Tuệ Sỹ, chín tuổi xuất gia tại chùa Trang Nghiêm ở Pakse. Lúc ngài được mười hai tuổi, vị trụ trì nhận ra ngài có một thiên tư đặc biệt, nên khuyên gia đình đưa ngài về Việt Nam để có điều kiện thuận lợi hơn trong việc tu học.
Ngài lớn lên giữa khung cảnh học thuật của Phật giáo miền Nam trước 1975, trở thành giáo sư trẻ nhứt của Viện Đại Học Vạn Hạnh. Tuệ Sỹ thông thạo Hán văn, Phạn văn, Tạng văn, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nhật, đọc hiểu tiếng Đức.
Ngài để lại một khối trước tác đồ sộ về triết học Phật giáo như Triết Học Về Tánh Không, Thắng Man Giảng Luận, bản dịch A-tỳ-đạt-ma Câu-xá.
Không chỉ thế, Tuệ Sỹ còn là một thi sĩ, và có lẽ đây mới là nơi ẩn giấu con người thật của ngài, con người không thể diễn đạt hết bằng luận lý và chú giải kinh điển. Thơ ngài viết không nhiều, nhưng bài nào cũng hồn vía, bài nào cũng hàm ý thâm sâu, bài nào cũng thi vị, được đúc kết từ một đời tu khổ hạnh, từ một đời từng chứng kiến quê hương đổ vỡ.
Giấc Mơ Trường Sơn, Ngục Trung Mị Ngữ là hai tập thơ làm nên tên tuổi của nhà thơ, được viết rải rác qua những năm tháng lưu lạc trong núi rừng, trong xà lim biệt giam.
Tống Biệt Hành ra đời năm 1977 tại Nha Trang, ở một khúc quanh đặc biệt của đời ngài. Sài Gòn đã sụp đổ hai năm trước đó. Viện Đại Học Vạn Hạnh, nơi ngài từng đứng trên bục giảng, cũng đã không còn. Mùa hè 1976, người bạn đồng đạo thân thiết của ngài là Thích Phước An đã đưa ngài rời Nha Trang lên Vạn Giã. Sáu mươi cây số đường bằng phẳng nhưng mang cảm giác của một chuyến đi hiểm nghèo nhất đời.
Ngài đi tìm rừng để làm rẫy, đi vào một đời sống hoàn toàn khác với đời sống của một giáo sư uyên bác từng đứng giữa giảng đường trí thức. Đây chính là bối cảnh ra đời của bài thơ, một trí thức Phật giáo, một dịch giả kinh điển uyên thâm bậc nhứt của thời kỳ bấy giờ, bỗng chốc phải bước vào cõi vô định, không biết ngày mai sẽ dẫn mình về đâu.
Chỉ một năm sau, đầu năm 1978, ngài đã bị bắt đưa đi học tập cải tạo hơn ba năm. Đến ngày 01.04.1984, ngài lại bị bắt cùng giáo sư Lê Mạnh Thát. Năm 1988, cả hai bị tuyên án tử hình, sau đó giảm xuống chung thân rồi được thả năm 1998.
Nhưng từ trước đó, tức năm 1977, khi những biến cố ấy còn ở phía trước, thì Tống Biệt Hành đã được Tuệ Sỹ viết ra như một linh cảm, một lời tiên tri không chủ ý về những cuộc ra đi còn dài hơn, đau đớn hơn, đang chờ đợi ngài.
Bài thơ của ngài đã dùng lại nguyên vẹn nhan đề Tống Biệt Hành của Thâm Tâm. Thật khó xem đây chỉ là một sự trùng hợp vô tình; nhan đề ấy gợi ra một cuộc đối thoại có ý thức giữa hai thế hệ, hai tâm cảnh, hai cách tiễn biệt, tiễn biệt chính mình và tiễn biệt một thời đại.
******
II. BÀI THƠ TỐNG BIỆT HÀNH
Hành, tức hành thể, là một thể thơ có nguồn gốc từ Trung Hoa, đặc biệt phát triển mạnh từ thời Đường.
