Viết để kính nhớ các thầy, các frère trường La San đã dạy dỗ tôi. Không biết tôi có được nên người không, nhưng dù chưa làm được gì cả, tôi đã luôn luôn sống thành thật với lương tâm mình…
I don’t want the past to wake up in me, yet at the same time, I can’t seem to live without it.
Trường Sơn Lê Xuân Nhị
Ở lứa tuổi này, với những người trên dưới 80 như đa số chúng ta đây, cuộc đời ai cũng đã trải qua rất nhiều mùa hè. Có những mùa hè trôi qua rất bình thường, chẳng có gì đáng nhớ, hoặc là… chán bỏ mẹ, như những mùa hè của những ngày còn mặc áo nhà binh chẳng hạn.
Có những mùa hè rực lửa oai hùng, tiếng reo hò chiến thắng vang lừng bờ cõi như mùa hè năm 1972, bây giờ nghĩ lại, vẫn đang còn thấy dậy lửa trong tim… Cũng có những mùa hè khóc không hết nước mắt cho quê hương như mùa hè của đau thương và khốn nạn năm 1975 chẳng hạn.
Đó là những mùa hè của người lính trận đã trưởng thành, đã nằm gai nếm mật, đã nếm mùi lừa đạn để bảo vệ quê hương…
Nhưng cuộc đời chúng ta ai cũng đã có những mùa hè vô tội hơn, ngọt ngào hơn. Đó là những mùa hè của những ngày khi còn cắp sách đến trưởng. Vì dụ như, mùa hè cuối cùng của tuổi học trò chẳng hạn…
Tôi không biết quí vị có được bao nhiêu mùa hè như thế trong cuộc đời mình. Riêng tôi, tôi chỉ có được một mùa hè quý giá nhất cuộc đời mà tôi vẫn còn giữ mãi trong lòng cho đến bây giờ.
Đó là mùa hè cuối cùng của cuộc đời Trung học, trước khi từ giã mái trường La San Ban Mê Thuột thân yêu để lên đường đi lính…
40 năm cầm bút, tôi toàn viết chuyện đánh đấm, hoặc về lính và chiến tranh và tình yêu vớ vẩn, chưa hề viết một bài về trường cũ, về thầy xưa, về những thằng bạn thuở còn thơ dại, cho dù trái tim tôi luôn luôn tràn ngập những hình ảnh thân yêu tuyệt vời đó…
Tôi nhớ hồi nhỏ, có đọc được một câu truyện của một ông tướng nào đó bên Tây, hình như tên là Carnot hay Carlo thì phải, sau nhiều năm chinh chiến với bao nhiêu công trạng hiển hách, được mang lon đại tướng, đã về trường cũ thăm lại thầy, tay cầm mũ cúi đầu bắt tay thầy như những ngày xưa còn đi học.
Quý giá thật. Câu chuyện ấy làm cho bọn học trò chúng tôi cảm động. Đứa nào cũng mơ ước sau này, sau khi công thành danh toại, diệt xong bọn CS xâm lăng, sẽ trở về thăm trường cũ, cất nón ra chào thấy giống như ông tướng nọ…
Nhưng mơ ước là một chuyện, còn có làm được hay không lại là chuyện khác…
Mùa hè năm ấy, cả miền Nam Việt Nam đang còn rung chuyển vì VC vừa đánh Tết Mậu Thân, đặc biệt thành phố Ban Mê Thuột của tôi, chưa bao giờ biết mùi chiến tranh, bỗng dưng bị giặc đánh lén, đốt nhà đốt chợ, lính và dân nằm chết đầy đường, phố xá tan nát tả tơi. Trường tôi, La San Ban Mê Thuột, vốn nổi tiếng từ lâu là trường của “con nhà giàu”, được xây cất bằng xi-măng cốt sắt với 3 tầng lầu, nằm trên một ngọn đồi gần thành phố, cũng bị loang lỗ dấu tích của bom đạn bởi vì địch đã chiếm trường ngay đêm 30. May nhờ một đơn vị của Trung đoàn 45 do thiếu tá Trần Văn Tân chỉ huy, đã đem quân lên chiếm lại được một cách phi thường. Tôi dùng 2 chữ “phi thường” bởi vì ông đã không cho phép bắn một trái đại bác, thả một trái bom vào trường, để khỏi bị thiệt hại. Những chuyện này, nhờ các thầy và các Frere trong trường kể lại cho nên chúng tôi mới biết rõ. Không biết giờ này thiếu tá Tân và các người lính Trung đoàn 45 ngày xưa ở đâu rồi, nhưng tôi xin đại diện tất cả học trò cùng các thầy các Frère trường La San Ban Mê Thuột, xin phép được lạy tạ và nhớ ơn quí vị đã gìn giữ trường tôi được trọn vẹn. Nghe nói rất nhiều người lính đã hy sinh trong trận đánh này…
Vì là năm cuối cùng và mùa thi Tú Tài cũng vừa xong, nhà trường cho phép chúng tôi được tổ chức một buổi họp mặt để vừa ăn mừng thi đậu, vừa chia tay. Bữa tiệc hôm ấy, frère giám học phá lệ, cho phép chúng tôi đem rượu bia lên trường…
Chúng tôi kê bàn thành một cái hình vuông, các frère các thầy ngồi giữa, học trò ngồi hai bên. Chúng tôi lúc ấy dù mới quá 17 tuổi nhưng đã biến thành quỷ từ lâu, nên thằng nào cũng biết uống bia uống rượu cả.
