
PHÙNG QUÁN
*Anh Nguyễn Hữu Đang thì tôi được biết mặt từ mấy chục năm trước, nhưng rất ít khi được chuyện trò với anh. Mỗi lần tôi được anh hỏi chuyện, tôi bối rối, sướng mê nguời, đầu không khiến mà chân cứ rụt về tư thế đứng nghiêm, như ngày còn làm trinh sát mỗi lần được Chính uỷ Sư đoàn hỏi chuyện. Tôi nghĩ bụng: Tôi là cái thá gì mà được một người như Nguyễn Hữu Đang hỏi chuyện? Nguyễn Hữu Đang, người tham gia hoạt động cách mạng từ khi tôi chưa đẻ; nhà hoạt động báo chí công khai của Đảng cùng thời với Trường Chinh, Trần Huy Liệu; một trong những người tổ chức và lãnh đạo chủ chốt của Hội Truyền bá Quốc ngữ cùng thời với Phan Thanh, cụ Nguyễn Văn Tố. Một trong những người sáng lập và tổ chức Hội Văn hoá Cứu quốc cùng với Nguyễn Huy Tưởng và Nguyễn Đình Thi. Và cuối cùng là Trưởng ban Tổ chức ngày Đại lễ của Đất nước: 2-9-1945.
Cách đây khoảng mười lăm năm, anh từ cao nguyên Hà Giang trở về, tá túc tại quê nhà. Hàng năm vào dịp giáp Tết, lại thấy anh đáo lên Hà Nội trên chiếc xe đạp thiếu nhi Liên Xô (cũ). Anh mang đến cho mấy bạn cũ mỗi người một cân gạo nếp. Một lần tôi cũng được anh cho một cân. Tôi cảm động và ngạc nhiên hỏi anh: “Anh kiếm đâu ra gạo nếp mà cho chúng em thế?”. Anh cười: “Mình sống ở nông thôn cũng phong lưu ra phết. Không những có gạo nếp biếu bạn, lại còn có cả thóc và rơm cho nông dân vay”. – “Hiện nay anh đang làm gì ở dưới đó?”. “Mình nghiên cứu Lão Trang và dịch lại cuốnLịch sử Đảng Cộng sản Liên xô qua bản tiếng Pháp. Đối chiếu thấy bản dịch đã in sai nhiều quá” [3] .
Hai năm trở lại đây không thấy anh lên Hà Nội nữa. Mấy anh em quen cũ chúng tôi hỏi nhau: “Không biết anh Đang có gặp chuyện gì trắc trở dưới đó không?”
Nỗi lo lắng này thường xuyên ám ảnh tôi. Nhân thể tôi muốn tìm hiểu về công trình Lễ đài Độc lập, năm đó tôi nhất quyết phải về thăm anh, mặc dầu đã gần giáp Tết. Tôi nói khó với vợ: “Em bớt cho anh một phần lương hưu tháng này; lấy tiền tàu xe, ăn đường, về Thái Bình tìm thăm anh Đang…” “Nhưng tết nhất đến nơi rồi, chờ ra giêng anh đi có được không?”. “Anh bỗng nhiên thấy nóng ruột quá… đợi đến ra giêng e chậm mất. Anh Đang đã gần cái tuổi tám mươi, mà lại một thân một mình…”. “Anh có biết địa chỉ của anh Đang không?”. “Anh chỉ biết anh ấy ở Thái Bình, địa chỉ cụ thể thì không biết”. “Cả cái tỉnh Thái Bình rộng mênh mông với hơn hai triệu dân, không có địa chỉ cụ thể làm sao anh tìm được?”. “Trời đất! Một người như anh Nguyễn Hữu Đang thì anh tin rằng về dưới đó hỏi đứa con nít nó cũng biết”. Vợ tôi đành trao cho tôi nửa số tiền lương hưu tháng cuối năm vừa lĩnh, với vẻ mặt nhẫn nhịn của người vợ phải trao cả một nửa sản nghiệp cho chồng tiêu hoang vào một việc không đâu! Tôi vội nhét mấy tờ giấy bạc vào túi, nhảy lên xe đạp, cắm đầu đạp thẳng ra ga vì sợ vợ thay đổi ý kiến.
Bút tích bài thơ Nguyễn Hữu Đang tặng Phùng Quán, Xuân 92.
Vừa đi tàu, vừa ô-tô, xe đạp… sáng 26 Tết, tôi có mặt tại thị xã Thái Bình. Để đỡ bớt thì giờ tìm kiếm, tôi hỏi đường đến Sở văn hoá và Hội văn nghệ tỉnh, hỏi địa chỉ của anh. Tôi thực sự ngạc nhiên khi thấy nhiều anh chị em cán bộ ở hai cơ quan này không biết Nguyễn Hữu Đang là ai. Có vài người biết nhưng lại rất lơ mơ: “Hình như ông ta ở Quỳnh Phụ, Kiến Xương hay Tiền Hải gì đó…”. Ở Hội văn nghệ tỉnh, tôi làm quen với một nhà thơ trẻ. Khi biết rõ ý định của tôi, anh hăng hái nói: “Cháu sẽ đưa chú ra cái quán thịt chó, ở đó thường có mấy anh cán bộ về hưu, (chắc sẽ hỏi ra”. Đến quán thịt chó, tôi đành móc) số tiền còm cõi trong túi, gọi một đĩa thịt chó luộc và hai chén rượu cho phải phép. Đợi chừng nửa tiếng, có một người đứng tuổi để chiếc xe cúp trước cửa, đi vào quán. Nhà thơ trẻ bật dậy nói với tôi: “Ông này ở cơ quan an ninh tỉnh, hỏi chắc biết”. Tôi vội níu tay anh lại, dặn nhỏ: “Cậu đừng giới thiệu mình là ai, sẽ rách việc”. “Biết rồi, biết rồi, chú không phải dặn”. Anh bạn trẻ đi đến gặp anh ta, nói cái gì đó, và chỉ tay về phía tôi. Anh cán bộ an ninh tươi cười bắt tay tôi, ngồi đối diện và niềm nở hỏi: “Xin lỗi cụ, năm nay cụ hưởng thọ bao nhiêu tuổi ạ?”. Tôi đoán chắc anh ta thấy tôi ăn vận nhếch nhác – áo quần bà ba nâu, chân dép lốp – râu tóc bạc trắng, nên hỏi vậy. Tôi liền nói phứa lên: “Cám ơn đồng chí – tôi cười – cũng thất thập cổ lai hi [4] rồi đồng chí ạ”. “Trước cụ công tác ở đâu ạ?”. “Tôi làm thường trực cho một cơ quan thương nghiệp trên Hà Nội… về hưu đã gần chục năm rồi”. “Cụ là thế nào với ông Nguyễn Hữu Đang ạ?”. “Tôi có quen biết gì ông ta đâu. Thậm chí cũng chưa biết mặt. Chẳng là ở tổ hưu của tôi có một cụ nghe đâu hồi bí mật cùng hoạt động với ông ta. Biết tin tôi về thăm đứa cháu họ công tác giáo viên ở Quỳnh Côi, ông cụ gửi tôi mười ngàn bạc để biếu ông ấy, mà giao hẹn phải đưa tận tay. Tôi tưởng ông ấy ở thị xã, hỏi loanh quanh mãi không ai biết…”.Anh cán bộ cười: “Ông ấy đâu có ở thị xã. Hiện ông ấy đang ở thôn Trà Vỵ, xã Vũ Công, huyện Kiến Xương… cách đây gần hai chục cây số. Ngược gió này mà cụ đạp xe về đó cũng vất vả đấy…”. Thấy tôi chăm chú lắng nghe, anh cán bộ trở nên cởi mở: “Nói để cụ biết, trước kia cái ông Đang ấy cũng là người hoạt động cách mạng có tên tuổi… Nhưng rồi ông ta giở chứng, làm báo làm văn chống đối Đảng và Nhà nước, bị xử phạt 15 năm tù ngồi, đưa lên giam trên trại tù Hà Giang. Mãn hạn tù, ông ta xin về cư trú tại quê quán. Tuy vậy (cách đây mấy năm ông Đang này tự tiện đi) sang Nam Định không có giấy đi đường, đến nhà một đối tượng mà công an đang theo dõi. Công an hai tỉnh liền phối hợp, hỏi giấy tờ đi đường của ông ta, rồi bắt giam giữ bốn tháng ở nhà lao hai tỉnh để cảnh cáo, và tổ chức khám nhà. Sau đó thả cho về…”. Tôi tỏ ý sợ hãi gãi đầu gãi tai: “Chà… biết rắc rối thế này thì tôi chẳng gặp ông ấy nữa… đem tiền về trả lại thôi…”. Anh cán bộ xuê xoa: “Không sao đâu cụ ạ, chính sách của ta bây giờ là đổi mới tư duy. Nghe đâu trên cũng đang sửa soạn cho ông ấy được hưởng lương hưu. Nếu cụ muốn về thăm ông ấy, cứ việc về. Tôi sẽ chỉ đường cho cụ”. Anh cán bộ chấm ngón tay vào li rượu, vẽ lên mặt bàn, chỉ vẽ cho tôi rất cặn kẽ con đường từ thị xã về chỗ anh Đang tá túc. Tôi đứng lên rối rít cảm ơn anh…
*Con đường đá mười mấy cây số chi chít ổ gà. Gió cuối đông buốt như kim châm táp thẳng vào mặt. Nhưng vừa đạp xe tôi vừa nghĩ ngợi miên man về sự thăng trầm của những kiếp người tình nguyện dấn thân vì nghĩa lớn, nên con đường cũng như bớt xa… Đến chỗ ngã ba rẽ vào trường phổ thông cấp I, II xã Vũ Công – Nơi anh Đang tá túc – tôi vào cái quán bên đường uống li rượu cho ấm bụng. Ông cụ chủ quán khi biết tôi từ Hà Nội về tìm thăm anh Đang, rót rượu tràn li và nói:“Ông ấy thỉnh thoảng vẫn ngang qua đấy, tôi đều mời vào uống nước. Ông ấy tằn tiện khét tiếng cái xã Vũ Công này. Mới cách đây dăm hôm, ông ấy đèo sau xe cái rỏ tre ràng buộc rất kỹ. Ông ấy kể với tôi tối qua bắt được con rắn gì dữ lắm, phun phè phè bò vào nhà mình. Định làm thịt ăn nhưng tiếc, chở lên chợ bán cho một tay buôn rắn độc, kiếm lấy mấy nghìn mua mấy lạng mỡ lá…”. Tôi bật phì cười: “Ông ấy bây giờ lại thêm cái tài bắt rắn độc, mà mất công đạp xe mini những mười mấy cây số để đổi lấy mấy lạng mỡ lá… Vui thật! Tôi có người bạn làm thơ tên là Tuân Nguyễn, chết lâu rồi, làm câu thơ nghe thật vô nghĩa, nhưng cứ bất chợt hiện ra trong trí nhớ tôi: Cuộc đời vui quá không buồn được!”. Ông chủ quán rót thêm li rượu nữa, giọng hào hiệp: “Li này tôi đãi cụ!… Mà khổ, ông ấy có bán được đâu. Chiều tối ông ấy đạp xe về phàn nàn: nó không chịu mua, nó bảo loại rắn này không nằm trong bộ tam xà!”. Tôi cười ngất.
