là xa xỉ chưa? Mình nghĩ là chưa. Vẫn còn đó những tiếng nói của lương tri đang ngày càng nở rộ trên mạng xã hội, đặc biệt của những người từng lớn lên dưới mái trường XHCN, nay vừa qua một thời tuổi trẻ và đang nhìn lại xã hội mình đang sống với cái nhìn trung thực, thẳng thắn và nhân văn. Đọc bài viết và bình luận của những bạn đó, mình rưng rưng xúc động, hi vọng vào một thế hệ kế thừa đang ngày càng sáng suốt, nhiều tình người hơn.Nói đến sự liêm sỉ của người cầm bút, sẽ là vô cùng thiếu sót nếu chúng ta không nhắc đến nhà thơ Hữu Loan, con người đã coi khinh nghịch cảnh, đạp bằng trở lực, dành quãng đời còn lại đi đập đá và thồ đá để nuôi sống gia đình. Con người đó xứng đáng được tạc thành một tượng đài bất tử, và tên được đặt cho nhiều con đường để vinh danh cho tiết tháo và liêm sỉ ở đời. Chừng nào xã hội chưa làm được điều đó, nhiều người trong chúng ta vẫn còn bất an cho tương lai của những thế hệ đến sau mình.
Lê Nguyễn
Nguồn: (baotiengdan.com)
Đọc thêm:
Hư cấu trong nghệ thuật và hư cấu trong tuyên truyền
1. Có hai điều cần khẳng định ngay.
Một là hư cấu là một quyền năng lớn lao, cao cả của nghệ thuật. Không có hư cấu sẽ không có nhiều tác phẩm nghệ thuật kinh điển.
Hiện thực không hề có con khỉ có phép thần thông biến hoá nhưng hư cấu đã tạo ra Tôn Ngộ Không đi mây về gió, biến hoá như hồn ma bóng quỉ. Không có hư cấu, không có Tôn Ngộ Không, không có Tây Du Ký bất hủ.
Không có hư cấu, không có Don Quixote, không có hình tượng hiệp sĩ trung cổ lênh khênh trên con ngựa gầy guộc, tay cầm giáo dài lao vào chiến đấu với cánh quạt cối xay gió. Hình tượng đã khắc vào tâm trí con người từ Âu sang Á hơn bốn trăm năm qua và sẽ còn mãi trong kho tàng văn hoá nhân loại.
Đó là hư cấu nghệ thuật. Hư cấu nghệ thuật nâng cao tính người, năng cao phẩm giá con người, nâng con người lên những giá trị thẩm mỹ cao cả.
Hai là thời chiến tranh, lại trong thể chế độc đảng độc tài, dù muốn hay không người làm nghệ thuật không thể thoát khỏi thân phận là công cụ trên mặt trận văn hoá, tư tưởng, công cụ tuyên truyền của thể chế độc tài nơi mình đang sống. Người làm nghệ thuật phải hư cấu theo đòi hỏi của tuyên truyền chính trị. Vì vậy hình tượng hư cấu bí thư cộng sản Thuận ở bờ Nam sông Bến Hải bị lính miền Nam trói vào cột, chất củi thiêu sống trong phim Vĩ Tuyến 17 Ngày Và Đêm rất phản mỹ cảm vẫn được xã hội dễ dàng chấp nhận.
Tiểu thuyết Hòn Đất hư cấu ra tên sĩ quan quân đội miền Nam tên Xăm ác ôn đến mức bắt được Việt Cộng liền mổ bụng, moi gan, nổi lửa xào gan Việt Cộng làm mồi nhậu. Hãm hiếp phụ nữ rồi cắt vú, lấy ly hứng máu hoà với rượu, say sưa nhậu máu người. Thứ văn chương hư cấu tạo ra nhân vật mất tính người, phản thẩm mỹ như vậy vẫn được xã hội sống trong tuyên truyền áp đặt chấp nhận, được đưa vào sách giáo khoa giáo dục lý tưởng thẩm mỹ cho lớp lớp thế hệ trẻ!
Đó là hư cấu tuyên truyền. Hư cấu tuyên truyền tạo ra thứ nghệ thuật phản nghệ thuật, phản thẩm mỹ, phá hoại thẩm mỹ xã hội, đầu độc cả xã hội.