Hành, có nghĩa gốc là đi, lưu hành, chuyển động, nhưng trong thơ, nó trở thành tên gọi của một lối thơ tự do hơn về câu chữ và nhịp điệu, thường dùng để kể chuyện, bộc lộ cảm xúc mạnh hoặc miêu tả những cảnh tượng có tính biến động.
Nếu thất ngôn bát cú rất chặt chẽ về số câu, số chữ, niêm, luật bằng trắc, vần, phép đối, thì hành vẻ như phóng túng hơn. Hành có thể viết theo lối năm chữ, bảy chữ, thậm chí, không cố định. Vần có thể tùy nghi thay đổi.
Khi đọc một bài hành, ta thường có cảm giác dòng thơ đang chuyển động, lúc dồn dập, lúc chậm lại, lúc như lời kể, lúc như tiếng than, tiếng gọi.
Hành thường gần với nhạc và lời hát hơn thơ luật. Hành không có nghĩa là kể chuyện. Hành gợi đến một thứ thơ dài hơi, tự do, giàu tự sự, giàu âm hưởng, rất thích hợp với những chủ đề như thân phận, thời thế, chiến tranh, tình yêu, nỗi lưu lạc, những cuộc gặp gỡ và những biến thiên của đời người.
Tống Biệt Hành của Tuệ Sỹ, cũng được viết theo lối Hành, trên nền thất ngôn cổ phong. Người viết được phép buông lỏng niêm luật để chở một tâm sự lớn, nhưng linh hồn của nó lại thuần Việt, thuần chất Tuệ Sỹ – khắc khổ, tịch liêu, và ăm ắp một nỗi bi tráng ngút trời.
Đọc kỹ bài thơ, sẽ thấy đây không phải là một cuộc chia tay giữa hai người theo nghĩa thông thường, chẳng có ai đứng lại vẫy tay mà cũng chẳng có ai quay lưng, ngoảnh mặt. Cuộc tống biệt trong thơ Tuệ Sỹ diễn ra trong một không gian nội tâm, nơi kẻ ở và người đi chỉ là một, và cái được tiễn đưa không phải một hình hài mà là cả một quãng thời gian, một kiếp sống.
TỐNG BIỆT HÀNH
Một bước đường thôi nhưng núi cao Trời ơi mây trắng đọng phương nào Đò ngang neo bến đầy sương sớm Cạn hết ân tình, nước lạnh sao?
Một bước đường xa, xa biển khơi Mấy trùng sương mỏng nhuộm tơ trời Thuyền chưa ra bến bình minh đỏ Nhưng mấy nghìn năm tống biệt rồi
Cho hết đêm hè trông bóng ma Tàn thu khói mộng trắng ngân hà Trời không ngưng gió chờ sương đọng Nhưng mấy nghìn sau ố nhạt nhòa
Cho hết mùa thu biệt lữ hành Rừng thu mưa máu dạt lều tranh Ta so phấn nhụy trên màu úa Trên phím dương cầm, hay máu xanh. (Nha Trang 1977)
******
II.1. CẠN HẾT ÂN TÌNH, NƯỚC LẠNH SAO
Một bước đường thôi nhưng núi cao Trời ơi mây trắng đọng phương nào Đò ngang neo bến đầy sương sớm Cạn hết ân tình, nước lạnh sao?
Một bước đường thôi – chỉ một bước, một động tác nhỏ của con người, nhưng lập tức ngay sau đó, đã trở thành “núi cao”. Khoảng cách vật lý được phóng đại để trở thành khoảng cách hiện sinh, khoảng cách thân phận của con người.
Bước chân rời Nha Trang lên rừng chỉ dài sáu mươi cây số, nhưng với Tuệ Sỹ, nó tựa như một ngọn núi mà tác giả phải trèo qua bằng cả sinh mệnh.
Trời ơi – câu cảm thán, bày tỏ sự hoang mang trước ngã rẽ của số phận. Mây trắng – biểu tượng quen thuộc của thơ cổ điển Đông phương cho sự vô định, cho quê nhà xa cách, giờ không biết “đọng phương nào”. Toàn câu có nghĩa là, cả bầu trời cũng mất phương hướng cùng con người.