Hôm ấy tôi vui lắm vì nhiều lý do. Trước hết, tôi vừa đi đậu Tú Tài 1. Chắc những ai ở lứa tuổi 70, 80 còn nhớ. Thời đó, cái bằng Tú Tài 1 cánh cửa quan trọng nhất để ra đời. Chỉ cần đậu được cái Tú 1, nếu muốn học tiếp và đậu được cái Tú 2 thì sẽ được thi vào đại học. Còn nếu đi lính sẽ được làm quan, tức là được đeo lon Chuẩn úy, hoặc muốn đi Không Quân, sẽ được mang lon thiếu uý và được lái tàu bay. Rớt Tú Tài 1, đi lính phải mang lon trung sĩ. Thật ra thì cái lon trung sĩ chỉ thua lon chuẩn úy vài cấp và kiến thức thì chưa biết ai hơn ai, nhưng kẹt cái là thời đó, các em gái hậu phương thường chê… trung sĩ. Tôi đã từng được nghe một câu nói như sau: “Thà chết giữa rừng mai còn hơn kề vai trung sĩ.” Vì thế, rớt Tú tài là cuộc đời coi như tàn trong ngõ hẹp.
Lý dó thứ hai, tôi đã quyết định, lễ lạc xong, sau khi rong chơi vài tháng, tôi sẽ đi lính. Bao nhiêu năm đèn sách, tôi đã chán học lắm rồi. Mẹ kiếp, hết phương trình này tới công thức nọ tới định đề kia, chẳng có cái nào … giết được một thằng VC. Tôi muốn ôm M-16 dẫn lính xông pha trận mạc để đóng góp với anh em. Trận Mậu Thân vừa rồi đã làm dậy lên máu giang hồ trong người tôi. Tiếng súng vang rền của trận Mậu Thân vẫn còn văng vằng bên tai, người chết nằm đầy đường nhớ lại thấy ớn, không lý mình cứ ngồi nhà làm một kẻ bàng quan nhìn giặc tàn phá quê hương? Tôi muốn thay đổi cuộc sống, muốn đối mặt và sống mái với quân thù, muốn trả thù cho những đồng bào tôi đã chết. Tôi chẳng anh hùng hay ngon lành hơn ai, nhưng mình là trai sinh nhằm thời loạn, đành phải đáp lời sông núi mà thôi.
Tiệc được tổ chức trên lầu hai, ngay phòng học của lớp đệ Tứ năm nào của tôi…
Rượu ngà ngà say, tôi ngồi tán dóc với sư huynh giám học, dạy Pháp văn đệ nhị, cũng là một hung thần thời đó chứ chẳng hiền lành gì. Thành thật mà nói, tất cả các ông frère, đối với chúng tôi, chẳng có ông nào hiền mà toàn là hung thần cả… Tôi nhớ mãi Frère Văn Xuyên, giám học trường tiểu học. Văn phòng ông này có treo 5 cây roi mây trên tường ngay sau bàn giấy, từ nhỏ tới lớn, đặt tên từ roi số một đến roi số năm. Thỉnh thoảng ngài vào lớp rất bất ngờ, không bao giờ báo trước, để vừa dạy dỗ và vừa thanh tra. Khi tóm được một anh học trò có tội chẳng hạn, ngài liền phán: “Tội của anh xứng đáng 5 roi. Anh lên văn phòng tôi lấy cây roi số 4 cho tôi.” Thế là anh học trò “có tội” run rẩy đi lên văn phòng giám thị, cầm cây roi số 4 xuống, lễ mễ dâng cho ngài rồi nằm lên bàn chờ bị trị tội. Ngài Văn Xuyên quất đúng năm phát nghe đét đét vào cái mông đít của thằng học trò khốn khổ. Sau mỗi một cái “đét” là thằng học trò như muốn văng người lên, đau đớn lắm, nhưng không dám rên, không dám khóc. Bọn học trò chúng tôi ngồi phía dưới ai nấy mặt mày khiếp đảm, kinh hãi rụng rời. Mình không bị đòn mà nghe tiếng roi mây quất xuống nghe y như chính mình bị vậy. Nhưng thằng nào cũng mừng thầm trong lòng vì người bị đòn không phải là mình.
Thằng học trò bị đòn xong, đứng dậy, vòng hai tay cúi đầu chào người vừa đánh mình xong và lễ phép nói: “Xin cám ơn Frère.” Sau đó, nó đưa hai tay nhận cây roi từ ông frère, lại đem lên văn phòng, treo trúng vào chỗ cũ.
Tôi không biết trên cõi đời này, có thằng bé nào bị đòn năm roi thâm tím cả đít mà bị xong lại còn cúi đầu lễ mễ cám ơn người đã đánh mình thì chỉ có học trò La San là một…
Những gì tôi vừa kể trên là có thật một trăm phần trăm, tôi không hề dám chế biến hay bịa đặt. Quí vị cứ tóm một anh học trò La San mà hỏi thì sẽ biết. Bọn học trò trường La San chúng tôi sống trong một thứ kỹ luật khắc khe như vậy đó ngay từ thuở nhỏ. Có thể nhờ đó mà sau này ra đời đi lính hay làm bất cứ chuyện gì, chúng tôi cũng dễ tuân theo kỹ luật.
Căn phòng lại làm cho tôi nhớ đến mùa tựu trường của năm Đệ Tứ…
Có thể nói, cái tuổi phá phách và dễ nổi loạn nhất của bọn học trò bất cứ nơi đâu là những năm Đệ Ngũ và Đệ Tứ này. Đó là những năm của con nít mới lớn, của tuổi trẻ bắt đầu trở thành thanh niên, sắp sửa bước vào đời, và bắt đầu biết yêu, biết nhìn con gái bằng một ánh mắt hoặc rất là dịu dàng, hoặc rất là… đói khát. Đó là những năm mà cái gì mình cũng biết, cái gì mình cũng giỏi, cũng hay, cũng nhất thiên hạ, còn thiên hạ, kể cả bố mẹ, kể cả thầy giáo, là cổ hủ, chẳng biết mẹ gì. Lứa tuổi đó, ai cũng nghĩ rằng mình bước một bước là có thể lên được tới trời liền…
Tôi không thể nào quên được buổi sáng hôm ấy, buổi sáng quan trọng nhất của ngày đầu tiên của năm học. Chúng tôi xếp thành hai hàng dài đứng trong hành lang trước cửa lớp chờ frère trưởng lớp cấp giấy để vào lớp.
Năm ấy có một loạt các frère mới vừa đổi về trường chúng tôi. Ông nào cũng trẻ măng, mặt mũi đẹp trai sáng sủa và ngon lành. Có điều, cái chất … hung thần của mỗi ông không thể nào dấu được sau những bộ mặt đẹp trai lịch sự ấy. Nhìn ông nào cũng tự nhiên thấy ớn ớn trong người, nhất là với những thằng học hành chẳng lo mà lúc nào cũng có một âm mưu gì đó trong đầu để tổ chức đi chơi hoặc giải trí như tôi.
Mỗi ông frère được giao cho một lớp để coi sóc, gọi là sư huynh hướng dẫn lớp, nghĩa là xếp lớn của lớp. Lớp đệ tứ chúng tôi năm ấy frère Abel Quang là trưởng lớp. Ông cao ráo, đẹp trai hơn nhiều người khác, đeo kính cận và dĩ nhiên, giống như bao nhiêu ông frère thời đó, cũng là một loại hung thần.
Khốn khổ thân tôi, cái ngày đầu tiên quan trọng ấy, cái ngày mà bất cứ thằng học trò nào dù ba gai đến đâu cũng phải ráng đóng vai hiền và ngu đề khỏi bị xếp lớn để ý, thì tôi lại xui xẻo đụng độ ngay với xếp. Thế mới chết người. Chuyện đó nực cười như sau:
Có lẽ đã được ông frère lớp đệ Ngũ năm ngoái là ông Gustave đã bàn giao căn dặn như thế nào không biết, nên ông Abel đã bắt đầu gườm cái tên Lê Xuân Nhị của tôi từ lúc chưa gặp mặt.