Anh Đang ở gian đầu hồi cái nhà bếp của khu tập thể giáo viên, trước mặt là ao cá Bác Hồ của xã. Đứng bên kia bờ ao, một cô giáo chỉ cho tôi: “Bác ấy đang ngồi ở bậc cầu ao kia kìa! Đang cọ rửa cái gì mà chăm chú thế không biết...”. Tôi dắt xe đạp qua sân trường, vòng ra sát sau lưng anh. Anh đang dùng nắm rơm cọ rửa những viên gạch vỡ đôi, xếp thành chồng cao cạnh chỗ ngồi. Tôi đứng lặng nhìn anh. Đầu anh đội cái mũ cối méo mó, khoác cái ruột áo bông thủng be bét, quần lao động màu cháo lòng, hai ống chân ôm vòng hai dây cao su đen nom như vòng cùm sắt; chắc hẳn để nhét hai ống quần vào đó chống rét, lưng anh khòng hình chữ C viết nghiêng… Tôi chợt nhớ cách đây rất lâu, tôi được nghe những người cùng thời với anh kể. Hồi Mặt trận Bình dân, Nguyễn Hữu Đang là cán bộ Đảng được cử ra hoạt động công khai, ăn vận sang trọng như công tử loại một của Hà thành, thắt cà vạt đỏ chói, đi khắp Trung Nam Bắc diễn thuyết, oai phong, hùng biện, tuyên truyền cách mạng… Mỗi lần cách mạng cần tiền để hoạt động, Nguyễn Hữu Đang có thể đến bất kì một nhà tư sản Hà Nội nào giàu có, vay vàng, tiền. Mà những người này trao vàng, tiền cho anh đều không đòi hỏi một thứ giấy tờ gì, vì họ tin sâu sắc rằng trao vàng, tiền cho anh là trao tận tay cho cách mạng… Và bây giờ, anh ngồi đó, gần tám chục tuổi, không vợ, không con, không cửa không nhà, lưng khòng chữ C viết nghiêng, tỉ mỉ cọ rửa những viên gạch vỡ – chẳng hiểu để làm gì – như người bõ già trong truyện „Hương cuội“ của Nguyễn Tuân cọ rửa những viên cuội trắng để tẩm kẹo mạch nha vào dịp tất niên… Miên man nghĩ như vậy và tôi bật phì cười… “Anh Đang!”, tôi nghẹn ngào gọi. Anh quay lại, chớp chớp mắt, răng vàng sỉn, cùn mòn gần nửa vì năm tháng… “Phùng Quán! Chú về đây từ lúc nào thế?”. Hai anh em chúng tôi ôm chặt nhau giữa bậc cầu ao. Và cả hai gương mặt già nua phút chốc đẫm lệ…
*
Cái chái bếp căn hộ độc thân của anh rộng chỉ khoảng 5 mét vuông, chật kín những tư trang, đồ đạc. Mấy cây sào ngọn tre gác dọc ngang sát mái, treo vắt cả chục cái khăn mặt rách xơ như giẻ lau bát, áo may-ô thủng nát, quần lao động vá víu. Cạp quần đeo lủng lẳng một chùm lục lạc làm bằng vỏ hộp dầu cao Sao vàng xuyên thủng, buộc dây thép, bên trong có hòn sỏi nhỏ. Đụng vào, chùm lục lạc rung lên leng keng, nghe rất vui tai. Sau đó tôi được anh giải thích tác dụng của chùm lục lạc: Đi lại trong đường làng những đêm tối trời, anh thường bị cánh thanh niên đi xe đạp, xe máy phóng ẩu đâm sầm vào, làm anh ngã trẹo tay, sầy gối. Học tập sáng kiến của đồng bào các dân tộc ở Việt Bắc, treo mõ vào cổ trâu –trâu gõ mõ, chó leo thang – anh Đang chế chùm lục lạc đeo vào cạp quần, báo hiệu có người để họ tránh xe. Tác dụng thứ hai, quan trọng không kém… Mỗi lần đạp xe trên đường vắng, nghe tiếng lục lạc loong coong ngang thắt lưng, tự nhiên cảm thấy đỡ cô độc. Chính giữa gian chái kê cái tủ gỗ tạp nhỏ, hai cánh mọt ruỗng không khép kín được, khoá một chiếc khoá lớn như khoá nhà kho. Trên nóc tủ, xếp một chồng mũ cối, mũ vải, mũ lá mà ở Hà Nội người ta thường quẳng vào các đống rác. Cạnh tủ là một cái giường cá nhân, bốn chân giường được thống cố thêm bốn chồng gạch. Trên giường một đống chăn bông trần rách thủng, và một xấp quần áo cũ làm gối…. Sát chân giường kê chiếc bàn xiêu vẹo chỉ có hai chân, hai chân kia được thay bằng hai sợi dây thép buộc treo vào tường. Anh nói, giọng Lão Trang: “Một cái bàn bốn chân là một con vật. Khi nó chỉ còn hai chân nó là một con người”. Trên mặt bàn xếp kín các chai lọ, vỏ đồ hộp, hai (… mất nửa dòng…) vài con dao làm bằng mẩu (… mất một dòng…) thuyết minh viên giới thiệu hiện vật trong bảo tàng nghệ thuật:“Nó là loại gạch nung rất già, gần đạt tới tiêu chuẩn của sành sứ cổ, sức nặng và độ bền của nó làm cho các loại chuột, mối, dán phải vị nể”. Bây giờ tôi mới hiểu anh cọ rửa những viên gạch vỡ để làm gì. Dưới gầm bàn là mấy chục đôi dép cao su hư nát, đứt quai, được bó thành từng bó, hai cái vại muối dưa rạn nứt, sứt miệng, một đống bản lề cửa, sắt vụn, đinh còng queo, mẩu dây thép han rỉ… Tất cả những đồ lề đó, phủ lên một lớp bụi tro… Lúc tôi bước vào, gian buồng mờ mịt khói. Anh giải thích: “Giờ này các cô giáo nấu ăn. Bếp tập thể ở sát bên kia tường. Tôi đã trộn rơm với bùn trát những khe hở sát mái, nhưng khói vẫn cứ lọt sang – anh cười – Chịu khói một chút nhưng cũng có cái lợi. Thỉnh thoảng lại được ngửi mùi xào nấu lẫn với khói, cái mũi được bồi dưỡng. Trong việc dở nào cũng có việc hay, và ngược lại”. “Để em đạp xe ra chợ mua cái gì về ăn”. “Thôi khỏi cần. Chú về chơi hôm nay là rất gặp may. Sáng nay tôi vừa chế biến được một mẻ thức ăn ngon vô địch. Chú nếm rồi sẽ biết. Cơm cũng có sẵn rồi. Tôi mới nấu lúc sáng, ủ vào lồng ủ rơm, còn nóng nguyên. À, tôi lại có cả rượu cho chú, rượu cam hẳn hoi, quà của Hội Nhà văn gửi biếu vào dịp Tết năm ngoái… Tôi chỉ mới mời mấy thầy giáo mấy chén, còn đủ cho chú say sưa suốt mấy ngày ở chơi”. Anh xăng xái lấy chùm chìa