50 Năm Ngày Giỗ Vũ Hoàng Chương: Ngọn Lửa Ba Thế Hệ

Nguyên Yên

Các diễn giả và nghệ sĩ. Từ trái/trên: nhà văn Trịnh Y Thư, giá sư Trần Huy Bích, nghệ sĩ Kiều Loan, nhà thơ Đỗ Quý Toàn. Hàng giữa: ban hợp ca với ca sĩ Khánh Ly, Nguyễn Hoàng Hà (guitar) và Nathan Đặng, Vành Khuyên, Phương Hà, Lệ Thanh, Thúy Hằng, Thanh Tài, Vinh Tín và Chương Nguyễn. Hàng dưới từ trái: Jimmy Nhựt Hà, Bích Liên, Thúy Anh với Liên Tâm (đàn tranh) và Kim Sơn (sáo), nhà văn Đặng Thơ Thơ. (Ảnh: Nguyễn Lập Hậu)

Cuối tuần thứ ba của tháng Chín, giữa vô số chương trình sinh hoạt văn hóa nghệ thuật tại Little Sài Gòn, phòng sinh hoạt đài truyền hình SBTN chủ nhật chiều qua bừng sáng. Người ngồi xem chương trình gọi đó là ngọn “lửa thiêng”, thắp sáng hơn 100 khuôn mặt người Việt già-trẻ cùng ngồi bên nhau, tưởng niệm 50 Năm Ngày Mất của Thi Sĩ Vũ Hoàng Chương, ngôi sao bắc đẩu của nền thi ca Việt Nam thế kỷ XX, người thầy của các bậc thầy thi ca Việt. Chương trình do Việt Báo Foundation, Văn Học Press và SBTN đồng tổ chức.

Thiệp mời ghi một giờ chiều. Chương trình truyền hình trực tiếp dự trù bắt đầu lúc 1 giờ 30. Vậy mà mới quá trưa, “tài tử giai nhân” đã dập dìu tới, chẳng bao lâu khán phòng đã kín chỗ. Việt Báo vốn mang tiếng khó tính chuyện đúng giờ, chiều hôm nay phải “phá lệ”, mở đầu sớm hơn dự liệu.

Ngoài cửa, trước khi bước vào với thơ, khách dừng lại bên bàn sách. Cuốn Vũ Hoàng Chương – Ta Còn Để Lại Gì Không vừa từ nhà in về, giấy còn thơm mùi mực, do Văn Học Press xuất bản. Giáo sư Trần Huy Bích cùng các tác giả Trần Mạnh Toàn, Trần Ngọc Khôi, Nguyễn Ngọc Dung và Phạm Thị Lệ-Hương biên soạn, với một ước mong rất khiêm nhường: cuốn sách sẽ “hữu ích phần nào cho những nghiên cứu đầy đủ và thấu đáo hơn về sau.”

Bên cạnh là bộ thi ca mười cuốn do nhà xuất bản Hàng Thị thực hiện, gần như gom đủ một đời thơ.

Hình bàn sách: Quầy sách tại chương trình Năm Mươi Năm Ngày Giỗ Vũ Hoàng Chương. Thúy Hằng, Quyên Trần và Janine Trang Nguyễn. Ảnh: Thanh Huy.

Đúng 1 giờ 30 chiều, trong không khí lung linh của những áng thơ, thủ pháp và chân dung thi sĩ hiện trên những tấm phướn màn ảnh sân khấu, tiếng sáo bất chợt vẳng lên. Cả khán phòng chưa kịp định thần thì ca sĩ Khánh Ly bước lên.

“Lửa!
Lửa cháy ngất Tòa Sen!
Tám chín phương nhục thể
trần tâm hiện thành Thơ,

quỳ cả xuống.
Hai Vầng Sáng rưng rưng
Đông Tây nhoà lệ ngọc
Chắp tay đón một Mặt Trời
Mới Mọc,

Ánh Đạo Vàng phơi phới
đang bừng lên, dâng lên…

Ôi ngọn LỬA huyền vi…”

Khánh Ly và những câu thơ từ bài Lửa Từ Bi, Vũ Hoàng Chương viết năm 1963, cùng với ban hợp ca qua trích đoạn bài Trường Ca Lửa Thiêng của Phạm Thế Mỹ đã mở đầu cho chương trình tưởng niệm, vừa trang trọng, vừa ý nghĩa, giữa những tiếng “lửa bập bùng lên, lửa bập bùng cháy” to nhỏ khắp thính phòng.

