Thời gian luôn thắm thoát. Nhớ ngày nào còn xôn xao lo âu năm 2000 rồi cũng qua đi, bắt đầu 2001 năm đầu tiên của thế kỷ 21, vậy mà hiện tại đã qua hơn ¼ thế kỹ. Ở thế hệ của chúng ta, hầu như ai cũng một lần nghe qua, biết đến danh xưng MẠNH THƯỜNG quân cùng chuyện nhân vật này luôn nuôi trong nhà hơn 3000 môn khách, rồi trong số người nghe này có không ít vị diễn giải rằng Mạnh Thương quân này là một người hào hiệp, chiêu hiền đãi sĩ trong một thế gia giàu có với tấm lòng bao dung rộng lượng luôn giúp đỡ những người gặp khó khăn, những kẻ bần cùng trong tinh thần khẳng khái, vô vị lợi.
Không biết vị học giả cao trọng nào của Việt Nam đã đem tước hiệu MẠNH THƯỜNG quân này du nhập vào văn hoá Việt Nam từ năm nào, đã được bao lâu, chỉ biết sau đó, mỗi khi viết, hoặc nói những lời tri ân đến những người ủng hộ quyên góp bằng tiền của hay công sức vào một việc cứu trợ hoặc xây dựng một công trình nào đó, những người này thường được gán cho cái tước hiệu: “các vị Mạnh Thường quân.”
Vậy Mạnh Thường quân là gì? Là tên của một người? Là tước hiệu của một người? Để truy tìm cho những thắc mắc về Mạnh Thường quân, bao gồm các câu hỏi nêu trên, mà chúng tôi ( 2 ) cho rằng thật đúng đắn, chân thật cũng như chính xác, chúng tôi đã duyệt qua nhiều trang sử liệu của những bộ sách được liệt kê (3 ) dưới đây :
1/ Đông Chu Liệt Quốc – Phùng Mộng Long 2/ 5000 năm Lịch Sử Trung Quốc – Lâm Hán Đạt và Đào Dư Chương 3/ Chiến Quốc Sách – Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê dịch 4/ Tư Trị Thông Giám – Tư Mã Quang 5/ Sử Ký Tư Mã Thiên – Tư Mã Thiên
Xin được nêu lên và nhắc nhớ ở đây là là chúng tôi chỉ trưng lên những dữ liệu từ những nhà văn hoá , sử học Trung Hoa cùng chính lời bàn của họ, không thêm bớt để phân tách và đưa đến kết luận mà thôi.
Chúng tôi biết còn rất nhiều tư liệu khác trên mạng, đúng đắn hay không đúng đắn, ca tụng hoăc bài xích, nhưng như đã trình bày ở phần trên, với năm quyển được chọn lựa và đối chiếu nhau, nhiều chi tiết không được đề ra trong quyển này được bổ sung từ quyển khác cho đầy đủ hoặc so sánh, nhất là trong hai quyển số 4 và 5 , tác giả Tư Mã Quang và Tư Mã Thiên, hai nhà sử học nổi tiếng của Trung Hoa đến bây giờ vẫn còn được táng thưởng. Xin được tiếp tục phần giải đáp :
Năm thứ bốn mươi tám ( Canh Tý – TCN 321 )Tề vương đem ấp Tiết phong cho Điền Anh, hiệu là Tĩnh Quách quân. Tĩnh Quách quân có bốn mươi người con, con một tiện thiếp trong số ấy là Văn, Điền Văn. Điền Văn được xem là thông minh lỗi lạc, giàu trí mưu, khuyên Tĩnh Quách quân phát táng tiền tái nuôi dưỡng kẻ sĩ. Tĩnh Quách quân sai Văn chủ trì việc tiếp đãi tân khách, tân khách tranh nhau khen ngợi cái tốt của Văn, điều thỉnh xin Tĩnh Quách quân dùng Văn làm người kế tự.
Tĩnh Quách quân mất, Điền Văn kế tự làm Tiết công, xưng hiệu là Mạnh Thường quân. Mạnh Thường quân chiêu vời kẻ sĩ du thuyết ở các nước chư hầu cùng những kẻ có tài mắc tội trốn lánh, đều làm nhà cửa dựng cơ nghiệp, hậu đãi họ, còn cứu giúp thân thích của họ nữa , thực khách thường có mấy nghìn người, bọn họ đều tự cho rằng Mạnh Thường quân là người thân tri kỷ của mình, bởi thế danh tiếng của Mạnh Thường quân vang dội khắp thiên hạ.
Tài của Mạnh Thường quân ở đây là chiêu đãi tân khách, được tân khách đề nghị với Tĩnh Quách quân và sau đó, khi cha mất, lên kế tự chứ không phải tạo ra được công lao gì để nhận tước phong từ vua ban cho.
Trong việc chiêu tập môn khách, xin xem các lời bàn sau : “ Thái sử công (Tư Mã Thiên) bàn răng: Ta từng đi qua đất Tiết, phong tục đất ấy nhiều con em hung hăng tàn bạo, khác hẳn nước Trâu và nước Lỗ. Hỏi lý do, đáp: Mạnh Thường quân chiêu tập hào kiệt kiếm khách cùng kẻ gian trong thiên hạ đến ấp Tiết đại để trên sáu vạn nhà. Đời truyền rẳng, Mạnh Thường quân hiếu khách, tự lấy làm ham thích, danh bất hư truyền vậy.” Thần Quang (Tư Mã Quang) nói: Bậc quân tử nuôi dưỡng kẻ sĩ là vì dân vậy. Dich nói : Thánh nhân nuôi dưỡng hiền tài, ân trạch đến muôn dân. người hiền, cái đức của họ đủ để biến đổi phong tục, cái tài của họ đủ để chấn chỉnh kỷ cương, cái sáng suốt của họ đủ để soi rọi cõi xa, cái mạnh của họ đủ để kết nhân vững nghĩa, lớn thì lợi cả thiên hạ, nhỏ thì lợi một quốc gia. Thế nên phong lộc hậu cho người quân tử để họ được giàu có, ban tước cho họ để họ được tôn quý; dưỡng một người mà ơn trạch phủ khắp muôn dân, đấy là đạo lý của việc nuôi dưỡng người hiền vậy. Nhưng cái cách Mạnh Thường quân dưỡng kẻ sĩ, chẳng phân rỏ trí ngu, chẳng chọn xét tốt xấu, trộm dùng bổng lộc của nhà vua để kết lập bè đảng riêng chỗ mình, phô trương tiếng khen hư hão, trên thì dối lừa vua của mình, dưới thì hao tốn của cải của dân, đấy thực là kẻ gian hùng vậy, sao đáng được tán tụng đây! Kinh Thư có câu: “Thụ vi thiên hạ bô đào chủ, tuỵ uyên tấu” ( Chứa chấp kẻ tội nhân trốn chủ trong thiên hạ, tụ hợp chốn đằm sâu. ) là nói về việc làm này của Mạnh Thường quân vậy.
Ở 5000 năm Lịch Sử, không có lời bàn, chỉ diễn tả : Theo nói lại, trong nhà của Mạnh Thường quân thường có ba ngàn thực khách, trong đó rất nhiều người thực ra không có tài năng gì, chỉ nhằm kiếm ăn mà thôi !!
Có lần Điền Văn quân đi sứ nhà Tần, mang theo hơn ngàn tân khách, trước đượcTần Chiêu Tương Vương tiếp đãi nồng hậu, còn muốn phong làm thừa tướng, sau đó lại nghe lời dèm pha đã giam lỏng và có ý giết. KInh Dương quân khi đi sứ Tề đã được Điền Văn đối đãi trọng hậu, khi về lại được biếu tặng lắm vật phẩm quý giá, nghe được tin này nên đến báo. Điền Văn theo lời khuyên của Kinh Dương quân, trao ra hai đôi bạch bích dâng cho Yến Cơ, người cung nữ được vua Tần sủng ái nhất, để khẩn cầu nàng nói lời xin với vua Tần. Yến Cơ chấp nhận nhưng lại đòi thêm áo cầu lông chồn trắng, vật mà khi qua đến Điền Văn đã dâng cho vua Tần. Bí lối, Điền Văn liền tụ hợp đám môn khách bàn bạc hầu tìm ra kế sách. Những kẻ thường được Điền Văn trọng vọng nhất không đề ra được một phương án nào, kể cả chính bản thân Điền Văn. Sau đó có người đề nghị và tình nguyện đi trộm lại áo câu, người này giả làm chó, giả tiếng chó sủa để lẻn vào kho, cuộc trộm thành công và nhờ đó mà Điền Văn được thả. Nhưng được thả không có nghĩa là hết nguy nan, phải tìm cách nhanh nhất để ra khỏi đất Tần. Ngay trong đêm Điền Văn đã dùng những văn kiện giả mạo do môn khách của mình tạo ra, lấy tên khác, ngựa không ngừng vó dong ruổi thoát đến cửa Hàm Cốc khi trời chưa sáng, cửa thành vẫn còn đóng. Một môn khách khác trổ tài giả làm gà gáy sáng đánh thức số gà gần cửa thành cùng gáy, lính canh tưởng trời đã sáng, mở cửa thành, nhờ vậy đã trốn khỏi đất Tân trước khi quân Tần đuổi đến.