khoá buộc chung với chùm lục lạc, mở khoá tủ tìm chai rượu. Tôi liếc nhìn vào mấy ngăn tủ. Những xấp quần áo cũ nát để lẫn với những chồng báo, giấy má, sách… ố vàng. Ngăn dưới cùng để rất nhiều chai lọ, vỏ đồ hộp, vỏ lon bia, và nhiều chồng các loại bao thuốc lá. Anh lúi húi tìm một lúc khá lâu mới lôi ra được chai rượu cam còn già nửa: “Đây rồi! Bây giờ già hoá ra lẩm cẩm. Để chỗ này lại tìm sang chỗ kia”. Tôi cười, nói: “Nhìn anh, em cứ tưởng là một nhà quí tộc Nga thời Sa Hoàng, tự tay tìm chọn loại rượu quí cất giữ một trăm năm trong hầm rượu, để đãi khách quí”. Tôi chỉ những chồng vỏ bao thuốc lá, hỏi: “Anh chơi sưu tập vỏ bao thuốc lá à? Thế mà em (… mất một dòng…) vì phải dọn nhặt đem đốt”. Anh kêu lên: “Thế có tiếc không! Lần này chú về trên đó nhớ dặn cô, có vỏ bao thuốc là ngoại cứ cất giữ cho anh Đang, càng nhiều càng tốt. Nó là hàng đối lưu của tôi đấy…”. “Hàng đối lưu?”, tôi ngạc nhiên hỏi. “Để tôi dọn cơm cho ăn rồi tôi giảng cho chú nghe thế nào là hàng đối lưu. Tôi xem ra chú mù tịt về môn kinh tế chính trị học”. Tôi ngắm nhìn căn hộ độc thân đầy khói của anh, hỏi: “Hơn mười lăm năm qua anh vẫn sống ở gian buồng này à?”. “Ngày tôi mới về xã, tôi sống ở trại lợn của Hợp tác xã. Chẳng là cán bộ xã cũng thông cảm hoàn cảnh khó khăn của tôi, nên đề nghị tôi ra đó trông coi giúp như nhân viên thường trực của trại. Ở đó một thời gian. Nhà kho cũng thoáng mát, tôi có thể ăn ở, đọc sách, viết lách kết hợp với trông coi trại. Mỗi mùa hợp tác xã trả công điểm mấy chục cân thóc, mấy chục cân rơm làm chất đốt. Số thóc, rơm này tôi không phải dùng đến, trong mấy năm tiết kiệm được hai ba tạ thóc, hai trăm sáu chục cân rơm cho bà con vay. Ngoài ra, vào dịp tết, Hợp tác xã bồi dưỡng thêm ít thóc nếp, đem lên Hà Nội biếu các chú… Khi bắt tay vào việc dịch thuật lại cuốn Lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô, tiếng lợn kêu âm ĩ quá làm tôi mất tập trung tư tưởng, nên phải xin thôi công việc trông coi trại, chuyển về đây để được yên tĩnh hơn”.
Anh lôi dưới gầm giường ra một cái xô tôn thủng đáy, đặt lên miệng xô tấm gỗ dán. “Đây là bàn ăn – anh giới thiệu và vần tiếp ra hai cái vại muối dưa sứt miệng – Còn đây là ghế ngồi. Bà con nông dân mình nghèo mà phí phạm thế đấy. Hai cái vại còn tốt như thế này mà đem quẳng bụi tre… Tôi nhặt về, cọ rửa sạch sẽ, lật đít lên, làm thành cái ghế ngồi vừa vững chãi lại vừa mát. Chú ngồi thử mà xem, có khác gì ngồi trên đôn sứ đời Minh?”. Anh dọn ra hai cái đĩa, rồi chọn trong hai cái bát hương đậy viên gạch vỡ gắp ra năm sáu viên gì đó tròn tròn, đen xỉn, nom rất khả nghi. Anh chỉ vào một đĩa, giới thiệu thực đơn: (“Đĩa này là chả cóc, đĩa này là chả nhái. Nhờ ăn) thường xuyên hai thứ đặc sản này mà tôi rất khoẻ, còn khoẻ hơn cả chú”. Anh nhắc trong cái rổ phủ đầy rơm để ở góc nhà, xoong cơm đã ăn mất một góc mà anh giới thiệu vẫn nóng nguyên. Nói đúng hơn là một thứ cháo rất đặc, có thể xắn thành từng miếng như bánh đúc. “Ba năm trở lại đây, tôi phải ăn cơm nhão, nếu ăn cơm khô thì bị nghẹn. Tôi nấu cơm với nước vo gạo nên rất bổ. Chẳng là các cô giáo thường bỏ phí nước vo gạo. Tôi đưa cho các cô cái chậu, dặn đổ nước vo gạo vào đấy cho tôi, để tôi chắt ra nấu lẫn với cơm. Tinh tuý của gạo nằm trong nước vo, bỏ đi thật phí phạm”. “Nhưng cóc nhái đâu ra mà anh bồi dưỡng được thường xuyên thế?”, tôi hỏi. “Ấy chỗ này mới là bí quyết. Phải huy động lực lượng quần chúng, tức là các cháu thiếu nhi. Biết các cháu ở đây thích chơi vỏ bao thuốc lá, nhất là các loại vỏ bao đẹp. Mỗi lần lên thị xã hoặc sang Nam Định chơi, tôi đều nhặt nhạnh về, đổi cho các cháu lấy cóc, nhái. Cũng đề ra tiêu chuẩn hẳn hoi. Một vỏ bao ba số [5] đổi 3 con cóc hoặc 5 con nhái. Các loại khác 2 cóc, 3 nhái. Bởi vậy tôi mới nói là hàng đối lưu, chú hiểu chưa. Mỗi tháng tôi chỉ cần ba bốn chục cái vỏ bao là thừa chất đạm, mà là loại đạm cao cấp… Hôm nào chú về tôi gửi biếu cô, chú Cung [6] , mỗi nhà mấy viên nếm thử. Cô chú ăn thịt cóc của tôi rồi sẽ thấy các thứ thịt khác đều nhạt hoét!”.
Anh rót rượu, chọn gắp viên chả cóc, nhái bỏ vào bát cho tôi, ân cần, âu yếm, trang trọng, làm tôi ứa nước mắt. Anh hỏi:“Chú đi đâu mà lại lặn lội về tận đây, vào lúc tết nhất sắp đến nơi?”. “Em về đây chỉ một mục đích là thăm anh. Hơn hai năm nay không thấy anh lên Hà Nội, chúng em rất lo. Không biết anh ốm đau gì, liệu anh có còn sống không? Về đây thấy anh vẫn khoẻ mạnh, em rất mừng… Anh là nhân chứng của một quá khứ hào hùng của đất nước. Nếu anh chết đi, tàn lụi như cỏ cây, không nhắn gửi gì lại cho các thế hệ sinh sau, theo em là một tổn thất không gì bù đắp được…”. Tôi lấy đưa anh xem số tài liệu liên quan đến ngày Đại lễ mồng 2 tháng 9 năm 1945, vừa sao chụp: (“ Em suy luận ra anh là Trưởng)ban Tổ chức Ngày Độc lập như trong tư liệu hiện còn giữ được. Em muốn được tận tai nghe anh kể lại những kỉ niệm, những hồi ức mà anh cho là sâu sắc nhất… mà nếu anh không dùng đến thì cho em xin”.