Trong khoảnh khắc, người nghe không khỏi chạnh lòng nhớ đến hình ảnh một miền nam Việt Nam của những năm đầu thập niên 1960, những năm đầy biến động chính trị, những ngày ngọn lửa đấu tranh chính trị, tôn giáo bùng lên, ngọn lửa của “thơ cháy lên với lời kinh”. Lửa Thiêng từng được ban hợp ca Đại Học Vạn Hạnh trình diễn tại rạp Thống Nhất ở Sài Gòn năm 1964. Từ đó đến nay, biết bao thập niên đã trôi qua, ‘loài người’ vẫn không ngưng thắp lên lời cầu nguyện “tụng cho nhân loại hòa bình”.

MC Diệu Quyên và Ysa. 

Hai MC Diệu Quyên và Y-Sa bước ra, nhắc lại ý nghĩa của buổi họp mặt: năm mươi năm, đúng nửa thế kỷ, kể từ ngày thi sĩ Vũ Hoàng Chương qua đời.

Ông sinh ngày 14 tháng 5 năm 1915 tại Nam Định. Thuở nhỏ học chữ Hán tại nhà, sau học trường Albert Sarraut ở Hà Nội, đậu Tú tài năm 1937. Năm 1941, ông cùng Chu Ngọc và Nguyễn Bính lập Ban Kịch Hà Nội. Cũng trong thời gian ấy ông gặp Đinh Thục Oanh, chị ruột nhà thơ Đinh Hùng; hai người thành hôn năm 1944.

Năm 1954, Vũ Hoàng Chương vào Nam, sống tại Sài Gòn, tiếp tục làm thơ và dạy Quốc Văn tại Chu Văn An, Văn Lang. Năm 1959, tập Hoa Đăng đem về cho ông Giải Thưởng Văn Chương Toàn Quốc về Thơ. Từ 1964 đến 1968, ông giữ chức Chủ tịch Trung tâm Văn Bút Việt Nam, tham dự nhiều hội nghị văn chương quốc tế. Năm 1972, ông được tuyên dương về sự nghiệp văn chương, học thuật và mỹ thuật; cùng năm, Văn Bút Việt Nam dưới nhiệm kỳ Linh mục Thanh Lãng đề cử ông cho giải Nobel Văn Chương.

Phần tiểu sử được nhắc lại trong chương trình dừng lâu hơn ở những năm cuối đời. Sau ngày miền nam thất thủ 30 tháng Tư 1975, Vũ Hoàng Chương bị cộng sản bắt giam tại khám Chí Hòa. Đói khát, bệnh tật, chỉ năm ngày sau khi nhà cầm quyền cộng sản thả về, ông trút hơi thở cuối cùng vào ngày 6 tháng 9 năm 1976 tại Sài Gòn. Ông là một trong những văn nghệ sĩ miền nam đầu tiên bị chiến dịch tiêu diệt văn hóa sau 1975 của cộng sản tàn sát.

Về thơ Vũ Hoàng Chương, Diệu Quyên nói rằng một chương trình vài giờ không thể đi hết một đời thi ca. Có lẽ vì thế người kể chuyện thơ ông không thể là ai khác hơn một người đã từng sống trong chính khí hậu văn chương ấy, nhà thơ Đỗ Quý Toàn bước lên sân khấu.

Hơn năm mươi năm trước, ngay tại Sài Gòn những tháng đầu năm 1975, Đỗ Quý Toàn đã từng giới thiệu thơ Vũ Hoàng Chương. Chiều nay ông trở lại. Không giấy tờ. Không bài soạn sẵn. Chỉ có trí nhớ của một người đã sống đủ lâu với bạn bè, với lịch sử và thời cuộc.