Cuộc đào thoát dù thành công, nhưng qua lời tường thuật của tác giả, ai đọc qua cũng dễ dàng nhận ra rằng đám môn khách tầng trên theo đuôi Mạnh Thường quân chỉ là một đám ăn bám, vô tích sự, phần còn lại là đám du thủ du thực trộm gà, bắt chó cũng như chính bản thân Điền Văn khi đụng chuyện, chỉ biết hỏi han người dưới, dùng tiền hay vật phẩm quý giá để hối lộ, mua chuộc và khẩn cầu người khác. Đúng là một kẻ BẤT TÀI.
Trên đường về, ngang qua nước Triệu, Bình Nguyên quân Triệu, Thắng ra ngoài hơn ba mươi dặm đón , rất là cung kính. Người Triệu vốn nghe tiếng Mạnh Thường quân mà chưa từng biết mặt, lúc ấy theo nhau ra xem, thấy Mạnh Thường quân lùn thấp bé nhỏ, trong bọn người đi xem có người nói rằng: “ Trước kia ta hâm mộ Mạnh Thường quân, cho rằng người trời chắc là khôi vĩ khác thường, nay xem ra thì chỉ lả một anh chàng bé nhỏ mà thôi.” Cũng có người hùa theo cười cợt. Ngay đêm ấy, những kẻ cưới Mạnh Thường quân đều bị chặt đầu.
Trong Sử Ký Tư Mã Thiên Liệt Truyện diễn tả rằng khi Mạnh Thường quân nghe vậy, nổi giận. Tân khách đi cùng đều xuống xe, chém chết mấy trăm người, diệt một huyện rồi đi. Số người bị giết không rõ ràng, nhưng bị giết là một sự thật và bị giết rất nhiều. Như vậy có đáng không ? Hình tượng Mạnh Thường quân sụp đổ.
Mạnh Thường quân chẳng những có một ngoại hình nhỏ thó mà bề trong cũng không rộng lớn gì.Vẻ ngoài hào hiệp, bề trong hẹp hòi. Thực chất của việc nuôi khách chỉ là một hành động mua danh chuộng tiếng phục vụ cho mục đích chính trị và lòng ích kỹ . Chuyện giết người này có đáng không ? Coi rẻ mạng người là sự ngạo mạn của giai cấp quyền quý, kẻ nắm quyền trong tay. Thật dễ dàng nhận ra sao Trung Quốc thời cổ đại luôn có chiến tranh, luôn có chuyện người dân nổi dậy, không mấy khi được an bình. Giết người hàng loạt vì bị chê cười, nhạo báng là thấp bé, Điền Văn có thật sự thương người khi nuôi nhiều môn khách ? Nếu hành động giết người này không được gọi là bất nhân thì thật khó tìm chữ nào đẻ thế vào. Mạnh Thường quân đúng là kẻ BẤT NHÂN.
Không tự khống chế được cảm xúc, hành động nông nổi theo tự ái. Chuyện gì sẽ xảy ra nếu vua Triệu nghe được tin rồi cho lệnh bắt giữ tự trừng trị hoặc giải giao cho Tần để lấy điểm ? Ngoại giao giữa hai nước Triệu và Tề ? Quân đội Triệu ở địa phương? Lòng phẫn nộ của người dân nước Triệu? Nên nhớ là Điền Văn vẫn trên đường trốn chạy, chưa về đến đất Tề.