Chiến tranh qua rồi. Những đòi hỏi khắc nghiệt của thể chế độc tài thời chiến tranh qua rồi. Đòi hỏi người làm nghệ thuật phải đánh mất mình, phải gồng mình lên làm nghĩa vụ thần dân không còn gay gắt nữa và người làm nghệ thuật đích thực cũng không thể cam tâm, an phận mãi mãi là thần dân, là công cụ tuyên truyền của quyền lực chính tri. Chiến tranh vừa kết thúc, nhà văn Nguyễn Minh Châu liền viết ngay Lời Ai Điếu cho thứ văn chương minh hoạ cho chính trị. Viết lời cay đắng giã từ thứ văn chương minh hoạ cho quyền lực.
Người làm nghệ thuật phải trở về con người công dân, nhận lấy trách nhiệm công dân với xã hội. Người làm nghệ thuật đích thực, nghệ sĩ chân chính phải tự giải phóng mình thoát khỏi thân phận công cụ của chính trị, của quyền lực, trở về với thiên chức của nghệ thuật là phát hiện ra cái Đẹp trong con người nhân loại, phát hiện ra cái Đẹp trong cuộc sống và sáng tạo ra cái Đẹp cho cuộc sống. Cái Đẹp căn cốt nhất, cái Đẹp vĩnh hằng trong con người nhân loại làm nên tính Người là tình yêu. Yêu thiên nhiên. Yêu cuộc sống. Yêu thương con người.
2. Xin có đôi dòng để thấy cuộc chiến tranh Việt Nam 1960 – 1975 thực sự là cuộc nội chiến Nam — Bắc tương tàn, cuộc nội chiến do thế cuộc xô đẩy người Việt cùng bọc trăm trứng của Mẹ Âu Cơ, cùng dòng giống Lạc Việt, cùng là những tâm hồn và trí tuệ sáng tạo ra nền văn minh sông Hồng rực rỡ lại bị chia tách thành hai thế lực thù hận nhau, bắn giết nhau!
Hiệp định Genève 1954 đã xác định hai chính quyền Việt Nam cùng chính danh như nhau, chia nhau trách nhiệm quản trị hai phần lãnh thổ Việt Nam. Chính quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, VNDCCH, quản trị lãnh thổ phía Bắc vĩ tuyến 17. Chính quyền Việt Nam Cộng Hoà, VNCH, quản trị lãnh thổ còn lại phía Nam. Ngày 20.7.1956, hai chính quyền cùng tổ chức tổng tuyển cừ để người dân hai miền bầu chọn một chính quyền chung, thống nhất lại đất nước.
Nhưng thay vì tổng tuyển cử để người dân bầu chọn một chính quyền chung của cả nước thì cả hai chính quyền quản trị hai miền Nam Bắc Việt Nam lại ráo riết gây dựng lực lượng bạo lực loại bỏ nhau để độc chiếm cả lãnh thổ Việt Nam. Những người cộng sản nằm vùng ém lại trong tỉnh uỷ Bến Tre đã gậy dựng lực lượng du kích vũ trang khắp xóm làng cả tỉnh và ngày 17.1.1960 tỉnh uỷ Bến Tre phát lệnh cho du kích ba xã Định Thuỷ, Phước Hiệp, Bình Khánh huyện Mỏ Cày đồng loạt nổ súng chống lại chính quyền nhà nước VNCH.
Tiếng súng du kích Bến Tre chống lại chính quyền VNCH ngày 17.1.1960 đi vào lịch sử đảng cộng sản Việt Nam là tiếng súng đồng khởi theo nghị quyết 15/1959 của trung ương đảng cộng sản Việt Nam, nghị quyết cách mạng bạo lực giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước trong thể chế độc đảng, độc tài cộng sản. Tiếng súng đồng khởi Bến Tre ngày 17.1.1960 đi vào trang sử Việt Nam đau thương là tiếng súng mở đầu cuộc nội chiến Nam Bắc Việt Nam 1960 – 1975!
Để giành chính nghĩa, giành lẽ phải, huy động được sức mạnh của nền văn minh sông Hồng, chính quyền cộng sản VNDCCH miền Bắc, những người phát động cuộc nội chiến tương tàn tự nhận là yêu nước, tự trao cho mình sứ mệnh cứu nước, vu cho chính quyền chính danh VNCH là bán nước, là nguỵ quyền, nguỵ quân và người Việt sống ở lãnh thổ phía Nam cầm súng bảo vệ chính quyền chính danh của mình, bảo vệ cuộc sống bình yên của mình bị bộ máy tuyên truyền của chính quyền miền Bắc chụp cái mũ “tay sai bán nước”!