Hai câu cuối đưa ra hình ảnh con đò neo bến trong sương sớm phủ đầy. Nhưng ngay sau vẻ tĩnh lặng ấy là câu hỏi làm lạnh lẽo cả người nghe – cạn hết ân tình, nước lạnh sao?
Dòng nước không trả lời, nhưng chính cái lạnh của nước đã làm câu hỏi ấy trở nên nhức buốt, phải chăng ân tình giữa người với người, giữa mình với quê hương, đã cạn khô đến mức chỉ còn lại mỗi sự lạnh lẽo của dòng nước trôi thôi sao?
******
II.2. NHƯNG MẤY NGHÌN NĂM TỐNG BIỆT RỒI
Một bước đường xa, xa biển khơi Mấy trùng sương mỏng nhuộm tơ trời Thuyền chưa ra bến bình minh đỏ Nhưng mấy nghìn năm tống biệt rồi
Núi và biển, hai cực đối lập của không gian, đã được tác giả huy động, chỉ để diễn tả một bước chân – mấy trùng sương mỏng nhuộm tơ trời.
Đây là một câu thơ đẹp theo lối cổ điển mà ta có thể diễn ra như sau, sương mỏng như tơ nhuộm cả bầu trời. Nét bút vì vậy, gần với tranh thủy mặc hơn là thơ hiện đại.
Và hai câu tiếp theo, chính là hai câu thơ đáng được nhắc tới nhứt trong bài thơ này – Thuyền chưa ra bến bình minh đỏ / Nhưng mấy nghìn năm tống biệt rồi.
Đây là chỗ mà Tuệ Sỹ đã phủ nhận hoàn toàn logic thời gian tuyến tính. Con thuyền, về mặt vật lý còn chưa rời bến, bình minh còn đang đỏ rực phía trước và cuộc chia ly thì còn chưa xảy ra theo nghĩa đen. Vậy mà trong tâm thức của người viết, cuộc tống biệt đã kéo dài “mấy nghìn năm” ấy, đã xảy ra rồi, đang tiếp tục xảy ra, và tương lai cũng sẽ như thế.
Cuộc tống biệt, đã vượt ra ngoài khuôn khổ của một biến cố đơn lẻ, để trở thành phạm trù vĩnh cửu của kiếp người. Ở đây, người đọc có thể nhận ra một âm vang của tư tưởng vô thường và tính không của Phật học – sự chia ly không phải một điểm trên trục thời gian, mà là bản chất thường trực của mọi hiện hữu.
******
II.3. NHƯNG MẤY NGHÌN SAU Ố NHẠT NHÒA
Cho hết đêm hè trông bóng ma Tàn thu khói mộng trắng ngân hà Trời không ngưng gió chờ sương đọng Nhưng mấy nghìn sau ố nhạt nhòa
“Bóng ma” được tác giả sử dụng để ám chỉ cho những gì đã mất. Bóng ma, là quá khứ, là những gương mặt, là những đời sống đã không còn. Bóng ma, là những bóng dáng chập chờn trong đêm hè dằng dặc chờ đợi.
Tàn thu khói mộng trắng ngân hà – là một câu thơ đậm chất hội họa và gần như siêu thực, khói mộng trắng lan cả một dải ngân hà. Dải ngân hà, biên giới giữa cõi mộng và cõi thực, giữa cái nhỏ bé của một kiếp người và cái mênh mông của vũ trụ, nay bị khói mộng trắng của buổi tàn thu làm xóa nhòa.
Hai câu cuối được tác giả tiếp tục khai thác thủ pháp nghịch lý thời gian đã dùng ở khổ thơ thứ hai – Trời không ngưng gió chờ sương đọng / Nhưng mấy nghìn sau ố nhạt nhòa.
Trời đất vẫn vận hành như thường, gió vẫn thổi, sương vẫn đọng, tự nhiên không hề dừng lại để chờ đợi nỗi đau của con người. Nhưng đến “mấy nghìn sau”, thì mọi thứ đã trở nên “ố nhạt nhòa”, đã phai mờ, đã trở thành vết tích cũ kỹ.