Đỗ Quý Toàn kể lại chuyện làng văn ngày trước, về mối giao tình và hỗ trợ văn nghệ giữa nhà báo Chu Tử và Vũ Hoàng Chương. Chuyện tình bằng hữu. Chuyện một Vũ Hoàng Chương làm thơ say hay đến nghiêng ngửa trời đất mà chính nhà thơ lại chẳng phải người rượu chè; rồi chuyện Kinh Kha bên sông Dịch, qua tài thơ của Vũ Hoàng Chương, hào hùng khí phách đến dường nào. Trích đọc và phân tích thơ của Vũ Hoàng Chương, ông không quên nhắc đến sự quan trọng của việc gìn giữ ngôn ngữ và sự cần thiết của việc hỗ trợ nhà thơ.

Nhưng lý thú nhất chính là lúc Đỗ Quý Toàn trở lại sân khấu với bài Vịnh Tranh Gà Lợn rất “thời sự”. Một khán giả theo dõi chương trình từ xa nhắn vào: “Mình vui thích ngắm nhà thơ Đỗ Quý Toàn cầm phone tay giải thích bài thơ Tranh con gà, con lợn. Sao trông anh hóm hỉnh, dí dỏm, tinh tường quá!”

Một khán giả ngay tại hội trường đã bình: “Tôi thích nhất đoạn diễn đọc bài Vịnh Tranh Gà Lợn của Đỗ Quý Toàn. Nghe mà nghĩ đến tình hình nước Mỹ hiện tại, thật không thể “biết lòng ai đỏ, mắt ai xanh…”

Thơ hay đôi khi có cái ngang ngạnh ấy. Nó không chịu nằm yên trong năm tháng của nó.

Một nhân vật khác, cũng mang theo cả một phần lịch sử văn nghệ, xuất hiện trên sân khấu tiếp nối: nghệ sĩ Kiều Loan, ái nữ của nhà thơ Hoàng Cầm và nữ kịch sĩ Tuyết Khanh, người từng được thi sĩ dành tặng nhiều vần thơ diễm tuyệt.

Kiều Loan học ngâm thơ từ thân mẫu, rồi được chính Vũ Hoàng Chương chỉ dẫn. Chiều nay bà diễn ngâm Bài Ca Sông Dịch.

Giọng ngâm của bà trầm bổng quyện với tiếng đàn tranh của hai em Liên Tâm và Kim Sơn, dựng lại bức tranh bi hùng bên sông Dịch, nơi Kinh Kha một mình lên đường, mang theo khí phách của người tráng sĩ biết trước chuyến đi không có ngày về.

Nhưng xúc động nhất có lẽ không chỉ nằm trong câu chuyện Kinh Kha. Nó nằm ngay trên sân khấu, nơi hội tụ ba thế hệ: lời thơ Vũ Hoàng Chương; tiếng ngâm Kiều Loan, người đã từng được ông trực tiếp chỉ dạy; và tiếng đàn tiếng sáo của Liên Tâm, Kim Sơn, lớp con cháu rất trẻ hôm nay. Một bài thơ viết từ hơn nửa thế kỷ trước, qua ba thế hệ, vẫn còn nguyên tiếng ngân.

Quan cảnh khán phòng.

Tiếng vỗ tay vang lên không ngớt khi giáo sư Trần Huy Bích được mời lên sân khấu. Ông đã ngoài chín mươi. Nhưng bảy mươi năm trước, niên khóa 1955-1956, ông còn là một cậu học trò ngồi trong lớp Quốc Văn của thầy Vũ Hoàng Chương. Là nhà học giả nghiên cứu và biên soạn văn chương, người học trò ấy nay đứng trên sân khấu, trình bày lý do cần có Ta Còn Để Lại Gì Không, về nhu cầu gìn giữ một di sản, về ý nghĩa của một ngày tưởng niệm dành cho người thi sĩ.

Rồi ông cùng Diệu Quyên mời mọi người đứng lên. Một phút im lặng. Không tiếng đàn. Không tiếng sáo. Giọng Y-Sa vang lên:

“Ta còn để lại gì không?
Kìa non đá lở, này sông cát bồi…”

Hai câu thơ, trong buổi chiều hôm nay, không còn chỉ là một câu hỏi của riêng Vũ Hoàng Chương. Nó như hỏi thay cả một thế hệ, cả một giai đoạn lịch sử.

Trịnh Y Thư về Vũ Hoàng Chương, một Ngọn Lửa Thiêng.