Từ đồng khởi Bến Tre, nội chiến lan rộng đẩy chính quyền chính danh VNCH cận kề vực thẳm sụp đổ. Mùa hè năm 1965 nước Mỹ và nhiều đồng minh của VNCH phải gấp gáp đổ hơn nửa triệu quân vào lãnh thổ VNCH duy trì sự sống còn của nhà nước chính danh VNCH, bảo vệ thể chế tự do, dân chủ của người dân VNCH.
Quân Mỹ và đồng mình đổ vào VNCH bản chất không phải là đội quân xâm lược như quân Minh, quân Thanh phương Bắc, như quân Pháp thế kỷ 19 mà chỉ là đội quân chữa cháy, đội quân tình thế nhất thời. Chính quyền chính danh VNCH qua cơn chao đảo, nước Mỹ liền có ngay đề án rút quân ra khỏi cuộc nội chiến Việt Nam bằng Chương trình Việt Nam hoá chiến tranh (Vietnamization plan).
Thực hiện Vietnamization plan đến 30.6.1970 lính Mỹ chiến đấu trên bộ đã rút hết khỏi lãnh thổ VNCH. Đến 31.12.1971 cũng không còn lính Mỹ chiến đấu trên sông, trên không, trên biển thuộc lãnh thổ VNCH. Quân Mỹ chi làm cố vấn ở cấp chiến dịch và chi viện tối đa phi pháo trong phần còn lại cuộc nội chiến Việt Nam để bảo vệ sự sống còn của nhà nước chính danh VNCH.
Từ sau 30.6.1970 cuộc chiến tranh Việt Nam lại trở về nguyên dạng từ khởi đầu là cuộc nội chiến. Cuộc chiến giữa những đứa con tội nghiệp của Mẹ Âu Cơ! Người Việt lính miền Bắc và người Việt lính miền Nam lại xả đạn vào đầu, vào ngực nhau.
3. Sau 5 năm đôi co, đến năm 1972 cuộc mặc cả ở Paris giữa hai phía trong cuộc nội chiến Việt Nam cũng phải đi đến thoả thuận ngừng chiến, thoả thuận tách hai khối thuốc nổ của hai lực lượng đối kháng ra hai vùng lãnh thổ riêng biệt. Cuộc đôi co về lí lẽ ở Paris kéo dài từ năm 1968 đến năm 1972 đã chuyển sang đôi co về phân chia lãnh thổ cho hai khối thuốc nổ ở Nam Việt Nam.
Chính quyền kháng chiến ở miền Nam với danh xưng Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam ra đời từ năm 1969 do chính quyền VNDCCH miền Bắc dựng lên đến 1972, vẫn lẩn lút trong những căn hầm chìm sâu trong lòng đất, dưới tán rừng Tây Ninh. Vẫn chỉ là cái bóng, chỉ có trong tuyên truyền không có thực trên lãnh thổ Việt Nam.
Để chính quyền kháng chiến miền Nam có chỗ đứng dưới mặt trời, có tiếng nói mạnh mẽ đòi hỏi lãnh thổ trong cuộc mặc cả ở Paris, Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam cần có chỗ đứng công khai như một thủ đô hành chính. Với những người phát động cuộc nội chiến Nam Bắc thì chỗ đứng lí tưởng của chính phủ kháng chiến miền Nam Việt Nam là thị xã An Lộc tỉnh Bình Long, liền kề căn cứ Tây Ninh. Và An Lộc liền trở thành điểm quyết chiến chiến lược năm 1972.
Đã thành truyền thống, mùa khô cuối năm mới là mùa lên đường chiến dịch của quân đội cách mạng. Nhưng năm 1972, truyền thống đó đã bị phá bỏ. Ngay từ đầu năm 1972 những sư đoàn đầy đủ quân số, đầy đủ trang bị từ miến Bắc rầm rập tràn qua vĩ tuyến 17 đổ vào miền Nam như thác lũ mùa bão giông. Ngay từ mùa hè 1972, mưa đạn, sấm sét pháo xối xả dội xuống An Lộc, bùng nổ ở Kon Tum, trùm xuống khắp tỉnh Quảng Trị.
Ba mươi lăm ngàn quân chính quy miền Bắc khép chặt lưới lửa quanh thị xã An Lộc nhỏ bé, đìu hiu, khuất nẻo giữa rừng già biên giới chỉ vẻn vẹn mười lăm ngàn dân. Tiếng súng rát rạt rộ lên ở Kon Tum, ở Quảng Trị chỉ để thu hút, phân tán lực lượng quân miền Nam, không để quân miền Nam tập trung sức mạnh vào An Lộc.