Sự tàn nhẫn của vũ trụ, của thời gian, của ký ức, đã được Tuệ Sỹ diễn đạt bằng một cụm từ so sánh hết sức dịu dàng nhưng đầy đau xót – ố nhạt nhòa.
******
II.4. TRÊN PHÍM DƯƠNG CẦM HAY MÁU XANH
Cho hết mùa thu biệt lữ hành Rừng thu mưa máu dạt lều tranh Ta so phấn nhụy trên màu úa Trên phím dương cầm, hay máu xanh.
Trong mười sáu câu của cả toàn bài, thì – rừng thu mưa máu dạt lều tranh – với tôi, là câu thơ khốc liệt nhứt. Mưa không còn là mưa, mà là máu, đổ xuống mái lều tranh đơn sơ, gợi đến quãng đời làm rẫy giữa rừng của tác giả những năm sau 1975.
Và hai câu thơ cuối cùng của khổ thơ này, mới thực là thơ mang hồn vía của Tuệ Sỹ rõ rệt – Ta so phấn nhụy trên màu úa / Trên phím dương cầm, hay máu xanh.
“Phấn nhụy”, biểu tượng của cái đẹp mong manh, của sự sinh sản, của sự sống, đã được tác giả đem ra so sánh và đo lường trên nền màu úa tàn.
Phím dương cầm, một âm thanh đến từ một thế giới khác, một thế giới của cái đẹp và thanh bình, nay được đặt cạnh màu úa và máu xanh.
Câu hỏi cuối cùng đã không được tác giả sử dụng dấu chấm hỏi nhưng nó lại mang đầy ý nghĩa của một nghi vấn hiện sinh. Đó là máu hay là âm nhạc? Là khổ đau, hay là cái đẹp được chưng cất từ khổ đau?
Tuệ Sỹ không trả lời. Ngài để hai khả năng ấy chồng lên nhau, bất phân, như chính đời ngài vậy – một cuộc đời vừa mang máu của khổ nạn vừa mang âm nhạc của trí tuệ và thơ ca.
Bốn câu thơ là hành trình từ cụ thể đến siêu hình, từ một bước chân đến một kiếp người, từ một cuộc chia tay riêng tư đến một khúc bi ca cho cả một thế hệ trí thức Phật giáo bị cuốn vào cơn lốc lịch sử.
******
III. TỪ TỐNG BIỆT HÀNH CỦA THÂM TÂM ĐẾN TỐNG BIỆT HÀNH CỦA TUỆ SỸ
Đọc Tống Biệt Hành của Tuệ Sỹ, tôi, nhứt định rồi, không thể nào không nghĩ đến bài thơ cùng nhan đề của Thâm Tâm, viết năm 1940, một trong những bài thơ được xem là tuyệt tác của phong trào Thơ Mới, từng được Hoài Thanh Hoài Chân đưa vào Thi Nhân Việt Nam.
Cùng mượn thể Hành cổ điển, cùng lấy đề tài ly biệt, nhưng hai bài thơ lại đại diện cho hai thế giới quan khác nhau rất xa, và chính sự khác nhau ấy làm nổi bật lên tài năng riêng của mỗi thi nhân.
Tống Biệt Hành của Thâm Tâm là một cuộc chia tay có nhân vật, có kịch tính, có lời thoại. Người đưa tiễn đứng bên bờ, dù “không đưa qua sông” mà vẫn nghe “tiếng sóng ở trong lòng”.
Hai câu thơ mở đầu nổi tiếng này – Đưa người, ta không đưa qua sông / Sao có tiếng sóng ở trong lòng – đã trở thành một trong những câu thơ được trích dẫn nhiều nhất của Thơ Mới.
Người ra đi được gọi bằng danh xưng đầy trân trọng – ly khách. “Ly khách” mang dáng dấp một tráng sĩ thời cổ, quyết chí lên đường vì “chí nhớn”, và sẽ không trở về, nếu chỉ có “bàn tay không”.
Tống Biệt Hành của Thâm Tâm, có mẹ già, có chị, có em thơ, dòng lệ sót, có cả một cuộc đấu tranh nội tâm giữa tình nhà và chí lớn, được giải quyết bằng điệp ngữ “thà coi như” đầy khẳng khái – Mẹ thà coi như chiếc lá bay / Chị thà coi như là hạt bụi / Em thà coi như hơi rượu say.