Anh im lặng rất lâu, dùng đũa tém lại những mảnh vụn thịt cóc, nhái trong đĩa, gắp bỏ vào bát mình những mảnh khác rớt xuống mâm ván. Anh chăm chú nhìn vào cái đĩa đã tém gọn, như đang gắng đọc những hồi ức in lại trong lớp men sành… Anh chợt nói, mắt vẫn không rời cái đĩa:
“Thấm thoắt thế mà đã bốn mươi bảy năm trôi qua… Tôi còn nhớ như in ngày hôm đó là ngày 28 tháng 8… Tại sao tôi nhớ, vì đó là thời khắc lịch sử phải được tính từng phút một… Năm đó tôi bước vào tuổi băm ba. Chính phủ cách mạng lâm thời họp tại Bắc Bộ phủ, để quyết định ngày lễ ra mắt quốc dân đồng bào… Hôm đó, tôi có việc cần phải giải quyết gấp, nên đến nơi thì phiên họp vừa giải tán. Vừa bước lên mấy bậc thềm thì thấy cụ Nguyễn Văn Tố từ trong phòng họp đi ra. Cụ mừng rỡ chụp lấy tay tôi, nói: “Anh vào ngay đi, cụ Hồ đang đợi anh trong đó”. Tôi theo cụ Tố vào phòng họp. Đó là lần đầu tiên tôi được gặp mặt ông Cụ. Ông Cụ ngồi ở ghế tựa, mặc bộ quần áo chàm, tay chống lên ba toong. Cụ Tố kéo tôi lại trước mặt Cụ, giới thiệu: “Thưa Cụ, đây là ông Nguyễn Hữu Đang, người mà phiên họp quyết định cử làm Trưởng ban Tổ chức ngày lễ”. Cụ Hồ nhìn tôi một lúc với cặp mắt rất sáng, cặp mắt mà về sau này nhân dân cả nước đồn rằng có bốn con ngươi – như muốn cân nhắc, đánh giá người mà Cụ quyết định giao trọng trách. Cụ hỏi tôi với giọng Nghệ pha, rất giống giọng cụ Phan Bội Châu mà có lần tôi đã được nghe: “Chính phủ lâm thời quyết định làm lễ ra mắt quốc dân đồng bào vào ngày mồng hai tháng chín. Chú có đảm đương được việc tổ chức buổi lễ không?”. Tôi tính rất nhanh trong đầu: tháng 8 có 31 ngày, như vậy là chỉ còn 4 ngày nữa thôi… Tôi suy nghĩ cân nhắc trong từng phút. Hình dung ra tất cả những khó khăn như núi mà tôi phải vượt qua… để tổ chức được một ngày đại lễ như vậy, trong khi mình chỉ có hai bàn tay trắng. Tôi nói với Cụ Hồ: “Thưa Cụ, việc cụ giao là (quá khó vì gấp quá rồi”. Cụ Hồ nói ngay: “Có khó thì mới giao cho chú chứ!”). Anh Đang ngẩng phắt lên nhìn tôi. Vẻ già nua cùng quẫn trên con người anh như được trút bỏ hết. Dáng dấp oai phong, khí phách của người chiến sĩ cách mạng luôn luôn đứng ở hàng xung kích lại hiện nguyên hình.
“Như chú biết đấy – giọng anh vụt trở nên sang sảng – tôi là một nhà tuyên truyền, động viên thiên hạ, chuyên nghiệp. Thế mà lần này tôi lại bị ông cụ động viên một cách tài tình, bằng một lời thật ngắn gọn, giản dị! Nghe ông Cụ nói vậy lúc đó tôi thấy trong con người mình bừng bừng khí thế, muốn lập nên được những kì tích, những chiến công thật vang dội… Tôi nói với ông Cụ: “Thưa Cụ, Cụ đã nói như vậy con xin nhận nhiệm vụ. Con xin hứa sẽ cố gắng hết sức để hoàn thành trọng trách”. Cụ Hồ đứng lên, bắt tay tôi, dáng bộ, gương mặt nom rất vui vẻ, bằng lòng: “Thế thì chú trở về bắt tay ngay vào việc đi. Đến sáng ngày kia, chú đến đây báo cáo với tôi công việc được tiến hành như thế nào”. Tôi chào Cụ, ra về, lòng rạo rực lâng lâng… Nhưng khi vừa bước xuống hết những bậc thềm rộng thênh thang của Bắc Bộ phủ, tôi chợt nghĩ ra một điều. Tôi liền quay trở lại phòng họp. Cụ Hồ vẫn còn đứng đó. Cụ hỏi ngay: “Chú còn cần gì nữa?”. “Thưa Cụ, để hoàn thành trọng trách, xin Cụ trao cho con một quyền…”. “Quyền gì, chú cứ nói đi!”. “Thưa Cụ, quyền được huy động tất cả những gì cần thiết cho buổi lễ, về người cũng như về của…”. “Được, tôi trao cho chú cái quyền đó. Nếu ai hỏi huy động theo lệnh của ai, cho phép chú được trả lời: Theo lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh!”.
Công việc đầu tiên là tôi thảo một thông cáo ngắn gọn – anh gắp thêm mấy viên chả cóc trong bát hương, bỏ ra đĩa rồi kể tiếp – Nội dung như sau: ngày 2 tháng 9 năm 1945. Chính phủ cách mạng lâm thời sẽ làm lễ ra mắt quốc dân đồng bào, tuyên ngôn Độc lập tại vườn hoa Ba Đình. Đồng bào nào có nhiệt tâm, muốn đóng góp sức, góp của vào việc tổ chức ngày lễ lịch sử trọng đại này, xin mời đến Hội quán Trí Tri phố Hàng Quạt gặp Ban tổ chức. Thông cáo được gửi ngay đến tất cả các báo hàng ngày, yêu cầu đăng lên trang nhất, với hàng tít thật lớn chạy hết trang báo (… mất một dòng …)ngoài chật kín Hội quán. Người ghi tên vào các công tác, người góp tiền, góp vàng, góp vải vóc, gỗ ván. Nhiều người từ chối không lấy giấy biên nhận: “Biết bao anh hùng, liệt nữ đóng góp cho nền độc lập của dân tộc, đâu có lấy giấy biên nhận“, họ nói vậy. Tôi mời mọi người dự cuộc họp chớp nhoáng, và đưa ra ý kiến: Việc cần thiết trước tiên là phải dựng một lễ đài Độc lập thật đẹp, thật lớn, thật uy nghi, xứng đáng với ngày lịch sử trọng đại này, tại trung tâm vườn hoa Ba Đình để Chính phủ cách mạng lâm thời đứng lên ra mắt. Vậy đồng bào nào hiện có mặt tại đây có thể đảm nhiệm trọng trách đó? Một người trạc ngoài ba mươi, ăn mặc lối nghệ sĩ, đeo kính trắng, bước ra nói: “Tôi là hoạ sĩ Lê Văn Đệ. Tôi xin tình nguyện nhận việc dựng lễ đài. Trưa nay tôi sẽ mang bản phác thảo lễ đài đến ban tổ chức xem xét”. Tôi bắt tay hoạ sĩ, nói: “Tôi được biết tên tuổi anh từ lâu và cũng nhiều lần được xem tranh của anh. Tôi xin thay mặt Ban tổ chức hoan nghênh nhiệt tâm đóng góp của anh. Nhưng Lễ đài Độc lập là một công trình kiến trúc, tuy dựng gấp rút, tạm thời, nhưng phải đạt những tiêu chuẩn không thể thiếu của nó như sự vững chắc, sự hài hoà công trình với tổng thể… Nói ví dụ nếu như không vững chắc, mấy chục con người đứng lên, nó đổ sụp xuống thì ngày lễ coi như thất bại. Bởi vậy cần một kiến trúc sư phối hợp với anh”. Một người trẻ tuổi ăn vận chỉnh tề, từ trong đám đông bước ra, tự giới thiệu: “Tôi là kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh [7] , cùng hoạt động trong Hội Văn hoá Cứu quốc với anh Phạm Văn Khoa. Hôm qua tôi được anh Khoa cho biết ý đồ của Ban tổ chức, tôi đã vẽ xong bản đề án thiết kế lễ đài”. Anh Quỳnh trải cuộn giấy can cầm sẵn trên tay lên mặt bàn. Đó chính là toàn cảnh lễ đài Độc Lập mà sau này chú được nhìn thấy in hình trên báo chí. Bản vẽ thật đẹp, thật chi tiết, tỉ mỉ… Lễ đài với tổng thể vườn hoa Ba Đình, vị trí dựng lễ đài, chiều cao, chiều rộng, mặt bằng, mặt cắt ngang, cắt dọc lễ đài, độ lớn các xà gỗ, tổng diện tích mặt ván ốp lát v.v… Sau khi nghe anh Quỳnh thuyết trình, tôi xem xét, cân nhắc rồi đặt bút kí duyệt bản thiết kế, đóng dấu Ban tổ chức. Tôi nói với anh Lê Văn Đệ và anh Ngô Huy Quỳnh: “Ban tổ chức quyết định giao việc này cho hai anh (Các anh cần gì, chúng tôi) sẽ lo chạy đầy đủ, Hiện nay chúng tôi có một kho ba ngàn thước len đỏ [8] , cần dùng bao nhiêu các anh cứ lấy dùng. Lễ đài phải được dựng xong trong vòng 48 giờ đồng hồ. Đúng 5 giờ sáng ngày mồng 2 tháng 9, tôi sẽ đến nghiệm thu. Chúc các anh hoàn thành nhiệm vụ”.
.
Sáng ngày 31 tháng 8, tôi đến Bắc Bộ phủ gặp Cụ Hồ như Cụ đã chỉ thị. Sau khi nghe tôi báo cáo ngắn gọn, đầy đủ về tất cả mọi việc có liên quan tới ngày lễ, Cụ nói giọng hết sức nghiêm trang: “Chú phải nhớ ngày Mồng hai tháng Chín tới sẽ là một ngày lịch sử. Đó là ngày khép lại cuộc Cách mạng tháng Tám, và ngày khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà”.