Lúc ấy, chúng tôi đứng xếp hàng chờ bên ngoài lớp. Ông Abel cầm một xấp giấy nôm na gọi là giấy vào lớp. Tờ này ghi đầy đủ tên họ, tên cha mẹ, địa chỉ, số điểm năm ngoái, chỗ ngồi mới vân vân. Ông dở từng tờ một, bắt đầu gọi tên. Người nào được gọi tên, phải la to lên, “Có mặt” rồi bước ra khỏi hàng để cho ông nhìn coi mặt mũi như thế nào, quần áo có chỉnh tề không, nghĩa là phải áo trắng quần xanh, và có đeo hiệu đoàn La San ở túi bên trái. Thật chẳng thua mấy người tân binh quân dịch ở quân trường chút nào. Sau đó, ông sẽ đưa tờ giấy cho người học trò, bảo cho người đó biết ngồi bàn số mấy và chỗ nào. Bàn số và chỗ ngồi có ghi trong giấy. Lúc ấy người đó mới được đi vào lớp…
Giống như mọi người, tôi đứng trong hàng, mặt mày hôm đó tự nhiên trở nên rất hiền và rất ngu, có thể nói là dốt nữa, ngoan ngoản chờ được gọi tên như thiên hạ. Tôi chờ chừng cỡ 10 người thì ngài Abel gọi:
-Lê Xuân Hồng.
Tôi giật nẩy mình lên. Đây là tên của thân phụ tôi chứ không phải tôi. Nhưng, cứ như người khác thì chắc họ đã bước ra khỏi hàng vào nói tên đó tên của cha tôi, chứ không phải của tôi, rồi nhận giấy đi vào. Nhưng cuộc đời tôi sống chẳng bao giờ giống ai cả vì tôi có chút máu ba gai trong người. Đồng ý rằng LXH là tên của cha tôi, nhưng đâu phải tên tôi, tại sao tôi phải hô “Có Mặt”. Tôi cứ đứng im, chẳng thèm có phản ứng gì ráo, làm như cái tên LXH chẳng có dính giáng gì tới tôi.
Ngày khai trường luôn luôn bận rộn với ngàn thứ phải làm cho nên ngài Abel không có thì giờ để chờ đợi ai cả. Ngài lại gọi lần thứ hai, lần này to hơn. Tôi vẫn đứng yên tỉnh bơ. Sau lưng tôi, không biết một thằng nào đó đã thúc vào lưng tôi, bảo tôi ra đi, đây là ngày đầu tiên, đừng có phá phách mà … tan nát đời trai.
Chẳng thấy ai trả lời nên ngài Abel bắt đầu bực mình thật sự. Ngài rú to lên một lần nữa tên của thân phụ tôi, vừa đưa mắt dớn dáo tìm kiếm trong cái đám học trò đang xếp hàng trước mặt ngài.
Không biết có thằng nào đó thúc vào hông tôi thật mạnh và đẩy tôi ra khỏi hàng:
-Thôi ra đi mày, để cho frère còn sắp xếp chỗ ngồi nữa…
Lúc ấy cặp mắt của frère Abel cũng lướt qua chỗ tôi đang đứng, và linh tính của người thầy giáo nói cho ông biết ngay tôi phải là cái thằng có dính dáng tới cái tên ông vừa đọc.
Ông chỉ mặt tôi và hỏi bằng một giọng hằn học, sẵn sàng … tát tai ngay:
-Anh kia, tên anh có phải là Lê Xuân Hồng không?
-Thưa không. Đó không phải tên tôi.
-Thế anh tên gì?
-Lê Xuân Nhị.
À, thì ra cái thằng Nhị đen nổi tiếng mà mình đã được báo trước là thằng này đây. Bây giờ thì đúng là “Người đã gặp Người.” Ông Abel giận tím người lại, quát như sấm:
-Thế còn LXH là ai?
-Là ba tôi.
-Tại sao tôi gọi LXH anh không trả lời?
-Vì đó không phải tên tôi.
-Nhưng anh biết đó là tên của ba anh, sao anh không bước ra?
Tôi cãi tỉnh bơ:
-Tên tôi đâu phải LXH mà bước ra?
Ông Abel đứng ngẩn người một lúc vì nghĩ cho cùng, tôi nói cũng có phần đúng. Nhưng đúng cái kiểu … du côn mất dạy. Cứ như bình thường thì chẳng ai làm thế.
Ông Abel giận quá, không thèm đưa giấy cho tôi, để tôi đứng đó và tiếp tục đọc tên những người khác…
Lúc ấy tôi mới thấy hối hận. Mình quả là một thằng vừa ngu vừa dốt. Chẳng ai dại gì lại đi đụng độ với xếp lớn vào ngay cái ngày quan trọng nhất trong năm học…
Những gì xảy ra sau đó tôi đã quên mất rồi, nhưng trưa hôm ấy, rượu ngà ngà say, ngồi nhìn lại cái phòng học lớp đệ Tứ năm nào, tôi không thể nào không nhớ cái lại cái kỹ niệm ấy, và nhớ từng ông thầy, từng người bạn học…
Thầy tôi, người hiền như thầy Đình dạy Công Dân Giáo Dục mà chúng tôi thường gọi là Công Rân Ráo Rục, hệ số một. Các thầy dạy những môn hệ số một vớ vẩn như thế thường bị học trò “coi thường”, không … nể lắm. Và ngược lại, vì biết thế cho nên các thầy cũng hiền lành dễ dãi, không bắt bẻ hạch sách. Vì thế, giờ CRRR là một cái giờ mà chúng tôi gọi là giờ “giải trí.” Giờ chính phủ chế ra như để xoa dịu những giờ căng thẳng nhức đầu như Toán Lý Hóa…
Tôi nhớ có một lần chúng tôi âm mưu phá thầy Đình như sau:
Trước khi bắt đầu một giờ mới, tất cả lớp, kể cả thầy giáo, đều phải đọc một kinh ngắn. Thường thì các thầy hay các sư huynh bắt kinh rồi chúng tôi đọc theo. Nhưng cũng có khi, cái vinh dự này được dành cho người học sinh nào học giỏi và hiền nhất. Hôm ấy thầy Đình vào lớp và bắt đầu đọc kinh như thường lệ. Kinh đọc vừa dứt, thầy Đình toan dơ tay lên làm dấu để chấm dứt thì tôi lại lớn tiếng bắt một bài kinh khác, “Kính mừng Maria đầy ơn phước…” Đã âm mưu với nhau trước, cả lớp liền lớn tiếng đọc theo, vừa đọc vừa nín cười. Thầy Đình đã đưa tay lên toan làm dấu đành phải khựng lại. Thầy trừng mắt nhìn tôi nhưng tôi tỉnh queo, lại làm mặt nghiêm và buồn và đọc kinh rất to tiếng làm như mình mến đạo lắm. Khi kinh này đọc vừa xong, thầy Đình lại đưa tay toan làm dấu thì một thằng mất dạy khác trong lớp lại to miệng bắt đầu một bài kinh mới. Cả lớp rầm rập đọc theo rất to tiếng như lúc nãy. Cứ thế và cứ thế, chúng tôi đọc liên tiếp một lúc cả chục kinh khác nhau. Tội nghiệp thầy Đình, cứ đứng trên bục giảng, hễ hết bài thì đưa tay lên chuẩn bị làm dấu để rồi bị chúng nó bắt đầu một bài kinh khác, lại phải bỏ tay xuống. Thầy biết chúng tôi đang chơi sỏ thầy nhưng đang đọc kinh, không lý lại bắt chúng tôi bỏ ngang? Học trường đạo, chuyện kinh kệ là chuyện quan trọng, mình lại là giáo sư, cấm học trò đọc kinh là có tội chết. Thế là thầy đành đứng im nhìn chúng tôi đọc kinh vang trời dậy đất. Vừa đọc vừa cười với nhau, khoái chí lắm, chẳng ra cái thể thống gì cả.
Cuối cùng thì các bài kinh cũng chấm dứt, và chúng tôi cùng cười ồ lên như một cái chợ rất là khoái tỉ. Chúng tôi vui cười nhưng thầy Đình thì giận tím mặt lại. Thầy chỉ mặt tôi quát lên như sấm:
– Anh Nhị, anh tính phá tôi phải không? Tại sao hôm nay các anh lại rủ nhau đọc kinh nhiều vậy?
Tôi đáp liền, mặt mày thễu nảo:
-Dạ đâu có thầy, em muốn đọc thêm kinh để cầu nguyện cho hòa bình Việt Nam. Chiến tranh hoài, khổ quá…
Một thằng khác hùa theo ngay:
-Tụi em phải đọc thêm kinh để cầu nguyện cho Việt Cộng pháo kích khỏi trúng nhà mình….