Tống Biệt Hành của Thâm Tâm là một bi kịch có cấu trúc, có nhân vật, có xung đột và có sự chọn lựa dứt khoát nên gần với một vở kịch thơ thu nhỏ. Cái hay của Thâm Tâm nằm ở chính khả năng nén một câu chuyện, một số phận, một thời đại đang chuyển mình vào khuôn khổ chật hẹp của một bài Hành, bằng giọng thơ, mà theo nhận xét của giới nghiên cứu, vừa cứng cỏi rắn rỏi vừa phảng phất hơi cổ, nên đã tạo được âm hưởng bi tráng đặc trưng cho tâm thế của thanh niên trí thức Việt Nam trước Cách Mạng Tháng Tám, đó là khao khát dấn thân, xem lý tưởng lớn hơn đời sống cá nhân, sẵn sàng hy sinh những ràng buộc máu thịt thiêng liêng nhất.
Tống Biệt Hành của Tuệ Sỹ đi theo một hướng gần như ngược lại – không có ly khách, không có người đưa tiễn được nhân cách hóa thành hai nhân vật đối thoại. Chủ thể trữ tình và đối tượng trữ tình gần như hòa làm một, “ta” trong bài thơ vừa là người ở lại vừa là người ra đi, vừa là kẻ chứng kiến vừa là kẻ bị cuốn vào cuộc ra đi ấy.
Tống Biệt Hành của Tuệ Sỹ không có mẹ già, không có chị, không có em, không có một quan hệ huyết thống nào được nêu tên, thay vào đó là mây trắng, là núi, là biển, là sương, là ngân hà, là mưa máu, có nghĩa là, toàn bộ vũ trụ tự nhiên được huy động để làm nền cho một cuộc ra đi không có đối tượng cụ thể.
Nếu Thâm Tâm giải quyết xung đột bằng một lựa chọn dứt khoát và hùng tráng thì Tuệ Sỹ, ngài không hề giải quyết gì cả. Tác giả chỉ kết thúc bài thơ bằng một câu hỏi bỏ lửng, phải so sánh sự sống bằng màu úa, bằng phím dương cầm, hay bằng máu xanh đây?
Câu hỏi bỏ lửng ấy là dấu ấn của một tâm thức thiền học. Thực tại của đời sống, đã không được cố định hay đóng khung thành một câu trả lời, mà ngài để nó mở, để nó là một công án còn treo lơ lửng trong tâm người đọc.
Về mặt thời gian, sự khác biệt giữa hai bài Tống Biệt Hành còn rõ hơn nữa.
Thâm Tâm thì viết về một buổi chiều cụ thể, một cuộc tiễn đưa cụ thể, dù “bóng chiều không thắm không vàng vọt”, thì vẫn là một buổi chiều có thể xác định được, đây là thời gian của lịch sử, thời gian của biến cố.
Còn Tuệ Sỹ thì bẻ gãy hoàn toàn trục thời gian tuyến tính, “thuyền chưa ra bến” nhưng “mấy nghìn năm tống biệt rồi”. Đây chính là thời gian của cõi tâm, thời gian vô thỉ vô chung của tư tưởng Phật giáo, nơi một khoảnh khắc có thể chứa đựng cả thiên thu và thiên thu có thể thu gọn vào trong một khoảnh khắc.
Tống Biệt Hành của Thâm Tâm là tiếng nói của một thế hệ thanh niên Việt Nam những năm cuối thập niên 1930, những năm của những biến động lịch sử lớn lao, và họ mang trong mình khát vọng được hành động, khát vọng được dấn thân, dù phải trả giá bằng chính hạnh phúc riêng tư.
Tống Biệt Hành của Thâm Tâm, là bài ca của tuổi trẻ chọn con đường, của ý chí đối diện với tương lai bằng tư thế ngẩng cao đầu.