Với các câu hỏi không cần giải đáp, chỉ để trưng ra rằng Mạnh Thường là một kẻ BẤT TRÍ
Điền Văn về đến Tề, được Tần vương trọng dụng, phong cho làm tướng quốc. Điền Văn lại mở rộng việc thu nhận thêm nhiều môn khách. Trong số tân khách có một người tên gọi Phùng Hoan ( có nơi viết là Phùng Huyên ). Nếu được hỏi ai là người có tài thật sự trong hàng ngũ môn khách của Mạnh Thường quân, chúng tôi sẽ không do dự mà đáp rằng đó chính là Phùng Hoan. Khi Phùng Hoan đến đầu nhập, chỉ được xếp vào hàng môn khách ở bậc cuối. Sau nhiều lần tự vỗ kiếm hát để đòi hỏi, Phùng Hoan được nâng lên hàng thượng khách. Trong việc sắp xếp thứ bậc này chỉ ra Điền Văn có một tầm nhìn thấp khi không nhìn ra được những tài năng tiềm tàng ở Phùng Hoan, thêm việc nâng cấp không xét ở tài năng phô diễn nhưng lại được chấp thuận nếu người đó dám lên tiếng như trong trường hợp của Phùng Hoan.
Có lần Mạnh Thường quân muốn phái người đi thu nợ, mở sổ ra, hỏi các môn khách: “ Vị nào quen việc kế toán, có thể vì Văn đi thu tiền nợ ở đất Tiết không ? Phùng Hoan viết tên mình vào sổ, đáp : Tôi đi được. Mạnh Thường quân lấy làm lạ hỏi : Vị này là ai vậy ? Kẻ tả hữu đáp : là người hát kiếm dài đi về thôi đó. Điền Văn cười bảo: Ông khách quả có tài năng, tôi đã phụ ông ta, không thường hội diện. Xin mời lại gặp mặt và tạ lỗi : Văn tôi mệt mỏi về việc quan, lo lắng quá nên tâm thần mê loạn, tính lại vốn nhu nhược, mê muội, chìm đắm vào việc quốc gia, đến nỗi đắc tội với tiên sinh, tiên sinh chẳng lấy làm nhục, lại có ý thay tôi qua đất Tiết thu nợ giùm chăng ? Phung Hoan đáp: Tôi xin đi.
Như vậy rồi sửa sang xe ngựa, hành trang, chở theo những trái khoán, khế ước. Khi từ biệt, hỏi: Nợ thu hết rồi, tôi mua gì mang về ? Mạnh Thường quân đáp: Tiên sinh coi nhà này thiếu thứ gì thì mua thứ đó. Phùng Hoan dong ngựa tới đất Tiết, sai một viên thư lại gọi dân tới, ai thiếu nợ thì đối chiếu với tờ khoán. Đối chiếu xong cả rồi, Phùng Hoan đứng dậy, thác lời Điền Văn, cho hết số nợ, rồi đốt khoán đi. Dân đều hô vạn tuế. (4)
Ở đây xin được nói lên một chút về chế độ cho vay nặng lãi từ giới quý tộc thời đó với người dân. Không thể nào tưởng tượng ra được khi biết đến con số của mức lời từ năm mươi đến một trăm phần trăm số vốn. Bần dân không trả được nợ thường bị đánh đập tàn nhẫn, tài sản bị tịch thu, vợ con có thể bị bắt giữ làm nô lệ. Một trong những chủ nợ lớn chính là Điền Văn, chính là một “ Mạnh Thường quân hào hiệp của một số không nhỏ tâm tư người Việt “ của chúng ta.
Nói tiếp chuyện Phùng Hoan, lại dong vội về Tề, sáng sớm xin vào yết kiến Điền Văn. Điền Văn lấy làm lạ sao mà đi mau như vậy, mặc áo đội mũ ra tiếp, hỏi : Nợ thu được hết không? Sao mà về nhanh thế ? Đáp : Thu hết rồi. Hỏi : Mua gì về ? Phùng Hoan đáp : Ngài bảo coi nhà này thiếu thứ gì thì mua thứ đó. Thần nghĩ trong cung của ngài chúa đầy châu báu, ngoài chuồng đầy cả ngựa chó, hậu đình chật cả mỹ nữ, nhà ngài có thiếu chỉ là thiếu nghĩa thôi nên thần đã trộm phép mua “ NGHĨA “ về.
Chỉ có Phùng Hoan, một nhân tài biết nhìn xa, trong rộng mới dám làm, chỉ có một Phùng Hoan bộc trực mới dám trả lời như trên với Điền Văn, một người đầy quyền lực trong tay cũng là người bề trên trực tiếp của mình.