Toàn là những câu trả lời rất … mất dạy nhưng rất có tình lý vào thời buổi ấy. Dù thầy Đình thừa biết rằng chúng tôi chỉ muốn chọc phá thầy cho vui chứ có tha thiết gì đến chiến tranh với lại hòa bình, nhưng mà ăn thua đủ với chúng tôi cũng chẳng ích gì cho nên thầy bỏ qua luôn…
Có những môn như Pháp văn, Việt văn và ngay cả môn quan trọng là Toán Lý Hóa cũng hay bị chúng tôi phá, nhưng ít hơn. Nhưng Nếu gặp thầy dạy giỏi làm chúng tôi say mê thì chẳng ai thèm phá. Ví dụ như thầy Cao Thế Dung dạy Việt Văn chẳng hạn…
Một buổi sáng năm Đệ Tứ, bỗng có một người ăn bận sang trọng, thắt cà vạt, tay cầm Samsonite bước vào lớp chúng tôi. Đó là thầy Cao Thế Dung, hồi đó chưa nổi tiếng vì chưa viết sách, nhưng oai phong lẫm liệt. Hồi đó giáo sư Ban Mê Thuột chỉ thắt cà-vạt khi đi… ăn đám cưới, chẳng ai lại thắt cà vạt đi dạy học cả. Ở trong lớp, thầy lại còn hút thuốc lá Salem thơm lừng cả lớp. Sau này mới biết, thầy là người của VNQDĐ, chống chính phủ sao đó nên phải trốn lên Ban Mê Thuột.
Chúng tôi thích thầy vì thầy dạy rất hay, đọc truyện Kiều làm chúng tôi say mê. Tôi không còn nhớ thầy dạy Việt văn được bao nhiêu nhưng thầy giảng luân lý và bàn chính trị rất nhiều. Có khi chửi cả chính phủ, chửi cả NCK hồi đó đang làm thủ tướng làm ai cũng khoái. Nhưng tôi nhớ mãi thầy Dung có nói một câu như sau: “Các em đừng tưởng Mỹ nó yêu đất nước mình. Người Mỹ chẳng yêu ai cả. Họ sang đây đánh nhau là để bảo vệ quyền lợi của họ, khi nào xong việc, họ sẽ trở về. Các em nên nhớ rằng không có ai yêu đất nước Việt Nam bằng người Việt Nam mình cả.
Sau này, càng lớn khôn, tôi càng thấy câu ấy đúng. Thầy Dung đã khuất núi, nguyện cầu linh hồn thầy được an bình ở cõi đời vô tận mới.
Cũng có một chuyện khác làm tôi nhớ mãi. Thầy Thành dạy toán, một hôm vào lớp, đứng trên bảng cầm cục phấn toan giảng bài, bỗng dưng quăng cục phấn xuống đất rồi đứng khóc ngon lành như một đứa trẻ. Chúng tôi ai nấy giật mình, không hiểu chuyện gì xảy ra. Có thằng thấy thầy như thế thì bỗng bật cười lên mới là mất dạy. Một lúc sau thầy mới mếu máo nói:
-Nói cho các anh biết, bữa ni là bữa cuối cùng của tôi. Tôi vừa bị gọi nhập ngũ, không bao lâu nữa sẽ lên đường.
Lúc ấy tôi không hiểu tại sao thầy lại khóc như thế. Đi lính thì càng vui chứ ở đây dạy dỗ cái đám học trò phải gió này thì có gì vui? Sau này, lớn lên, khi đi lính, tôi mới hiểu lòng dạy của thầy Thành hôm ấy.
Hôm ấy ngồi nghĩ lại, cảm thấy thương các thầy các frère vô cùng…
Năm đệ Tứ trôi qua rất mau, gống như năm đệ Tam và đệ Nhị. Trong khi đó, chiến tranh càng ngày càng trở nên khốc liệt và lên cực điểm ở Tết Mậu Thân.
Hết mùa hè năm ấy, như đã dự tính, tôi từ giã thành phố Ban Mê Thuột và ngôi trường thân yêu, lên đường đi lính.
Hai chữ “đi lính” nghe thật hiền và thật đơn giản như “đi chợ”, “đi chơi” vân vân, nhưng thực ra, nó quan trọng, bi đát và thê thảm vô cùng. Nó thay đổi cả cuộc đời của một thằng con trai mới lớn, nó quyết định vận mệnh của một con người.
Mẹ tôi tiễn tôi ra tới tận phi trường. Hai mẹ con đứng trên sân thượng của phi trường Phụng Dục, nhìn xuống vùng rừng núi chung quanh, nghe gió cao nguyên thổi lồng lộng và mỗi người mang một tâm trạng buồn thảm khác nhau. Mẹ muốn dặn dò gì đó, nhưng hễ mở miệng ra là nước mắt cứ tuôn trào, không nói gì được. Tôi nhìn những giọt nước mắt của mẹ, tự hỏi lòng mình suốt những năm tháng qua, mình đã làm nên bao nhiêu giọt nước mắt của mẹ? Rồi nhìn mái tóc bạc màu của mẹ và cũng tự hỏi lòng mình, không biết một tay mình đã làm nên bao nhiêu sợi tóc bạc trên mái đầu ấy? Có thể là hơn nửa mái đầu. Bây giờ từ giã ra đi làm cuộc đời mới, lại làm cho mẹ khóc thêm một lần nữa. Tôi thấy mình quả là một thằng … vô tích sự thật, như lời thân phụ thường mắng.