Tống Biệt Hành của Tuệ Sỹ, lại là tiếng nói của một trí thức đã đi qua biến động, đang đứng giữa đổ nát của một thế giới vừa sụp đổ, không còn khát vọng hành động theo nghĩa xông pha, mà chỉ còn nỗi cô đơn siêu hình của kẻ phải chấp nhận số phận, phải học cách sống, và sống đẹp, giữa cảnh “mưa máu”.
Tống Biệt Hành của Thâm Tâm, hướng về hành động và tương lai. Tống Biệt Hành của Tuệ Sỹ, hướng về chiêm nghiệm và cõi vô thường.
Cả hai Tống Biệt Hành ấy đều xứng đáng ở vị trí chót vót đỉnh của thể Hành trong thơ Việt Nam hiện đại. Một bên là tiếng kèn xung trận của tuổi trẻ thời loạn. Một bên là khúc độc thoại của một tâm hồn đã thấm thía tận cùng lẽ vô thường mà vẫn không ngừng đi tìm cái đẹp giữa đổ vỡ.
******
IV. TA SO PHẤN NHỤY TRÊN MÀU ÚA
Rất ít, phải nói là rất ít nhân vật trong đời sống văn học Phật giáo Việt Nam, nhận được sự ngưỡng mộ đồng loạt từ nhiều bậc kỳ tài dị biệt, như Tuệ Sỹ.
Bùi Giáng, thi sĩ lừng danh, người được xem là kỳ nhân bậc nhứt của thơ ca miền Nam, trong Đi Vào Cõi Thơ, đã từng viết về ngài bằng một giọng vừa kính cẩn vừa sửng sốt – Tuệ Sỹ là một vị sư viết văn nghiêm túc, sở học Phật của ông quảng bác khôn cùng, nhưng nhìn vẻ khắc khổ bên ngoài, không ai ngờ rằng ẩn sâu trong đó là một nguồn thơ thâm viễn, u uất đến vậy.
Bùi Giáng vốn là người phóng túng, ít khi chịu khuất phục trước bất kỳ danh tiếng nào. Vậy mà trước Tuệ Sỹ, ông đã phải hạ giọng cợt giỡn, bông đùa xuống để chuyển sang giọng thành kính. Điều này, tự nó đã là một chứng nhận có giá trị hơn mọi lời tán tụng thông thường.
Phạm Công Thiện, triết gia, thi sĩ, một trong những bộ óc kỳ dị và uyên bác vào bậc nhứt, nhì của thế hệ trí thức Phật giáo Vạn Hạnh, cũng phải gọi Tuệ Sỹ, cùng với giáo sư Lê Mạnh Thát, là hai bậc thiền sư lỗi lạc nhứt, thông tuệ nhứt, uyên bác nhứt và trong sạch nhứt của Việt Nam đương đại.
Riêng về thơ Tuệ Sỹ, Phạm Công Thiện có một nhận định đáng suy ngẫm như sau – bàn luận thơ ông hay hay dở là chuyện lố bịch, bởi thơ ấy đáng để người đọc trở lại nhiều lần, để suy nghĩ miên man hoặc cảm nhận tùy hứng, như một dòng suối không cạn.
Còn giáo sư Lê Mạnh Thát, một học giả, sử gia, thiền sư nổi tiếng của Việt Nam, thì gắn bó với Tuệ Sỹ từ thuở thiếu thời. Ngài từng cùng giảng dạy, cùng nghiên cứu, cùng chia sẻ một chí hướng phục hưng Phật học Việt Nam, cùng bị bắt năm 1984, cùng đứng trước vành móng ngựa, cùng nhận án tử hình năm 1988. Nói một cách khác đi, Lê Mạnh Thát và Tuệ Sỹ, chính là hai nửa của cùng một thế hệ trí thức Phật giáo, bị thời cuộc vùi dập nhưng không khuất phục.
Tống Biệt Hành của Tuệ Sỹ, mang một tầm vóc vượt ra ngoài khuôn khổ của một bài thơ tiễn biệt thông thường. Bởi vì, bài thơ ấy đã được viết bởi một người, vừa là nhà Phật học uyên thâm bậc nhứt, vừa là một thi sĩ mang trong mình một nguồn thơ u uất tự nhiên mà không cần phải cố ý trau chuốt.