Chúng tôi nhìn đây không những là một cái tát thật phủ phàng thẳng vào mặt mà còn là một tiếng quát vang dội không nhân nhượng với chính cá nhân của Điền Văn, Điền Văn ơi, Mạnh Thường quân ơi, ngài là người BẤT NGHĨA, BẤT NGHĨA, BẤT NGHĨA !!! Viết đến đây chúng tôi tự hỏi hiện tại đã qua hơn một phần tư của thế kỹ 21, tại sao chúng ta vẫn giữ hình tượng của một người “Trung Quốc xấu xí “ thời cổ đại TCN-321, xa lơ, xa lắc mà chúng tôi đã tìm ra là BẤT TÀI – BẤT NHÂN – BẤT TRÍ – BẤT NGHĨA. MTq đã quá hạn từ lâu, lâu lắm rồi !!!
Chúng ta vẫn tự hào là một dân tộc có bốn ngàn năm văn hiến, trong suốt chiều dài lịch sử này, chúng ta không tìm ra được một danh nhân Việt Nam nào khả dĩ để thay thế sao? Thật đáng buồn chúng ta đã không nghĩ đến việc này sớm hơn. Với cùng một câu hỏi, “ Trong lịch sử Việt Nam, có nhân vật nào hào hiệp, thường hay giúp đỡ người khốn cùng vô điều kiện không ? “, chúng tôi đã “ google “ ba lần, mỗi lần tìm mới lại xuất hiện thêm nhiều danh nhân khác nhau, ở thời cổ đại, cận đại hay hiện đại đều có. Xin được liệt kê dưới đây để đề nghị quý vị tự mình tra cứu : 1/ Danh tướng Trần Nguyên Hãn 2/ Thượng Thư / Tổng Đốc Nguyễn Công Trứ 3/ Thủ Huồng 4/ Quận He Nguyễn Hữu Cầu 5/ Bạch Thái Bưởi 6/ Thiền Sư Tuệ Tĩnh ( Thần Y Tuệ Tĩnh ) 7/ Tả Quân Lê Văn Duyệt 8/ Danh nhân Chu Văn An Trong danh sách “ Our Heroes “ cuả Vietnamese Heritage Museum, chúng tôi tìm ra : 9/ Bà Bùi Thị Tuyết Hồng 10/ Mục Sư Peter Prayoon Namwoong 11/ Mục Sư Douglas Kelium 12/ Thượng Nghị Sĩ John Sidney McCain 13/ Cô Tippi Hedren – Người mẹ đỡ đầu cho ngành nail người Việt Nam 14/ Tổng Thống Jimmy Carter Mặc dù không thấy trong danh sách cứu trợ thuyền nhân ở Vietnamese Heritage Museum, chúng tôi đã “ google “ một số ân nhân đã cứu vớt một con số khổng lồ thuyền nhân người Việt thập niên 70- 80 sau khi cộng sản cưỡng chiếm Nam Viet Nam 15/ Tiến Sĩ Rupert Neudeck và phu nhân sáng lập Uỷ ban cứu trợ Cap Anamur (Đức ) 16/ Hạm trưởng Dana French ( Mỹ ) 17/ Stan Mooneyham và tổ chức World Vision. Chúng tôi kê ra số danh nhân cùng ân nhân ở trên của người Việt mình với mong mỏi các vị học giả, các nhà văn, nhà báo, các nhà giáo dục, các lãnh tụ tôn giáo với tầm hiểu biết sâu rộng sẽ đứng ra tổ chức và bình chọn được một danh nhân dù không là người Việt nhưng đáng được tri ân và tán tụng trong tâm hồn dân tộc Việt. Tại sao chúng ta không thể có “ Quan Âm Bùi Thị Tuyết Hồng “,” Thiên Tướng Trần Nguyên Hãn “, “ Phật tâm Bạch Thái Bưởi “, “ Hiện đại Bồ tát Rupert Neudeck “ “ Nhà nhân ái Nguyễn Hữu Cầu “, “ Các tấm lòng vàng John Mccain “ “ Thiện nhân Chu Văn An “ hay “ Maria Tippi Hedren “ và còn nhiều, còn rất nhiều nữa …
Trong khi chờ đợi, xin dùng những lời trân trọng mà chúng ta đã có, và xin được quên đi MTq, tước hiệu của một kẻ BẤT TÀI, BẤT NHÂN, BẤT TRÍ, BẤT NGHĨA đã quá hạn từ lâu đời rồi.
Mong thay, mong lắm thay. Miền Nam California, thành phố Garden Grove Tháng mười năm hai ngàn không trăm hai mươi sáu