*“Ông Đang ơi! Ông Đang ơi!”, tiếng con nít gọi nheo nhéo ngoài cửa, ngắt ngang câu chuyện của anh. Tôi nhìn ra, thấy hai chú bé chạc 9, 10 tuổi, mỗi chú cầm một cành tre, đầu cành tre thõng thượt một con rắn nước, mình nhỏ bằng chuôi dao, đầu bị đập dập còn rỉ máu tươi: “Ông có đổi rắn nước không ạ?”. Anh Đang bỏ đũa bước ra cửa, xem xét cẩn thận hai con rắn nước, rồi hỏi: “Các cháu định đổi như thế nào?”. “Ông cho cháu mỗi con hai cái vỏ bao ba số”. “Các chú đừng có giở thói bắt chẹt”, giọng nói vá dáng bộ của anh đã chuyển sang giọng của dịch vụ đổi chác, “Mỗi con rắn này chỉ giá trị bằng hai con cóc. Nhưng thôi, thì ông cũng đành chịu thiệt vậy, mỗi con một vỏ bao ba số, các chú có đổi thì đổi, không đổi thì thôi”. Hai chú bé ngần ngừ một lúc, rồi nói: “Chúng cháu đổi ạ”. Anh quay vào mở khoá tủ, chọn lấy ra hai cái vỏ bao ba số, đưa cho mỗi chú một chiếc, và cầm lấy hai con rắn. Hai chú bé cũng xem xét hai cái vỏ bao cẩn thận không kém ông Đang xem xét hai con rắn. Một chú nói: “Ông đổi cho cháu cái vỏ bao khác, cái này bên trong không có tờ giấy vàng”. Anh cầm lấy cái vỏ bao xem lại, cười: “Được, ông sẽ đổi cho vỏ bao khác. Sau này chú mà làm cán bộ thu mua thì Nhà nước sẽ không phải chịu thua thiệt”.
Anh cầm hai con rắn bỏ vào cái rổ con ở góc nhà, mặt tươi hẳn lên, như người buôn bán vừa vớ được món hời: “Thịt rắn còn bổ hơn thịt nhái. Tối mai tôi sẽ đãi chú món rắn om riềng mẻ. Ăn vào (… mất một dòng..) Tân Đệ.
*Tôi ở lại chơi với anh Đang ba ngày, thuê một anh phó nháy ở xã trên xuống chụp mấy pô ảnh làm kỉ niệm. Bữa cơm tiễn tôi, anh có vẻ buồn. Vừa dùng đũa tém tém mấy khúc rắn om mặn chát nổi muối trong đĩa, anh vừa nói: “Hiện nay tôi đang cố gắng hoàn thành thiên hồi ký thuật lại tất cả những gì có liên quan đến thế sự, kể từ khi tôi bước chân vào con đường hoạt động cách mạng cho đến những năm tháng gần đây… Trong hồi ký, tôi sẽ đề cập đến những việc mà từ trước đến nay tôi chưa hề tiết lộ với ai. Ví dụ như bản thảo “Tuyên ngôn Độc lập” Cụ Hồ viết… còn hay mất, nếu còn thì bây giờ đang ở đâu… Hoặc cụ định sửa hai câu trong bản “Tuyên ngôn”, nhưng không kịp vì bản chính đã đưa in mất rồi. Là Trưởng ban Tổ chức ngày lễ, tôi phải phụ trách việc in ấn những tài liệu có liên quan đến vận mệnh đất nước này, nhưng … như chú biết đấy, hiện nay trong Bảo tàng Hồ Chí Minh cũng như Bảo tàng Lịch sử, không có bản thảo “Tuyên ngôn Độc lập” … Tôi sợ sẽ làm không kịp mất, gần tám chục tuổi đầu rồi còn gì, mà lại không có điều kiện làm việc, ban đem coi như chịu chết, đèn đóm tù mù, đúng là đóm thật”… Anh im lặng một lúc lâu, rồi ngẩng lên nhìn tôi, hỏi tiếp: “Chú có biết điều lo lắng nhất của tôi hiện nay là gì không?”, không đợi tôi đoán, anh nói luôn: “Tôi lo nhất là không biết chết ở đâu. Lúc sống thì tôi ở nhờ nhà ai chẳng được, ở đây cũng như ở trên Hà Nội… Nhưng lúc chết thì người thân mấy cũng làm phiền người ta. Có ai muốn một người không phải ruột ra máu mủ lại nằm chết trong nhà mình? Ngay cả cái chái bếp này cũng vậy, tôi nằm chết sẽ làm phiền đến nhà trường, các thày các cô, các cháu học sinh… Bởi vậy mà hai năm nay tôi không muốn lên Hà Nội. Ở đây, tại quê hương bản quán, tôi đã chọn sẵn chỗ để nằm chết… Chú ra đây tôi chỉ cho, đứng ở đây cũng nhìn thấy…”.
Tôi theo anh ra đứng trên cái trụ xi măng cầu ao cá. Gió mùa đông bắc lạnh thấu xương thổi thốc vào mặt hai anh em. Anh chỉ tay về phía một búi tre gần cuối xóm, đơn độc giữa cánh đồng, ngọn tre đang vật vã trong gió buốt. “Đấy, dưới chân búi tre ấy có một chỗ trũng nhưng bằng phẳng, phủ đầy lá tre rụng, rất vừa người tôi… Tôi sẽ nằm đó chết để khỏi phải phiền ai… Tôi đã chọn con đường ngắn nhất để có thể bò kịp đến đó, trước khi nhắm mắt xuôi tay…”
Trở vào nhà, cả người tôi nổi gai, ớn lạnh, chắc là bị cảm… Tôi dốc hết rượu ra bát uống ực một hơi chống lạnh. Rượu vào lời ra, tôi cất giọng ngâm to mấy câu thơ của Phùng Cung gửi tôi mang về tặng anh:
Mặt ra giông chớp
Rạc mái phong lưu
Gót nhọc men về thung cũ
Quỳ dưới chân quê
Trăm sự cúi đầu
Xin quê rộng lương
Chút thổ phần bò xéo cuối thôn!
PHÙNG QUÁN
(Tháng 12.1992)
[1]Chú thích của Diễn Đàn: Bản in này căn cứ vào bản sao ảnh bản thảo 19 trang viết tay của Phùng Quán, Một vài trang chụp thiếu một hai dòng chót. Chúng tôi phải ghi (…mất một dòng.. ), hoặc khôi phục đoạn câu bị mất đi, nhưng vẫn để trong ngoặc. Xin bạn đọc và tác giả lượng thứ. [2]Chú thích của tác giả: Thơ Tố Hữu[3]Chú thích của Diễn Đàn: Đây là cuốn viết lại lịch sử do Stalin chủ biên. Bản dịch ở đây ắt là bản dịch do Nhà xuất bản Sự thật Hà Nội ấn hành, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dịch cuốn này ở hang Pắc bó. Không rõ hai bản dịch này có phải là một hay không.[4]Chú thích của Diễn Đàn: Bảy mươi tuổi xưa nay hiếm, thơ Đỗ Phủ, Cụ Hồ đã trích dẫn câu này trong Di chúc 1969. [5]Chú thích của Diễn Đàn: Thuốc lá nhãn hiệu 555[6]Chú thích của Diễn Đàn: Phùng Cung, nhà văn. [7]Ghi chú của tác giả: Kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh sau này có thời làm thứ trưởng Bộ xây dựng. Hoạ sĩ Lê Văn Đệ (theo tạp chí Bách Khoa Sài Gòn 1963) sang La Mã, được phong hoạ sư, được chính Giáo hoàng Pie XI giao cho trang hoàng điện Vatican.[8]Chú thích của Diễn đàn: Số len này lấy được ngày 19.8.1945, khi tấn công chiếm Trại lính khố đỏ ở phố Hàng Bài.
(Nguồn: Diễn Đàn số 25, Paris, 12.1993)
Bài đọc thêm:
Nguyễn Hữu Đang – Bi thương và cay đắng
MỐI TÌNH BI THƯƠNG
Chiều đông ảm đạm, xám xịt màu tro bụi: “Đông, xuân nào có khác gì/ Bầu trời chỉ thấy đen sì những mây/ Đường quê mọi nẻo mọi lầy/ Lần vào đến tận ngách này… còn trơn”. Những câu thơ đầy tâm trạng bất giác làm già Đang ngậm ngùi. Nhưng, lạ thật, chiều nay lòng già còn có thêm cái gì chộn rộn, phấp phỏng … Như một linh cảm. Ngoài cửa tam quan, một bà già khoác áo bông to sụ, ôm khư khư cái tay nải rách, đứng chôn chân ngó vào. Bà đứng dưới mưa bụi, như tự đày đọa mình, không cất tiếng gọi, cũng không hề có một động thái nhỏ nào, chứng tỏ mình chỉ là người đi qua muốn dừng chân ngắm ngọn tháp cổ. Bà nhìn trân trân vào người Nguyễn Hữu Đang. Bà chờ đợi cái giây phút này bao năm rồi nhỉ? Hai người nhìn nhau trong mưa, ở cái tuổi ngoài bảy mươi vẫn cứ hồi hộp xao xuyến, thoáng một chút gì lo sợ và tự hỏi: Liệu có ai nhìn thấy không? Già Đang chống gậy đứng dậy, dò dẫm bước đi trong tiếng kêu xủng xoẻng của cái “lục lạc” kết bằng các mảnh sắt vụn đeo quanh người. Ông già dừng lại, cất tiếng ôn tồn hỏi: “Bà tìm ai?”. Bà lặng thinh không nói, trong bà đang tìm lại bóng dáng chàng trai cách đây gần năm mươi năm bà đã gọi là “chồng”. Khó khăn lắm bà mới cất lời:
– Ông không nhận ra tôi nữa hay sao? Già lắm rồi phải không?
– Quả tình, tôi không nhớ được nữa!
Bà chép miệng:
– Buồn thật, thế mà tôi vẫn nhớ như in, ngày tôi về làm dâu nhà cụ Tổng Huyên, làm vợ anh Đang cơ đấy!
Ông già đứng chết lặng dưới mưa bụi, lúc sau lập cập như muốn sụp xuống cảm ơn bà đã tìm đến với mình trong lúc hoạn nạn. Gió càng về tối càng lạnh, đường quê chiều đông không một bóng người qua lại, cảnh chùa chiền càng thêm u tịch. Già Đang rùng mình đón những cơn gió lạnh vô tình. Bà nhìn ông, cái nhìn chất chứa sự chờ đợi bao nhiêu năm.
Bà khẽ cất tiếng:
– Chả nhẽ ông không mời tôi vào nhà ư?
– Tôi làm gì có nhà mà mời bà? Chỉ ở nhờ góc nhà Tổ, cái nhà quay ngang kia kìa – Tay già Đang run run chỉ vào ngôi nhà rêu phong với những cánh cửa gỗ ảm đạm.
– Thì ông cứ cho tôi vào một lúc để nói với nhau câu chuyện… Mấy chục năm nay…
– Thế bà không sợ liên lụy ư? Tôi lo cho bà sau khi ở cổng chùa nơi cửa Phật từ bi vừa bước ra tức khắc bị người ta truy chụp tội “liên quan với một tên chống Đảng”.
– Tôi không biết liên quan liên dân gì hết. Chống ai, hay không chống ai tôi không cần biết. Tôi là vợ ông, có cưới xin hẳn hoi, tuy chưa được ở với nhau một đêm, chưa một lần cầm tay nhau. Vì ông mà tôi mang tiếng đã qua một đời chồng, để sau này phải đi lấy lẽ ông Phó Phu làng Nguyệt Giám bên Kiến Xương. Sao ngày ấy ông đanh thép cứng cỏi thế, giờ nhu nhược thế? Ông “sợ” à, mà “sợ ai cơ chứ”?


Bức ảnh chân dung của mình và “người đẹp” Huyền Nhiên được Nguyễn Hữu Đang ghép lại thành hai mặt đóng trong khung để trên bàn làm việc của ông những năm tháng cuối đời
Hai người già nua cũ kỹ líu ríu bước theo nhau vào gian nhà Tổ. Bà Nhuận tìm một chỗ thật thuận tiện ngồi xuống để quan sát nơi già Đang ở. Bà nhoài người kéo cái chăn chiên rách gấp lại để ngay ngắn trên đầu giường chép miệng:
– Ông ăn ở luộm thuộm quá.
– Cuộc sống của tôi nó là thế! – Già chỉ từng thứ trong gian nhà chật hẹp như để thanh minh cho cái sự luộm thuộm không đáng có của mình – Đây là hũ gạo, lọ mắm, đây là chai nước cáy. Mấy cái rổ rách hôm qua mới ngồi buộc lại, nếu không hôm nay bà nhìn thấy nó bung vành tuột cạp lại chê tôi đoảng.
Bà già nhìn quanh, thấy đống sách vở xếp ngay ngắn trên kệ tường liền hỏi:
– Ông còn đọc sách à?
– Nó là cái nghiệp của đời mình. Cũng chỉ vì đống sách kia mà tôi phải ra tù vào tội.
Cạnh chỗ bà ngồi là mấy vỏ bao thuốc lá, mấy mảnh giấy xi măng, miếng nhỏ bằng hai ngón tay, miếng to bằng bàn tay, bà cúi xuống định vo viên đem đốt. Già Đang vội kêu lên:
– Chớ! Giấy để tôi viết đấy.
– Tù tội thế này rồi, ông còn viết lách cái gì nữa?
– Thì nghĩ được điều gì, viết ra điều đó, cái nó chợt đến rồi chợt đi ngay, nên tôi phải ghi lại. Tôi ghi toàn những điều bàn đến đạo đức của con người, lẽ sống của con người, có lợi cho con cháu.
Bà Nhuận như không muốn nghe chuyện ấy, bà giở tay nải buộc chéo khoe bộ quần áo cưới mà chưa một lần xỏ tay. Bà cười bảo:
– Đây là bộ quần áo thầy mẹ anh may cho em. Hôm cưới chờ anh về để mặc. Anh cũng tệ lắm, đã không ngó ngàng gì lại từ hôn người ta.
Bà Nhuận nói xong những câu như rứt ruột ra rồi ngó trân trân già Đang. Cả hai người đầu óc quay cuồng ôn lại chuyện cũ, như thước phim quay chậm để hai người già quay lại hình ảnh những ngày tháng 1938:
Cụ Tổng Huyên ốm nặng rồi mất. Hồi ấy già Đang dạy học ở Hà Đông, hay ở Thanh Hóa thì phải, ở nhà các cụ đã cưới chạy tang bà Nhuận trước đó mấy ngày. Khi già Đang về nhà lo xong lễ tang cho bố, khẽ nói với bà Nhuận:
– Giờ tôi nay đây mai đó, không biết sống chết thế nào? Biết bao giờ mới được về quê sum họp. Nhiệm vụ của người thanh niên khi việc nước còn đè nặng lên đôi vai thì chưa thể nghĩ đến điều riêng tư được. Vì thế, nếu cô ở đây sẽ lỡ làng cả cuộc đời người con gái. Hãy thông cảm với hoàn cảnh khó khăn này.
Cô Nhuận đêm ấy chỉ ngồi khóc, nước mắt đẫm hết chiếc khăn. Con gái một gia đình gia giáo, tử tế có tiếng trong vùng, chỉ biết lặng lẽ cúi đầu nghe theo chàng trai có chí lớn. Hôm sau ôm khăn gói theo chồng về bên Nguyệt Lâm để thưa lại chuyện với hai cụ.
Người con gái có dáng đầm, da trắng ở vậy mấy năm, sau đi làm lẽ ông Phó Phu. Buồn thế! Bà Nhuận sinh hạ được mấy người con, có anh giờ làm ở huyện Công an Kiến Xương, Thái Bình.
Mấy chú ngóe lọc sọc trong cái giỏ đeo gần đấy, bà Nhuận thấy động hỏi:
– Con gì trong ấy?
– Mấy con ngóe bắt được lúc chiều chưa kịp băm chả.
Bà trợn mắt hỏi:
– Ông ăn ngóe à?
– Cả cóc, cả rắn nữa bà ạ. Vớ được bữa chả rắn ăn vào nhẹ mình mẩy lắm – Nói rồi, trông ra trời chiều tối âm u, già Đang liền bảo – Thôi bà về đi, kẻo tối.
– Ông đuổi tôi à?
– Tôi đâu có dám, bà về muộn sợ con cháu nó lo.
– Chúng nó có việc chúng nó, mình có việc của mình. Hôm nay tôi ở lại đây giặt giũ cho ông, khâu vá lại đám quần áo rách cho ông. Nghe người ta nói ông ốm, tiếng ông còn nặng lắm chưa khỏe đâu.
Già Đang cười rớt cả nước mắt:
– Nghĩa là bà ngồi tù cùng tôi hay sao? Việc tù đày ai nào có thích gì?
– Thôi thì cái phận của tôi nó là thế, nhưng dù ông có ngồi tù thì tôi đến giúp đỡ không được hay sao?
– Bà không sợ người ta theo dõi à!
– Tôi chả sợ ai, chỉ sợ ông không chấp nhận sự giúp đỡ của tôi. Hay tôi không xứng với ông? Ông đã có người khác ở trong lòng?