Bài thơ không nhắc đến “không”, đến “tánh không” hay những thuật ngữ Phật học nhưng ở cấu trúc tư duy thì có. Đó chính là sự phá vỡ trục thời gian tuyến tính (thuyền chưa ra bến nhưng đã tống biệt mấy nghìn năm), sự xóa nhòa ranh giới giữa chủ thể và khách thể (ta là ai trong cuộc chia ly này, người đi hay người ở?), sự chấp nhận vô thường không than vãn (gió không ngừng, sương vẫn đọng, mọi thứ rồi sẽ ố nhạt nhòa).
Đọc từ nền Phật học, ta có thể nghe thấy trong đó âm vang của vô thường và một cảm thức về cái tôi không còn đứng yên trong một vị trí cố định. Tinh thần ấy, không cần phải thuyết giảng mà dào dạt tuôn ra tự nhiên, từ một tâm hồn đã sống trọn vẹn với những tư tưởng ấy, đến mức chúng trở thành hơi thở, thành nhịp điệu của câu thơ.
Tống Biệt Hành của Tuệ Sỹ, hoàn toàn có thể đặt cạnh thơ ca các thiền sư đời Lý Trần, những vị vừa là bậc giác ngộ vừa là thi nhân, từng để lại những bài kệ thị tịch mang đầy chất thơ giữa lằn ranh sinh tử.
Nhưng khác với các bài kệ ấy, thường được viết ra như một tuyên ngôn an nhiên trước cái chết, Tống Biệt Hành của Tuệ Sỹ, mang một sắc thái trần thế hơn. Vì còn nguyên vẹn tiếng kêu “trời ơi”, nghĩa là, vẫn còn đau, vẫn còn hỏi, vẫn còn phân vân – là âm nhạc hay là máu?
Chính sự khổ đau ấy, mới khiến Tống Biệt Hành của Tuệ Sỹ, không chỉ là tác phẩm của một tâm thức đã giác ngộ hoàn toàn mà còn là chứng tích của một con người đang giữa lòng khổ nạn, và vì thế, bài thơ trở nên gần gũi hơn, chân thực hơn với người đọc bình thường.
Tống Biệt Hành của Tuệ Sỹ không nói về một cuộc chia ly cụ thể, mà nói về bản chất chia ly của kiếp người. Mỗi bước chân ta đi, dù chỉ một bước thôi, cũng đã mang trong nó dáng dấp của muôn nghìn cuộc từ biệt – từ biệt quá khứ, từ biệt những gì đã mất, từ biệt chính mình của ngày hôm qua để bước sang mình khác của ngày mai.
Từ những ngày tháng bi thương nhứt của đời mình, bỏ phố lên rừng, giữa cảnh nước nhà thay đổi đến đảo điên, ngài đã viết lên chân lý phổ quát về vô thường, mà bất cứ ai, ở bất cứ thời đại nào, cũng có thể nhận ra chính mình trong đó.
Tài hoa của Tuệ Sỹ, là đây. Ngài đã đem một nỗi đau rất riêng, rất cụ thể, hòa tan vào những hình ảnh vũ trụ lớn lao, núi, biển, sương, ngân hà, để nỗi đau cá nhân không còn là nỗi đau riêng lẻ nữa, mà trở thành một khúc bi ca chung cho tất cả những ai từng phải bước một bước chân định mệnh vào cõi vô định.
Ngài đã làm được điều mà không nhiều thi nhân làm được, viết về khổ đau mà không rơi vào bi lụy, viết về Thiền mà không rơi vào thuyết giáo, và giữa “rừng thu mưa máu”, vẫn còn đủ sức đem phấn nhụy ra so trên màu úa, vẫn còn nghe ra tiếng đàn dương cầm trong chính dòng máu chảy của đời mình.
Tống Biệt Hành của Tuệ Sỹ là tiếng nói của một bậc trí giả trong hành trình đi tìm cái đẹp giữa ngổn ngang thống khổ.
Tống Biệt Hành của Tuệ Sỹ là bài thơ tống biệt khổ đau nhứt mà cũng đẹp nhứt của thơ ca Việt Nam hiện đại.