Tôi tự nhủ lòng, đây là lần cuối cùng mình làm cho mẹ khóc. Từ đây, mỗi người một nơi, đường đời vạn nẻo, tôi sẽ chẳng còn bao giờ làm cho mẹ khóc nữa. Nếu có, họa chăng, đó là ngày người ta đem xác tôi về hoặc được tin báo tôi đã tử trận. Đó là ngày mà mẹ phải khóc vì tôi thêm một lần nữa và cũng là lần cuối cùng. Tôi không bi thảm hóa cuộc đời, nhưng tôi biết chiến tranh càng ngày càng trở nên khốc liệt, thanh niên ở tuổi tôi chết vài ngàn người mỗi ngày, tôi phải cần phải chuẩn bị.
Từ đó cuộc đời tôi bước sang một khúc rẽ mới. Tôi làm lính… phi công, ra trường đúng vào dịp “Mùa Hè Đỏ Lửa” năm 72, bay khắp mọi nơi ở vùng 2 chiến thuật, đánh đấm tưng bừng, bắt đầu từ căn cứ Alpha, tới Bravo, rồi đến Charlie, vân vân, nhưng ít khi nào bay ở Ban Mê Thuột vì quê tôi năm ấy vẫn còn im tiếng súng. Thỉnh thoảng, mỗi lần đi phép hay đi bay tăng phái cho sư đoàn 23 bộ binh hay tiểu khu Darlac, tôi mới về nhà. Nhưng lần nào cũng thế, ban ngày thì bay bổng liên miên, buổi tối về nhà, chưa bước vào cửa, chưa chào được cha mẹ anh em là đã say mèm, chân này đá sang chân kia…
Dù sau này cũng cover trên vùng trời Ban Mê Thuột nhiều lần, nhưng tôi chưa bao giờ có dịp lên thăm lại trường cũ để dở nón ra cúi đầu chào các thầy như ông đại tướng người Pháp kia. Có đôi khi, trên đường hành quân về, bay ngang qua trường cũ, tôi cũng bay thấp xuống, lượn vài vòng để ngắm lại cái ngôi trường xinh đẹp ngày xưa, nơi còn giữ lại những kỹ niệm yêu dấu của mình. Đã có một vài lần tôi tính sau khi đáp, sẽ lái xe lên thăm trường thật, nhưng lần nào cũng thế, đáp xuống phi trường, tắt máy xong, vừa mở dây an toàn, chưa kịp tháo nón bay ra thì đã có xe trờ tới để chở đi ăn nhậu. Và tôi tự hỏi lòng, bây giờ thì chú mày muốn đi ăn nhậu hay đi thăm trường cũ đây, hở thằng học trò La San vô tích sự kia? Lần nào cũng thế, sự lựa chọn đến với tôi thật là dễ dàng. Luôn luôn dễ dàng trong những hoàn cảnh như thế này. Đi ăn nhậu chứ thăm… làm quái gì. Thăm thì lúc nào thăm lại chả được, trường còn đó chứ có… trôi đi đâu mà sợ. Còn nhậu nhẹt thì nó cũng giống như… ăn thịt chó vậy, hôm nay không ăn, mai mốt xuống âm phủ không biết có còn ăn được nữa không. Thêm vào đó, ngôi trường cũ, kỹ niệm xưa dù có đẹp đến đâu cũng không thể nào say đắm bằng những “hồ mắt giai nhân” của các em gái Ban Mê Thuột lúc ấy…
Cứ thế và cứ thế, tôi chẳng bao giờ bắt chước được ông đại tướng Carlot đến thăm trường. Nhưng tôi cứ nhủ lòng một ngày nào đó, mình sẽ lên thăm trường, sẽ vô chào các thầy vân vân. Nó giống như những bài thơ nào đó mình ấp ủ trong lòng mà không bao giờ làm được. Hoặc những tác phẩm tuyệt vời mình đã có ý tưởng nhưng chưa bao giờ viết được. Cứ hẹn lòng mình một ngày nào đó…
Phải, cứ hẹn với lòng mình một ngày nào đó, cho đến một hôm…
Mùa hè năm 75, tôi đang biệt phái cho sư đoàn 22 bộ binh, đóng tại phi trường Phù Cát, đánh đấm tưng bừng ở vùng Tam Quan, Bình Định. Tối hôm trước, không hiểu tại sao, điện thoại của biệt đội reo lia lịa. Xếp trả lời máy, mặt mày có vẻ không vui, nhưng không nói gì với ai. Sáng hôm sau, trước 7 giờ sáng, trời còn mờ sương, tôi leo lên tàu quay máy như thường lệ…
Quay máy xong, tôi mở radio toan thử vô tuyến thì kinh hãi rụng rời khi nghe thiên hạ đang gọi nhau ầm lên trong tần số–nào là trực thăng, nào là khu trục, nào là L-19, la ơi ới như một cái chợ. Cứ như thường thì 7 giờ sáng là cái giờ mà các quan Không Quân ở vùng 2 chiến thuật rừng sâu núi thẳm này còn trùm chăn ngũ kỹ, chỉ có những thằng “lính thú miền xa” như tôi phải bay sớm mới mở vô tuyến…
Kinh nghiệm cho tôi biết như vậy là có một chỗ nào đó vừa bị đánh úp tối qua, và phải là một chỗ nào quan trọng lắm thiên hạ mới kéo nhau lên trời mà la lối um xùm như vậy. Mà chỗ nào đây, không lý lại là Pleiku?