– Đúng vậy bà ạ! Ngày tôi ở Hà Nội, tôi có quen biết một cô gái tên là Huyền Nhiên, cô sinh ra trong một gia đình trung lưu, mới có mười chín tuổi, khi đó cô ta chưa học hết bậc thành chung, con người ấy cũng nết na thùy mỵ đoan trang như bà. Cô chỉ có một người bạn gái cùng trang lứa, đôi bạn ấy sống với nhau rất chân thực, tuy là gái Hà Nội nhưng không đua đòi – Ông tâm sự với bà Nhuận – Nhớ lại ngày đầu làm quen cô ấy, tôi có đọc cuốn văn học Pháp E. Renan đã lấy bút ghi lại một câu vào trang sổ tay của mình “Sắc đẹp của phụ nữ là ân huệ của thượng đế ban cho loài người. Chúng ta có nghĩa vụ kính trọng người phụ nữ đẹp”. Tôi quý Huyền Nhiên theo lẽ đó cho nên tới nửa năm quen nhau mà vẫn không dám chạm tay vào người Huyền Nhiên, dù chỉ cầm tay thôi tôi cũng cho đó là sự xúc phạm, còn nói gì đến… Tôi đã mang đến không ít tặng phẩm đều bị nàng từ chối. Tại sao? Cuối cùng tôi đem cho nàng cái vòng “sơ men” bằng bạc, coi đấy là vật giao ước kết hôn. Nàng nín thở ngồi xem, mắt hơi nhắm lại, rưng rưng lệ, rồi nàng lại bỏ vòng vào hộp, đóng nắp lại đưa trả cho tôi. Tôi hỏi nàng dồn dập, vì sao? Và không phải không có câu khiên cưỡng. Nàng xua tay sợ hãi nói:
– Đừng anh! Đừng nghi ngờ như vậy! – Rồi Huyền Nhiên nghiêm chỉnh ngồi im, một lúc sau nàng nhỏ nhẹ – Thế này anh Đang ạ. Em chỉ ước ao được gặp Cụ Hồ, được đứng gần Cụ, mà anh thì đến chỗ Cụ luôn. Anh cho em theo đến chỗ Cụ một lần. Chỉ một lần thôi cũng được.
– Thật là khó khăn, tại sao em cầu kỳ vậy?- Tôi hỏi.
– Cầu kỳ ư? – Mắt nàng hơi nhướn lên nhìn tôi – Có lẽ nhân dân cả nước này cầu kỳ. Em cứ cầu kỳ đấy! Bạn em chúng nó bảo thế nào anh chả tìm cách đưa vào gặp Cụ Hồ được. Ví như đưa quà biếu. Em nhớ có lần người gửi cam biếu Cụ. Cụ chẳng những vui lòng nhận mà còn viết thư cám ơn nữa.
-Thế rồi sự “cầu kỳ” ấy cũng được đáp ứng bà ạ! – Già Đang nhớn mắt nhìn bà Nhuận tìm lấy sự đồng cảm của bà trong việc ứng xử của già với Huyền Nhiên.
Đó là một buổi sáng Cụ Hồ tiếp đoàn đại biểu “Mùa đông binh sĩ” do ông Ngô Tiến Cảnh, nhà tư sản ở Bắc Giang này đã quen trong phong trào chống nạn thất học, đề xuất biếu Cụ tấm áo trấn thủ mới may được, gọi là “áo trấn thủ đầu tiên mùa đông binh sĩ” trong một vạn chiếc. Huyền Nhiên được tôi bố trí đi cùng đoàn đại biểu. Thật là cơ hội hiếm có mở đường cho cô ấy đến gặp Cụ Hồ. Tới giờ hẹn, tôi đã dùng xe hơi đưa Huyền Nhiên về trụ sở “Mùa đông binh sĩ” rồi vào Bắc Bộ Phủ. Cụ Hồ tiếp ở phòng khách lớn. Khi ông Cảnh nói đến câu: “Xin kính biếu Chủ tịch tấm áo trấn thủ đầu tiên may được”, Huyền Nhiên bước nhanh đến bên Cụ Hồ, nâng khay ngang mặt, dáng điệu uyển chuyển cung kính. Cụ cầm áo xem xét kỹ lưỡng rồi khen “Tốt lắm” sau đưa cho ông Vũ Đình Huỳnh. Cụ không quên quan tâm đến người con gái đang đứng ở cạnh đó. Cụ Hồ đặt tay lên đầu Huyền Nhiên, vỗ nhẹ vào mái tóc uốn, nói giọng ấm áp: “Bác cám ơn cháu. Cháu sẽ rủ các bạn của cháu giúp đỡ bộ đội nhiều hơn, đem lại cho họ những món quà của tình thương yêu đồng bào”.
Trên đường về, tôi với cô ấy cùng im lặng, bởi có người lái xe. Mãi đến khi bước vào nhà, Huyền Nhiên mới trao phần thưởng cho tôi… Đó là nụ hôn nồng thắm. Từ đấy bộ vòng “sơ men” lấp lánh trên cổ tay nàng. Sau ngày 14/11/1946, Pháp đánh Hải Phòng, rồi khiêu khích đánh lên Hà Nội. Tình hình trở nên nghiêm trọng, Huyền Nhiên theo gia đình tản cư. Trước khi đi Huyền Nhiên có gửi tặng tôi chiếc xe đạp cô vẫn dùng kèm theo lá thư ngắn: “Anh dùng chiếc xe xấu xí này như Quan Vân Trường dùng ngựa Xích Thố, và mỗi khi ngồi lên xe anh vẫn coi như có em ngồi sau lưng”…
Sự xa cách ấy là mãi mãi. Đến 1954 sau chiến thắng Điện Biên, tôi trở về Hà Nội làm việc ở báo Văn Nghệ, hăm hở đi tìm nàng mà không thấy. Sau này nghe tin nàng sống ở xa, với một gia đình đầm ấm, sinh hoạt đầy đủ, hình dáng có khác xưa nhưng sức khỏe thì sút kém. Tôi thông cảm với hoàn cảnh mà nàng lựa chọn. Nàng vẫn chỉ là một dáng tiên ẩn hiện trong tôi, không có tuổi và không bao giờ mất…
Già Đang hơi gục mặt xuống, trông vóc dáng càng thảm hại, xấu xí. Con mèo từ đâu chạy vào đòi ăn, nó chũi chũi vào chân già. Già thò tay vào gầm giường lôi ra cái bát mẻ, vét nốt thìa cơm đổ cho nó, không quên dằm cho nó con rốc kho vừa gắp ở niêu đất ra. Già Đang nói với giọng lừ khừ như tiếng mèo rên với bà Nhuận:
– Nó là con mèo hoang trong làng, đêm đêm đi tìm giống khác rồi lạc vào đây, không nhớ đường về với chủ nữa. Có nó cũng vui, đêm đêm nghe tiếng mèo gọi nhau thảm thiết thê lương lắm. Những lúc như thế thường là nghĩ đến thân phận mình. Hồi này nó đã quen, rét thế nào cũng rúc vào chăn rách của tôi mà ngủ. Nằm ngủ có nó ấm ra phết! Có đêm tôi nói với nó như nói với một con người: “Mày tưởng tao sướng lắm à? Tao cũng cảnh cô quẫn, đơn độc không gia đình vợ con, không bè bạn thân thích. Mày còn tìm đến đồng loại để nô đùa khúc khích với nhau, rỡn cợt nhau. Sau này biết đâu lại chẳng có lũ mèo con, được người chăm sóc tử tế. Bữa ăn lại được ăn trước, thức ăn để trong bát đĩa, chủ giành riêng cho mày. Chả bao giờ mày phải “nhạt miệng”. Còn tao, ăn cơm tù, bốc trên lá, uống nước ống, cơm mốc cơm thiu cũng cố mà nuốt. Vừa ăn vừa nghe người ta chửi bới, lắm khi miếng ăn kề miệng còn bị người ta hất đi. Nuốt chưa khỏi cổ, người ta bắt nhả ra, cũng phải cố mà nôn ra cho đủ.
Bà Nhuận rưng rưng:
– Ôi dào, tôi nghe não cả ruột, đời ông khổ thế là cùng, cô đơn cô quả thế là cùng. Thế mà nhiều lúc tôi trách lầm ông. Cả cuộc đời ông không biết được tình cảm chồng vợ, chăn gối, buồng the như thế nào? Năm 1958, 1959, ông đã đi tù rồi, tù đến hôm nay. Bao nhiêu năm sống độc thân, giờ thành ông già lụ khụ. Giá ngày ấy ông cho tôi một đứa con rồi bỏ mặc tôi ở quê đi theo cách mạng, nay gặp lại cũng còn vợ còn chồng. Tự ông đánh mất tất cả, làm lỡ làng tất cả.
Già Đang đưa tay gạt đám quần áo cũ vào góc giường nhẹ nhàng nói:
– Thôi bà đào xới chuyện cũ lên làm gì, làm khổ cả hai người, khổ cả Huyền Nhiên. Biết đâu, ở một nơi nào bây giờ cô ấy cũng đang nghĩ về tôi.