Phải lôi kéo một lực lượng lớn quân tinh nhuệ miền Nam ra mảnh đất cực Bắc lãnh thổ miền Nam, mặt trận Quảng Trị còn là phương án dự phòng của An Lộc. Dự phòng khi quân miền Bắc không giành được thị xã An Lộc thì có thị xã Quảng Trị thay thế. Vì vậy, lính miền Bắc đã chiếm được thị xã Quảng Trị phải lấy máu giữ bằng được thị xã Quảng Trị. Quân miền Nam cũng không thể để quân miền Bắc mở toang cánh cửa ở cửa ngõ phía Bắc lãnh thổ miền Nam. Và thị xã Quảng Trị nhỏ bé trở thành cối xay thịt khổng lồ nghiền xương thịt lính người Việt ở cả hai phía suốt 81 ngày đêm cuối hè 1972!
Kết quả chiến dịch 1972, dù tốn rất nhiều máu, thí không tiếc mạng lính, quân miền Bắc vẫn thất bại hoàn toàn ở cả ba mặt trận lớn. Không chiếm được thị xã An Lộc. Không giữ được thị xã Kon Tum và thị xã Quảng Trị, Thị xã An Lộc, thị xã Kon Tum, thị xã Quảng Trị trở thành ba mảnh đất đẫm máu người Việt mang hai sắc lính trong chiến dịch 1972 và đẫm máu nhất là mảnh đất thị xã Quảng Trị. Thị xã Quảng Trị cuối hè năm 1972 còn đẫm máu người Việt hơn cả Huế Mậu Thân 1968!
4. Cùng với Huế Mậu Thân 1968, Quảng Trị 81 ngày đêm cuối hè 1972 là nỗi đau muôn đời của giống nòi Việt Nam. Không có gì để tự hào khi hai sắc lính cùng là người Việt xả đạn vào nhau, xả cái chết cho nhau, xả nỗi đau thương cho những người Mẹ Việt Nam.
Không thấy nỗi đau của giống nòi Việt Nam, không thấy nỗi đau của những người Mẹ ở cả hai miền Nam Bắc mất con ở Quảng Trị năm 1972, mất con trong cuộc nội chiến 1960 – 1975, cả tiểu thuyết Mưa Đỏ, cả phim truyện Mưa Đỏ tái hiện nỗi đau Quảng Trị 1972 đều với cảm hứng anh hùng ca. Tráng ca cuộc chiến tranh người Việt giết người Việt. Cao cả, lẫm liệt người lính miền Bắc. Vu tội, thấp hèn hoá người lính miền Nam.
Mưa Đỏ hư cấu chi tiết người lính miền Nam đổ xăng thiêu sống tù binh lính miền Bắc không chỉ thấp hèn hoá người Việt lính miền Nam mà thấp hèn hoá chính dân tộc Việt Nam và khắc sâu hận thù với người Việt mang sắc lính miền Nam, chia rẽ, li tán người Việt miền Bắc với người Việt miền Nam trong lòng dân tộc Việt Nam.Anh hùng ca cuộc nội chiến người Việt bắn giết người Việt do những người cộng sản phát động, những người viết sách và làm phim Mưa Đỏ vẫn chưa thoát khỏi thân phận công cụ của chính trị, của tuyên truyền. Vẫn là những người làm nghệ thuật không phải với tư cách nghệ sĩ mà chỉ là công cụ của tuyên truyền, của quyền lực! Nhà văn công cụ của tuyên truyền dù có xuất bản cả trăm tiểu thuyết với hàng ngàn trang sách vẫn nhỏ bé thảm hại trong hiện tại và hư vô trong thời gian!
Phạm Đình Trọng
(baotiengdan)
Báo Một Thế Giới (Hà Nội) ngày 18.9.2025, phỏng vần BS Trịnh Hòa Bình, cựu chiến binh BV tham dự trận chiến Cổ Thành Quảng Trị mùa Hè 1972. Ông đã khẳng định về những điều không đúng trong Phim Mưa Đỏ. Đặc biệt: “Cành lính VNCH đốt tù binh là không đúng, họ không làm thế đâu. Qua đoạn này người xem có thể nghĩ lính VNCH rất dã man, hung bạo. Thực tế thì họ cũng là người Việt, sống nhân văn “ (trích nguyên văn)