Tôi thử vô tuyến xong, vào được tần số chiến trường của các quan, để nghe xem các quan đang đánh nhau ở chỗ nào mà ồn ào như thế. Bỗng tôi nghe rõ ràng giọng của đại úy Hưởng phi đoàn tôi nói chuyện với một quan khu trục A-37:
-Ông thấy cái bùng binh trước nhà thờ đó không? Có một chiếc T-54 của tụi nó đang bò tới. Chúng nó đi hai chiếc, một chiếc bị nướng rồi. Ông lấy trục Nam-Bắc đánh cho tôi chiếc tăng đó đi. Coi chừng mấy cây phòng không 12 ly 8 nó đặt ở cái sân thượng ngay bên cạnh nhà thờ…
Nghe tới đó thì tôi xém té xỉu ngay trên chiếc tàu bay của mình…
Cái nhà thờ và cái bùng binh phía trước là trung tâm của thành phố Ban Mê Thuột. Còn mấy cây phòng không là ở trên sân thượng của khách sạn Anh Đào, ngay bùng binh. Chúng tôi đã ăn nhậu và nhảy đầm mấy lần ở đây. Từ đây, đi thẳng lên hướng bắc một chút nữa trên con đường Thống Nhất là bộ chỉ huy tiểu khu Darlac, đi xa thêm nữa là bộ tư lệnh sư đoàn 23 bộ binh…
Như vậy là bọn khốn nạn đã tấn công Ban Mê Thuột, quê hương yêu dấu của tôi. Tôi đau đớn đến lặng người đi, tay chân run rẩy, không nói được một tiếng nào…
Những gì xảy ra sau đó, mọi người đã biết, tôi không muốn viết lại thêm để linh hồn mình lại rướm máu thêm một lần nữa…
Và cuối cùng thì, như đã nói, tôi chưa bao giờ trở về thăm lại được trường cũ để chào các frère, các thầy… Tôi cũng không bao giờ trở về Việt Nam để làm bất cứ chuyện gì vì tôi không chấp nhận chế độ CS bạo tàn vô nhân đạo, bọn khốn nạn đã đánh cướp và làm tan nát quê hương tôi. Chúng mày xâm lăng quê hương tao, tao thua chúng mày thì đành phải ôm hận lưu vong mà thôi, không bao giờ có chuyện trở về thăm lại quê hương để nhìn thấy mặt chúng mày. Nhục nhã và đau đớn lắm. Tôi có thể dối thiên hạ để bảo rằng tôi cần về Việt Nam để làm cái này, làm cái kia. Toàn là những chuyện đại sự vì gia đình, vì mồ mả tổ tiên, hoặc vì từ thiện chẳng hạn. Tôi có thể dối cả thiên hạ, nhưng tôi biết tôi không thể nào dối lòng mình được. Xưa nay, dù xấu dù tốt, trong vinh quang cũng như những lúc tủi nhục của cuộc đời, tôi chưa bao giờ dối được lòng mình.
Tôi còn chút ít lương tri và lòng tự trọng trong người các cụ ạ…
Và, như đã viết ở phần đầu, bằng Anh ngữ, “Tôi không hề muốn dĩ vãng sống dậy trong tôi, nhưng hình như, tôi cũng không thể nào sống thiếu nó.”