Già Đang tiễn bà Nhuận ra cổng chùa thì dừng lại. Hai người bịn rịn mãi. Bà Nhuận nghẹn ngào: “Nỗi oan của ông khác nào Thị Kính, khi làm vợ mang tiếng thất tiết giết chồng, lúc giả trai trốn vào cửa Phật bị Thị Màu đổ tội trăng hoa. Chỉ đến lúc về cõi Phật người ta mới biết nỗi oan của nàng. Còn ông, người ta vu cho chống Đảng. Tù tội suốt mấy chục năm, về làng người đời xa lánh. Trẻ con giơ tay chửi “tên chống Đảng”. Nó xói xỉa ông, đày đọa ông. Cửa Phật liệu có biết nỗi oan cho ông. Đời ông lúc đi nắng lửa, khi về gió táp, chả lúc nào yên. Cũng chỉ vì tính nết cứng đầu cứng cổ và đống sách mục trong nhà. Chữ nghĩa làm gì cho khổ? Cứ ngu như tôi đây có hơn không?
Bà khẽ cúi xuống nhặt bông hoa đại thơm nhét vào bàn tay ông. Già Đang nhanh tay ngắt bông hoa “dâm bụt” dắt vào mái tóc bà, cả hai nhìn nhau cười mà như khóc… Nhìn bông hoa đại trắng thơm ngát, nồng nhiệt, nằm trong lòng tay mình, bỗng ông già nghĩ: Trong cuộc đời có nhiều người xúc động vẩn vơ, có khi không cắt nghĩa nổi. Lâm Đại Ngọc là một nhân vật trong Hồng lâu mộng, đơn độc trong tình cảm lại yếu đuối, hay mau nước mắt, hay thương cảm cho đời cho mình đến mức như mắc một căn bệnh. Có lần buồn quá, cô nhặt hoa đem vùi dưới đất xong rồi lại khóc “Chôn hoa người khóc ngẩn ngơ / Đến khi ta chết ai người chôn ta”. Đọc thầm hai câu thơ ấy trước bà Nhuận, bất chợt ông nghĩ đến cái phận mình lúc chết, không biết ai là người chôn đây? Có lẽ ông sẽ chọn chỗ dưới gốc tre làng để chết, khỏi phiền đến ai chôn cất.
Sau này nghe người làng Vũ Công bảo: “Không biết có phải cửa Phật từ bi động lòng trắc ẩn thương cảnh oan khuất của già Đang mà chỉ đường cho bà Nhuận lui tới trông nom ông trong những lúc ốm đau liệt giường liệt chiếu. Khi khỏe, già Đang sang làng Nguyệt Lâm tìm nhà bà Nhuận ăn cơm, chụp ảnh cùng con cháu bà ghi lại mối tình đầu thiêng liêng bà giành cho ông mà ông không biết.
Thế là ông Nguyễn Hữu Đang hai lần từ bỏ mối tình của hai người con gái đi làm việc nước. Một lần do gia đình tạo dựng, một lần do ông… Lại thêm một chuyện tình nữa cũng đầy phiền muộn và nước mắt.
Trước lúc gặp Huyền Nhiên, chàng trai Nguyễn Hữu Đang ở nhờ một gia đình người công chức cũ. Căn nhà đó trông sang trại lính Pháp, có một cô gái rất trẻ mới ngoài hai mươi tuổi ở với một ông già. Xét trong cách ứng xử mọi lẽ, không tìm thấy tình cảm bố con, nhưng tình chồng vợ chưa tới. Thời gian ở đấy người cách mạng trẻ tuổi nhận được ở cô gái mối tình ấm áp. Mỗi khi đi công tác về, tự tay cô rót đưa cho anh cốc nước, tự tay trải lại cái chiếu, hoặc giặt bộ quần áo cho anh. Nguyễn Hữu Đang rất có cảm tình với cô gái đó. Từ ánh mắt đến nụ cười… Càng tìm hiểu quan hệ giữa ông già và cô gái mọi chuyện càng như được đóng kín. Sau này qua tâm sự với cô, Nguyễn Hữu Đang đã hiểu được thân phận của con người chìm nổi. Cô bé đó vốn là đứa trẻ ăn mày, được ông bà nhặt về nuôi dạy. Càng lớn, duyên càng thắm, sắc càng tươi, lại ở một gia đình có học thức, nên lời ăn tiếng nói, đi đứng vào ra “thuần” Hà Nội. Lúc bà mất có cầm tay cô trăng trối: “Cháu ở lại trông nom săn sóc ông, làm vợ ông, trông nom lấy cái gia đình bé mọn này vì ông bà không có con”.
Họ là vợ chồng, chung nhau trong cái buồn của tuổi tác. Cô ấy lại muốn có con. Nhưng khốn thay ông già đó không thực hiện được. Lúc phát hiện ra sự phiền muộn đó, ông Đang rất rung động và tìm cách trốn chạy. Chuyện này ông kể với Kiều Duy Vĩnh người bạn tù từ Yên Bái lên hang đá Hà Giang. Hai ông ở với nhau suốt mười lăm năm tù ngục, có lúc cùng chung một cái khóa tay. Câu chuyện đẫm nước mắt là thế… Ông Đang bảo: Nếu không được giáo dục, không có ý chí của người làm cách mạng và không có cuộc kháng chiến thúc đẩy sức chiến đấu của thanh niên thời ấy thì ông sẽ trở thành người “phạm tội”.
(Câu chuyện trên tôi được đích thân ông Kiều Duy Vĩnh kể lại cho nghe vào hồi hai giờ chiều ngày 10/6/2007 tại nơi ông Vĩnh, ở ngõ 447 số nhà 469 Ngọc Lâm, Gia Lâm, Hà Nội. Hôm ấy nóng tới 39-40oC- Võ Bá Cường viết thêm).
Nguyễn Hữu Đang là người không vợ, không con, không nhà không cửa, không một lần chung chăn chung chiếu với người mình yêu và người yêu mình, cũng là người duy nhất ở Việt Nam không nghe thấy tiếng máy bay, tiếng bom Mỹ, không biết ở bên ngoài có cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vì lúc đó ông nằm liệt trong hang đá ăn mắm dòi, gạo mục, uống nước suối. Chỉ riêng sức chịu đựng không có người đàn bà nương tựa về tâm hồn trong lúc ông bị đánh tơi tả ấy phải chắp tay vái “cụ” ba vái. Và chúng ta tự hỏi: “Trên thế gian này có ai cô đơn hơn Nguyễn Hữu Đang không?” chỉ thấy nổi lên ở ông điều cay cực, oan trái mà ông vẫn bình thản ngồi đọc sách, dịch sách, tìm thấy trong Lão Tử, Trang Tử điều gì để thanh thản sống bám lấy cuộc đời thô nhám này. Ông biết chịu đựng và sống có chừng mực. Ông bảo: “Đời là cuộc chơi nhưng chơi không cay cú” nên lúc ông bị đày đọa, ông coi đó là cuộc chơi nên cũng không hề hé răng hé lợi kêu than, tố khổ. Cái đáng quan tâm nhất trong cuộc đời cô đơn của ông, công việc gì thuộc phạm trù tư tưởng ông cố làm được tất cả, thắng tất cả với cá nhân mình. Nhưng cái đáng sợ nhất ở ông sau khi chịu tù 30 năm về ông không biết sợ cái gì cả…
Tối ấy già Đang ngồi “lê la” trước bãi cỏ cửa chùa, già thấy không mùi hoa gì thơm hơn hoa cỏ dại. Già như người ngơ ngác bâng khuâng trong cái cảm giác lúc chia tay bà Nhuận ra khỏi cửa tam quan. Gặp lại bà chẳng khác nào như lúc nắng hạn gặp mưa xuân, con cá đang nằm phơi mình trên lạch cạn gặp được dòng sông chảy. Rất vui ý nghĩ hai người có nhiều sự giống nhau, đôi bên đều được giãi bày nỗi lòng mình và tỏ ra thích thú. Chỉ có thời gian là ngắn nhất. Già ngửa mặt nhìn trời, bỗng có ngôi sao đánh “xẹt” một vệt sáng đến tận chân trời rồi biến mất. Trời mùa xuân mưa bay lớp lớp cũng ít vì sao le lói. Cảnh tượng đó làm già xúc động. Đã gần bảy chục tuổi rồi, biết đâu ngày nào đó già cũng như ngôi sao kia tự dưng biến mất vĩnh viễn không còn tồn tại trên mặt đất này. Một ngôi sao trước khi biến mất còn để lại cho đời một vệt sáng… Vậy già này đâu chịu lẳng lặng ra đi, phải làm một việc gì đó cho có ý nghĩa lúc cuối đời mình. Âu cũng là một bước đi định mệnh đầy oan khuất.
Nguồn: baodansinh.vn/nguyen-huu-dang—bi-thuong-va-cay-dang
(Bài này được post trên mạng baodansinh.vn ngày 7/8/2015 nhưng đã bị rút khỏi mạng vào ngày 8/8/2015)