Nhà văn Trịnh Y Thư, trong phần nói chuyện phần sau của chương trình đã đưa câu hỏi ấy đi xa hơn. Theo ông, cái chết của Vũ Hoàng Chương “không hẳn chỉ là bi kịch của một thi sĩ”, mà còn là “bi kịch của một giai đoạn văn hóa Việt Nam bị đột ngột chém đứt ngang.”

Nhớ Vũ Hoàng Chương, vì vậy, cũng là nhớ tới những văn nghệ sĩ miền Nam đã đi qua lao tù cộng sản sau 1975, trong đó có những người không bao giờ trở về: Hồ Hữu Tường, Nguyễn Mạnh Côn, Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Trần Việt Sơn, Dương Hùng Cường…

Một nền văn hóa không chỉ mất đi khi sách bị thất lạc. Nó mất khi người viết không còn được viết, người đọc không còn được đọc, và một thế hệ nhà văn bị bức tử vĩnh viễn không còn dịp truyền lại cho thế hệ sau những câu chuyện chưa kể. Có lẽ vì vậy mà hình ảnh những người trẻ ngâm thơ, cầm đàn trên sân khấu chiều nay trở nên có ý nghĩa hơn hết.

Chương trình trở lại với tác phẩm Hoàng Hạc Lâu, bài thơ Thôi Hiệu mà Vũ Hoàng Chương đã chuyển dịch, rồi từ bản dịch ấy nhạc sĩ Cung Tiến xúc động phổ thành ca khúc sau khi ông đã rời quê hương.

Tiếng hát đã dạn dày hoà cùng tiếng đàn u hoài. Một bài thơ đời Đường, đi qua Vũ Hoàng Chương, đi qua Cung Tiến, cất lên với tiếng hát Bích Liên bên tiếng dương cầm của Đỗ Bằng Lăng, vào một buổi chiều ở Little Sài Gòn — một hành trình thi nhạc dài hơn một đời người.

Bích Liên hát Hoàng Hạc Lâu, nhạc Cung Tiến, thơ Thôi Hiệu, bản dịch của
Vũ Hoàng Chương. Dương cầm: Đỗ Bằng Lăng.

Ba tiết mục cuối trở lại hoàn toàn với phần đọc/ngâm thơ Vũ Hoàng Chương: Say Đi Em qua giọng đọc Đặng Thơ Thơ, Chờ Đợi Hoài Công qua tiếng ngâm Thúy Anh, và Chia Tay qua giọng Jimmy Nhựt Hà.

Mỗi người trong khán phòng hẳn có một tiết mục yêu thích riêng.

Với người viết những dòng này, Say Đi Em là một khoảnh khắc đặc biệt người thơ hồn thơ nhập vào nhau. Có lúc không còn biết người đang đọc thơ, hay chính bài thơ đang mượn người để tự cất tiếng.

Thúy Anh được nhiều khán giả xem từ xa gửi lời khen tới cô “ả đào” có lối diễn ngâm xuất thần.

Còn Jimmy Nhựt Hà, một khuôn mặt rất trẻ, lại đem đến cho tiết mục cuối một điểm son khác. Nhìn một người trẻ đứng trước khán phòng đọc Vũ Hoàng Chương người xem hiểu rằng “tưởng niệm” không nhất thiết chỉ nhìn về quá khứ. Đó còn là cách một thế hệ trao lại tiếng nói của mình cho thế hệ kế tiếp.

Nhà văn Đặng Thơ Thơ; Thúy Anh với Liên Tâm (đàn tranh),
Jimmy Nhựt Hà với Kim Sơn (sáo).

Chương trình chấm dứt mà nhiều người vẫn chưa muốn rời ghế. Một khán giả lớn tuổi nói: “Đã lâu rồi, Little Sài Gòn không có một chương trình văn học thi ca thuần túy và giá trị như hôm nay.”

Một thân hữu của Việt Báo, anh Nguyễn Bá Khanh, về tới nhà rồi mà dư âm buổi chiều còn mãi vấn vương. Anh viết:

“…Tiếng đàn tranh, tiếng sáo, tiếng trống và nhất là tiếng thơ từ những giọng ngâm đã theo tôi mãi trên đường về nhà. Đâu phải lúc nào chúng ta cũng có được một buổi chiều như thế!”

Nguyên Yên

(Nguồn: Việt Báo)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *